Nguyễn Xuân Phúc theo các đồng minh Phạm Bình Minh và Vũ Đức Đam về vườn
Dù bằng chứng liên kết Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc với các âm mưu tham nhũng liên quan đến Covid-19 do các quan chức chính phủ Việt Nam dàn dựng khá mong manh, nhưng nó đã cung cấp cho kẻ thù của ông cách giải thích thuận tiện cho việc từ chức được cho là tự nguyện của ông vào ngày 17 tháng 1.
Trong thông cáo đưa ra sau phiên họp bất thường của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, không có dấu hiệu nào cho thấy, ông Phúc hay hai tuần trước đó là hai phó thủ tướng được đánh giá cao, đã bị kẻ thù phe nhóm triệt hạ.
Theo thông cáo: “Ông Nguyễn Xuân Phúc đã nhận trách nhiệm chính trị… với tư cách là người đứng đầu khi để nhiều cán bộ, trong đó có 2 phó thủ tướng, 3 bộ trưởng có vi phạm, khuyết điểm, gây hậu quả rất nghiêm trọng. . . Ông đã có đơn xin thôi giữ các chức vụ được phân công, nghỉ công tác và nghỉ hưu”.
Thông cáo nói rằng, 16 ủy viên còn lại của Bộ Chính trị ĐCSVN đã đồng ý với thỉnh nguyện của Phúc, và việc từ chức của ông sẽ được Quốc hội chính thức phê chuẩn, có lẽ trước kỳ nghỉ Tết Nguyên đán dài ngày, bắt đầu vào ngày 19 tháng 1.
Được cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kéo lên từ vị trí còn mờ nhạt (Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam, giáp thành phố Đà Nẵng), Phúc đã thể hiện xuất sắc vai trò Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ của Dũng và vài năm sau đó là Phó Thủ tướng thường trực của ông. Khi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang (Chủ tịch nước lúc đó), liên kết, buộc Dũng phải rời chính trường, Phúc đã đứng bên lề và được ban thưởng chức thủ tướng.
Phúc cũng được đánh giá cao trên cương vị thủ tướng từ năm 2016-2021. Sau đó, khi Đại hội lần thứ 13 đến gần vào tháng 1 năm 2021, ông định tranh làm người kế nhiệm ông Trọng trong vai trò tổng bí thư Đảng nhưng phải chấp nhận chức vụ tương đối không quyền lực là chủ tịch nước. (Không thuyết phục được ủy ban trung ương đảng bầu Trần Quốc Vượng, phụ tá chống tham nhũng chính yếu của mình làm tổng bí thư mới, Trọng đã tự đứng lên và giành được nhiệm kỳ thứ ba chưa từng có cho chức vụ đó).
Có lẽ vì đã cả gan dám thách thức Trọng, Phúc trong tư cách là chủ tịch nước phải đối mặt với sự thù địch từ nhóm người thân cận của Trọng, và thêm vào đó, từ cái gọi là phe Bộ Công an bao gồm người kế nhiệm chức thủ tướng của Phúc, Phạm Minh Chính. Bây giờ, rõ ràng là họ đã tìm cách hạ bệ ông.
Việc buộc các Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh và Vũ Đức Đam phải nghỉ hưu vào đầu tháng này đã tước bỏ những đồng minh quan trọng ra khỏi Phúc.
Cái để đánh bật Phúc văng khỏi chức vụ được đồn đoán là, bằng chứng cho thấy cháu gái của bà Phúc, cũng là một nữ doanh nhân giàu có, vốn là cộng sự thân thiết của gia đình vợ ông, và là cổ đông lớn của Công ty Cung ứng Y tế Việt Á, và do đó, có vai trò quan trọng trong “vụ bê bối Việt Á” đã làm rung chuyển cả nước một năm trước. Hai người, cháu gái Nguyễn Thị Thanh Thuỷ (*) và Giám đốc SNB Holdings Nguyễn Bạch Thuỳ Linh, đã bị bắt vào ngày 4 tháng 1, nâng tổng số người bị bắt giữ lên đến 104 người cho đến nay, vì liên quan đến âm mưu của Việt Á nhằm lũng đoạn thị trường quốc gia đối với các xét nghiệm PCR kém chất lượng. Do đó, có thể có bàn tay đen tối đứng sau vụ bê bối này quả thực là những người trong gia đình Phúc, nếu không phải là chính ông ta.
Với nhiều năm chồng chất chỉ trích trong nội bộ đảng về các thương vụ bất động sản của bà Phúc, điều này dường như đã củng cố sự đồng thuận của Bộ Chính trị rằng, Phúc phải ra đi, và sẽ được thay bằng Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm hoặc chính Tổng Bí thư Trọng sẽ lại kiêm nhiệm chức tổng bí thư và chủ tịch nước.
Người ta tin rằng, Phúc đã đồng ý ra đi một cách lặng lẽ để đổi lấy lời hứa rằng, ông và những người thân trong gia đình sẽ không bị truy tố. Con trai (*) của Phúc hiện là phó tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, còn con gái ông được cho là đứng đầu một số doanh nghiệp tư nhân.
Người kế nhiệm ông Phúc làm Chủ tịch nước, theo đồn đoán là Tô Lâm, 65 tuổi, một tướng công an cao cấp, đứng đầu Bộ Công an Việt Nam kể từ tháng 4 năm 2016. Ông được công chúng biết đến nhiều nhất qua sự hớ hênh trong chuyến công du ngoại giao cấp cao đầu tiên của mình: Báo chí Việt Nam nắm được và công bố bức ảnh ông được cho ăn món bò bít tết dát vàng, trị giá 2000 USD, tại một nhà hàng sang trọng ở London.
_______
Tác giả:David Brown là cựu quan chức ngoại giao Hoa Kỳ có nhiều kinh nghiệm về Việt Nam và là cộng tác viên thường xuyên của Asia Sentinel và các bản dịch dành riêng cho Tiếng Dân.
(*) Ghi chú của Tiếng Dân: Tác giả nhầm, cô Nguyễn Thị Thanh Thủy là em chú bác của ông Phúc, không phải cháu của bà Trần Thị Nguyệt Thu, vợ ông Phúc. Còn con rể ông là phó tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, không phải con trai.
Xin trở lại với đầu đề bài này: Tương Lai của Đảng Cộng Sản và Dân Tộc Việt.
Tôi tự nhận là một trí thức của Dân, thuộc bên B, một người phản biện, từng vạch ra những sai lầm từ gốc của CNML và một vài chủ trương đường lối của Đảng CSVN. Khi tôi tách Đảng khỏi Dân tộc và vạch ra mâu thuẫn giữa hai bên, chắc sẽ bị nhiều người bên A phản đối và xỉ vả vì họ đã quen với việc đặt Đảng trùm lên Dân tộc, rằng mọi thứ trên đất nước này đều là của Đảng. Họ cho rằng câu hỏi Việt Nam sẽ phát triển theo con đường nào là quá ngớ ngẩn, vì đã có Nghị quyết của đại hội 13. Bên A cho rằng đó là con đường duy nhất đúng, nhưng tôi lại cho rằng có những nhầm lẫn.
Nghị quyết Đại hội 13 mới đọc qua thì thấy đúng, thấy hay, nhưng đọc kỹ với tinh thần phản biện mới phát hiện ra những bất cập và ngụy biện. Vừa đưa nó vào cuộc sống mới được hơn một năm mà xã hội đã gặp biết bao nhiêu bê bối, thảm họa, như Lê Thân đã viết ra một phần trong bài “Việt Nam chọn con đường nào”. Đành rằng không phải Nghị quyết Đại hội 13 trực tiếp gây ra những thảm họa đó, mà chỉ chứng tỏ NQ không có tác dụng gì trong việc phòng ngừa, ngăn chặn thảm họa và suy sụp.
Đầu tiên là việc đánh giá thực trạng của đất nước sau hơn ba chục năm đổi mới. Tuy rằng đề ra phương châm, khẩu hiệu “nhìn thẳng vào sự thật”, nhưng hình như chỉ nhìn bằng một con mắt chột, nên chỉ thấy được những nơi có ánh sáng phát ra, nghĩa là chỉ thấy một phần sự thật, mà một phần sự thật nhiều khi là dối trá, nếu vô tình dùng nó. Còn nếu cố ý chọn nó để dùng thì chắc chắn là dối trá.
Cách viết của NQ về các lĩnh vực thường theo mẫu như sau: Về lĩnh vực này chúng ta đã đạt các thành tích A, B, C, D, tuy vậy cũng còn phạm phải vài thiếu sót U, V, X, Y. Nguyên nhân của thành tích là sự sáng suốt của lãnh đạo, nguyên nhân của thiếu sót là H, K, L, mà chỉ là bên ngoài, dễ thấy, còn nguyên nhân cơ bản thì cố tình che giấu hoặc không tìm thấy.
Thực trạng đã không được đánh giá đúng, lại dựa vào nó mà vạch đường lối thì chủ yếu là lạc đường. Theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội 13 thì trước mắt và cho đến năm 2050, Việt Nam vẫn tập trung phát triển kinh tế. Liệu có phát triển được nền kinh tế tri thức không, hay chỉ tiếp tục con đường hiện nay (gia công, bán sức lao động, phụ thuộc vào FDI, tàn phá môi trường…). Nếu vẫn như thế, thì theo tôi, đã phạm sai lầm về đường lối. Tại sao lại như vậy?
Mỗi người có cuộc sống vật chất liên quan đến kinh tế và cuộc sống tinh thần liên quan đến bản chất văn hóa. Bản chất này là hồn cốt của dân tộc, khác hoàn toàn với các hoạt động do Bộ Văn hóa quản lý.
Khi người ta rơi vào tình trạng đói khổ thì ưu tiên phát triển kinh tế là đúng và cấp thiết, nhưng khi đã tạm đủ ăn, đủ mặc, thì đồng thời với kinh tế cần xây dựng đời sống văn hóa tốt đẹp, và đến khi xã hội bước vào phát triển thì cần đề cao đời sống văn hóa và tinh thần.
Đời sống văn hóa được dẫn dắt bởi tầng lớp tinh hoa của xã hội. Một xã hội sẽ gần với bán khai khi thiếu vắng tầng lớp tinh hoa, thế mà ở VN tầng lớp đó đang lụi tàn, mà nguyên nhân chủ yếu là lãnh đạo đất nước mắc vào âm mưu thâm độc của Trung Cộng trong việc trừ bỏ tinh hoa của dân tộc Việt để dễ bề biến người Việt thành tay sai, dễ bề bành trướng, xâm lược. Thủ đoạn chính trong việc này là gán cho những phần tử tinh hoa tội “lợi dụng tự do dân chủ” chống đối chính quyền, rồi giam cầm họ, trừ khử họ.
Mác đã sai khi tôn sùng học thuyết duy vật, đề lên quá cao vai trò của vật chất, từ đó kéo theo việc tranh đoạt quyền lợi vất chất, dùng chỉ tiêu kinh tế để đánh giá thứ hạng của đất nước. Ông Nguyễn Phú Trọng mơ ước, đến năm 2045, Việt Nam sẽ đạt được mức này mức kia thì cũng đều thuộc cuộc sống vất chất.
Để tỏ ra cũng quan tâm đến văn hóa, vào tháng 11 năm 2021, Đảng tổ chức Hội nghị Diên Hồng về văn hóa khá rầm rộ, nhưng nhiều người, kể cả lãnh đạo cấp cao đã nhầm mà trộn lẫn Bản chất văn hóa là hồn cốt của dân tộc với các hoạt động do Bộ Văn hóa quản lý như xuất bản, biểu diễn, triển lãm, hội hè v.v… Trong lúc làm các hoạt động văn hóa thì lại để cho bản chất văn hóa bị thoái hóa, đời sống tinh thần bị đẩy vào các tai họa, đạo đức bị xuống cấp. Sau một hồi trống rền vang ở Hội nghị Diên Hồng về văn hóa, đã xảy ra tình trạng “đánh trống bỏ dùi”. Bản chất văn hóa bị nhấn chìm, bị quên lãng trong các hoạt động kinh tế thăng trầm và náo loạn, trong những lo toan đến thắt ruột về việc làm trong sạch tổ chức và hệ thống chính trị, về việc củng cố độc quyền.
Quan trọng nhất trong bản chất văn hóa nằm trong tình yêu thương, tôn trọng, con người, là lòng tin vào con người, là bảo vệ nhân quyền, mà quan trọng nhất là quyền tự do, bình đẳng, là chống áp đặt, là lòng bao dung và trắc ẩn. Những điều này đã bị cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản làm cho xộc xệch, méo mó, cho rằng đó là văn hóa tư sản cần loại bỏ để xây dựng nền văn hóa cộng sản với việc vạch rõ ranh giới giai cấp, khắc sâu hận thù giữa những người không cùng ý thức hệ, là trấn áp xu hướng đòi nhân quyền, là tiêu diệt những người bất đồng chính kiến, là sự thống nhất tư tưởng để bắt mọi người phải suy nghĩ theo một người v.v… và gọi đó là đạo đức cách mạng.
Một vài nhà tư tưởng cộng sản cực đoan lại đem đạo đức cách mạng đối lại với đạo đức nhân bản, đem văn hóa vô sản do công nông thực thi đối lại với văn hóa truyền thống do tầng lớp tinh hoa (hoặc thượng lưu) chủ trương. Quốc tế ca có lời rằng: Chế độ xưa ta mau phá sạch tan tành.
Văn hóa vô sản là: “Những bàn chân đã vùng dậy đạp đầu/ Lũ chúa đất xuống bùn đen vạn kiếp” (thơ Tố Hữu), là “Tước đoạt của kẻ tước đoạt” và nhiều cách nghĩ, cách làm trái Đạo Trời khác. Nó được thể hiện rất rõ trong cải cách ruộng đất, trong cải tạo công thương nghiệp tư nhân, trong hợp tác xã nông nghiệp và Luật Đất Đai, trong một nền giáo dục đào tạo con người thành công cụ, trong xã hội mà tham nhũng của quan chức và dối trá của mọi người trở nên phổ biến.
Mặc dầu người ta thỉnh thoảng có nhắc đến “phát triển bền vững”, nhưng chỉ nói cho có chuyện. Thực tế sự phát triển của VN gây ra nhiều hủy hoại môi trường vật chất (đất, nước, không khí) và môi trường tinh thần.
Mỗi lần đại hội Đảng, người ta lại đề ra chỉ tiêu này nọ để thảo luận rồi biểu quyết. Đó là cách làm hình thức còn rơi rớt lại từ nền kinh tế và chính trị kế hoạch hóa. Hãy hỏi những người bấm nút đồng ý với chỉ tiêu này nọ, xem họ có hiểu tại sao, ở đâu ra chỉ tiêu đó mà không thể tăng hay giảm. Có khả năng trên 98% người không hiểu, họ bấm nút trong trạng thái vô ý thức, bấm theo một sự chỉ đạo từ trên mà chính người chỉ đạo cũng không hiểu.
Đảng, nhà nước đặt chỉ tiêu phát triển cho các ngành kinh tế là việc đã lỗi thời, gây ra những trạng thái tâm lý giả tạo, lợi bất cập hại.
Một mong ước của người Việt, nghe qua thì rất hay, là động lực, nhưng mong ước quá lại thành ảo tưởng, đó là mong ước được xếp ngang hàng, được sánh vai cùng các cường quốc. Ý này lần đầu tiên được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường năm 1945. Và bây giờ có nhiều người Việt mong ước được như vậy, thể hiện ra ở nhiều việc chạy theo hình thức, tạo thành tích dỏm, mang nặng dối trá, không thực chất. Riêng những lãnh đạo của ĐCSVN còn có mong ước, đảng của họ thành ngọn cờ trong phong trào giải phóng dân tộc, thành tấm gương trung thành bảo vệ CNML. Trong di chúc, lãnh tụ Hồ Chí Minh còn thể hiện lòng mong ước Đảng ta làm được việc đoàn kết các đảng của Nga Xô và Trung Cộng. Ông Nguyễn Văn Linh còn đề nghị với Gorbachev cùng cứu vớt các ĐCS Đông Âu, bảo vệ phe XHCN vào năm 1990. Mong ước của Hồ Chí Minh và đề nghị của ông Linh phải chăng có ẩn ý rằng ĐCSVN có vị thế cao trong hệ thống CS của thế giới?
Thế thì có nên mong ước như vậy không? Theo tôi thì vừa nên, vừa không nên. Rất nên mong ước đến cháy bỏng việc phát triển đất nước cả kinh tế và văn hóa, đặc biệt là phát triển kinh tế bền vững, kinh tế tri thức trên nền tảng văn hóa nhân bản thật sự tốt đẹp, chứ không phát triển kinh tế một cách vội vàng, chụp giựt trên một nền tảng văn hóa vô sản, phản Đạo Trời như đã kể. Mục tiêu chính của phát triển là vì Tự do và Hạnh phúc của toàn dân và của mỗi người. Hãy khôn ngoan, thông minh và cố gắng hết sức có thể. Thế rồi được xếp hạng nào, thứ bậc bao nhiêu là việc của người khác, có thành hổ thành rồng đến đâu là do người ngoài đánh giá.
Không nên quan tâm việc được xếp thứ bậc bao nhiêu, vượt được ai hay không, vì khi mình phát triển thì người ta có dừng lại đâu, mà còn có thể phát triển nhanh hơn. Chỉ có thể đặt mức phấn đấu, sau bao năm nữa đạt đến mức tương đương như A hoặc B bây giờ.
Một số người nêu thí dụ về Singapore và Nam Hàn để nói rằng, VN cũng có khả năng như họ. Tôi tìm hiểu thì trước đây họ không hề đặt mục tiêu thành hổ, thành rồng, không mong ước xếp hạng cao hoặc sánh vai với ai cả. Lãnh đạo dạy dân họ và tạo thể chế để dân phát huy năng lực sáng tạo, rồi được đến đâu hay đến đó. Mà như Nam Hàn và Singapore phát triển kinh tế dựa trên nền tảng văn hóa nhân bản, tránh được những việc làm trái Đạo Trời của cách mạng vô sản theo CNML.
Singapore và Israel là những nước mới thành lập, ban đầu họ đã thảo luận, cân nhắc rất kỹ, thậm chí đấu tranh kịch liệt trong việc chọn đường đi theo Thế Giới Tự Do hay theo Xã Hội Chủ Nghĩa. Kết quả sự lựa chọn của những nhà lãnh đạo của họ là chính xác. Nhân dân không lựa chọn con đường, không lựa chọn thể chế, mà chỉ đi theo một cách tự giác hay bị bắt buộc. Trong nền dân chủ thực sự thì dân chỉ lựa chọn đảng chính trị khi bầu cử. Ai đó nói rằng, nhân dân đã lựa chọn chế độ chính trị là không đúng, mang tính bịa đặt.
Trong sách Một Đời Quản Trị, GS Phan Văn Trường chỉ ra rằng, sự thành đạt của các tập đoàn kinh tế, công nghiệp dù lớn hay bé trên toàn thế giới (hoặc các Công ty) phụ thuộc chủ yếu vào Văn Hóa của tập đoàn (hoặc Công ty) mà văn hóa đó do tầng lớp tinh hoa gây dựng theo phẩm chất cao thượng của người đứng đầu.
Sách “Tại Sao Các Quốc Gia Thất Bại” chỉ ra rằng, thành hay bại là do thể chế. Có thể chế chính trị và thể chế kinh tế với bốn kết hợp:
1) Khi cả hai thể chế đều tốt, hợp Đạo Trời, thuận Lòng Người thì xã hội phát triển, phồn vinh.
2) Khi cả hai đều xấu, trái Đạo Trời, ngược Lòng Người thì tầng lớp thống trị giàu to, quyền lớn, còn nhân dân sẽ chịu thống khổ, xã hội suy tàn.
3) Khi chính trị tốt mà kinh tế xấu thì đời sống tinh thần, văn hóa của xã hội được thuận hòa, vui vẻ, còn đời sống vật chất gặp nhiều khó khăn.
4) Khi chính trị xấu (độc tài, tàn bạo) mà kinh tế tốt thì tuy đời sống vật chất có khá nhưng sự phân hóa giàu nghèo là rất lớn, đời sống tinh thần ngột ngạt, nhân quyền và công lý bị chà đạp, người dân sống trong sợ hãi và bị áp bức, mà kinh tế cũng phát triển không bền vững.
Vào thập niên 70 và 80 Việt Nam rơi vào kết hợp 2. Nhờ hồng phúc của Tổ Tiên mà một số lãnh đạo lúc đó đã nhận ra sai lầm, sửa sai thể chế kinh tế (mà nói chệch thành đổi mới, mở cửa) cứu dân tộc khỏi tai nạn chết đói. Gọi đó là đổi mới lần một về kinh tế. Việc đổi mới này thực chất là làm ngược lại CNML. Dư luận rộng rãi cho rằng, rất cần đổi mới lần hai về chính trị.
Đã từng có những cán bộ cao cấp nghĩ và chuẩn bị cho việc này như Trần Xuân Bách, Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Võ Văn Kiệt, nhưng rồi những người đó chưa thành công mà CS còn bắt bỏ tù ông Chính, khai trừ ông Độ, ông Bách, phản đối ông Kiệt. Phải chăng các ông ấy chưa gặp thời, chưa tạo được thế, đành ôm hận ra đi, như Nguyễn Thái Học với an ủi “Không thành công, chỉ thành nhân”. Phải chăng con người có số mệnh, tác động trong khoảng trăm năm, và như Nguyễn Du nhận xét: “Có Trời mà cũng có Ta”. Có Trời là số mệnh, có Ta là sự nhận thức, tu dưỡng, hành động nhằm tạo phúc đức. Thành công hay thất bại của một con người là do kết hợp giữa số mệnh và sự tu dưỡng cùng hoạt động của người ấy. Và theo tổng kết đáng tin cậy là “Đức năng thắng số”.
Phải chăng Dân tộc cũng có số mệnh như con người, chỉ khác là số mệnh Dân tộc kéo dài rất lâu, đến hàng ngàn, hàng vạn năm. Sự thành bại của một dân tộc là do kết hợp số mệnh với nền văn hóa do dân tộc đó tạo ra, với những hoạt động thực tế tác động đến thiên nhiên và xã hội.
Sau một thời gian dài, gần thế kỷ tồn tại của ĐCSVN, dân tộc Việt đã có những thắng lợi và thất bại, có những cơ sở vật chất và tinh thần được xây dựng và bị hủy hoại. Cũng nên có nghiên cứu, tổng kết để đánh giá tương đối đúng thực trạng thì mới có thể dự báo tương lai, mới có thể vạch đường cho tương lai. Để làm việc này thì phải trung thực, khách quan, không do Đảng chỉ đạo, tránh xa CNML thì mới mong có được kết quả đáng tin cậy.
Diễn tiến lên hay xuống của sự việc có thể là từ từ, từng bước nhỏ kế tiếp hoặc là bước nhảy đột xuất. Cách mạng là một bước nhảy.
Về CS, tôi xem xét ba mức độ: Chủ thuyết, tổ chức đảng và đảng viên. Chủ thuyết CS do Mác đề xướng chứa đựng nhiều sai lầm từ cơ bản, chủ trương làm những việc trái Đạo Trời. Nó đã từng hoành hành, nhờ ngụy biện xảo trá mà lôi cuốn được một số người, nhưng càng ngày càng lộ rõ bản chất tàn bạo và dối trá. Nó không thể cải tạo mà cần đánh đổ, nó không có tương lai. Nó đã bị đa số nhân loại lên án, sớm hay muộn sẽ bị đào thải theo quy luật tự nhiên.
ĐCSVN là một tổ chức, trong điều lệ ghi là “Đội tiên phong của giai cấp”, nhưng đó chỉ là lời rập khuôn sáo vẹt của những người kém trí tuệ. Thực chất, ngay từ đầu ĐCSVN là tổ chức của những người yêu nước, những đảng viên đầu tiên là những con người có phẩm chất cao thượng. Đảng do Nguyễn Ái Quốc lập ra để đấu tranh giành độc lập. Năm 1946, thấy rằng nếu lập đảng khác sẽ tốt hơn nên Hồ Chí Minh đã có ý kiến giải tán ĐCS Đông Dương nhưng rồi lại rút vào bí mật và không hiểu vì sao đã phạm sai lầm khi tuyên bố tự giải tán. Sự dối trá ấy sớm bị phát hiện. Và rồi Đảng càng ngày càng suy thoái do đường lối tổ chức sai, kết nạp vào Đảng nhiều kẻ cơ hội, do vẫn kiên trì CNML có nhiều độc hại.
Tương lai của ĐCSVN có thể theo một trong ba hướng:
Hướng thứ nhất là diễn tiến từ từ với những biện pháp xây dựng đảng như các điều cấm, những nghị quyết về nêu gương, làm trong sạch, với những cái lồng nhốt quyền lực, những việc chống tự diễn biến, tự chuyển hóa, đốt lò, chống tham nhũng v.v… Theo hướng đó thì càng ngày Đảng càng thoái hóa, đi đến sụp đổ, đến cáo chung (như ông Đào Tăng Dực và nhiều người mong ước). Tương lai đen tối dù cho có được Trung Cộng hà hơi tiếp sức.
Kich bản A của hướng này là sự sụp đổ của Trung Cộng sẽ kéo theo sự sụp đổ của Việt Cộng. Trung Cộng thời Tập Cận Bình đang bành trướng mạnh, có thể vượt lên thao túng thế giới trong một thời gian ngắn rồi sụp đổ. Quy luật lịch sử là như vậy.
Kich bản B là bị đánh đổ, đã xảy ra ở vài nước ở Đông Âu như Ba Lan, Tiệp Khắc, Bungaria, Đông Đức. Tuy hiện nay ở VN, khả năng này ít có cơ hội vì Trung Cộng đã rút được những bài học đàn áp và huấn luyện cho Việt Cộng để đối phó. Nhưng trong tương lai thì chưa biết được như thế nào.
Hướng thứ hai là, với những đảng viên hiện có, đổi tên đảng (hoặc không đổi cũng được), từ bỏ CNML, thay điều lệ, làm một bước nhảy tiến lên, trở thành một đảng chính trị (xem rằng đã làm xong nhiệm vụ của một đảng cách mạng). Được như vậy thì sẽ có tương lai sáng sủa, có thể cầm quyền lâu dài, được nhân dân tín nhiệm, được lịch sử ghi nhận. Đây là mong ước cứu Đảng của ông Nguyễn Trung và nhiều người cả bên A và B.
Hướng thứ ba là chia đảng làm hai (giống đảng Xã hội Nga năm 1905, chia thành Bolshevik và Menshevik). Kịch bản như sau: Trong các cán bộ cấp cao của Đảng xuất hiện một số người muốn cứu Đảng, muốn cải cách. Họ bí mật trao đổi, vận động để tạo lực lượng ủng hộ trong BCH trung ương, đồng thời phải vận động được sự ủng hộ của một số lực lượng vũ trang và xã hội dân sự. Trong một lần họp BCH Trung ương, một người đề xuất việc đổi mới Đảng theo hướng từ bỏ CNML và đề nghị thảo luận. Có ba trường hợp có thể xảy ra.
Trường hợp 3.1: Hội nghị thảo luận, đấu tranh. Nếu bên cải cách thắng thế thì chuyển sang hướng thứ hai (đã viết ở đoạn trước). Được như thế là hồng phúc cho Đảng và Dân tộc. Đây là trường hợp đã xảy ra ở Mông Cổ, rất nhẹ nhàng, hiệu quả. Một biến thể của trường hợp này là xuất hiện một nhân vật như Gorbachev của Liên Xô.
Trường hợp 3.2: Nếu bên cải cách không thắng thế thì tuyên bố ly khai và lập đảng mới. Ai đồng ý thì đến họp ở một nơi khác để tiến hành. Trong lúc ở Hà Nội xảy ra việc trên thì tìm cách đưa thông tin ra ngoài. Các nơi tổ chức mitting, biểu tình được quần chúng ủng hộ. Đơn vị vũ trang ủng hộ nhanh chóng tiếp cận nơi họp để bảo vệ. Đây là đấu tranh nghị trường trong nội bộ Đảng nhưng phải chuẩn bị chống lại đàn áp, bảo vệ lực lượng.
Trường hợp 3.3: Vì không giữ được bí mật, kế hoạch đã bị lộ, phe bảo thủ đã có chuẩn bi, huy động lực lượng vũ trang trấn áp thì sẽ xảy ra xung đột. Chuyện như vậy cũng thường gặp.
Đảng viên cộng sản, ngoài một số kẻ cơ hội thì cũng còn nhiều người có phẩm chất tốt, hiểu rõ mặt trái của CNML. Một số đông hưu trí bỏ sinh hoạt, số khác lặng lẽ hoặc công khai tuyên bố từ bỏ Đảng. Những người còn ở lại trong Đảng mà dám nghi ngờ CNML thì bị buộc tội tự chuyển biến, tự chuyển hóa, bị ghép chung với bọn mất phẩm chất vì thoái hóa đạo đức, tham nhũng, phạm tội. Trong dân có câu “Người ấy tuy là đảng viên nhưng mà tốt”. Phẩm chất tốt của những đảng viên như vậy không phải nhờ giác ngộ CNML mà đó là nhờ đạo đức nhân bản vốn có của họ từ trước khi vào đảng.
Về tương lai của Dân tộc, phần lớn phụ thuộc vào sự diễn tiến của ĐCS. Nếu Đảng diễn tiến theo hướng bảo thủ, kiên trì CNML để đi tới sụp đổ thì rõ ràng tương lai của Dân tộc và của Đảng là khác nhau, mâu thuẫn nhau. Đảng có thể bị sụp, bị xóa, nhưng Dân tộc thì không thể.
Trong quá trình duy trì sự thống trị, Đảng quan tâm đến phát triển kinh tế và nói đến những điều tốt đẹp về tự do, dân chủ, bình đẳng, nhân quyền. Người ta tưởng nhầm rằng Đảng rất chăm lo đến đời sống nhân dân. Bên ngoài thấy như thế, nhưng bên trong lại khác. Đảng chăm lo đến kinh tế để nhà nước thu được nhiều thuế, tăng ngân sách. Đó là nguồn sống của Đảng, cũng là nguồn để tham nhũng. Khi nghe nói về tự do, dân chủ, bình đẳng, nhân quyền, một mặt nên biết đó chỉ là lời tuyên truyền mị dân, mặt khác cần bám vào nó để đấu tranh đòi thực hiện chứ không nói suông.
Khi nói quyền lợi của Dân tộc có lúc mâu thuẫn với quyền lợi của Đảng thì đó không phải là quyền lợi của các đảng viên thường mà là quyền lợi của các cán bộ cấp cao của Đảng. Khi đảng có bị sụp đổ thì các đảng viên thường lại trở về với Dân tộc.
Dưới thời đô hộ của thực dân Pháp, Dân tộc Việt không chỉ chịu cảnh lầm than, bị áp bức mà còn được khai hóa. Nhưng trong thời kỳ độc lập, tự chủ, Dân tộc Việt cũng nhiều lần chịu lầm than vì gặp phải hôn quân bạo chúa như thời Lê Ngọa Triều, thời mạt Lý, mạt Trần, một vài đời vua Lê chúa Trịnh và Trịnh Nguyễn phân tranh.
Nhưng rồi không thể biết vì lý do nào mà lại mắc vào tai họa mấy chục năm chiến tranh tàn phá, huynh đệ tương tàn, rồi tai họa cộng sản với hình tượng “Đuổi hổ cửa trước rước sói cửa sau”. Dẹp được sự áp bức của thực dân lên tầng lớp này thì lại tạo ra áp bức của chuyên chế lên tầng lớp khác, kiểu “Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa” (Áp bức vẫn còn, chỉ thay đối tượng và hình thức).
Suy nghĩ về khả năng tránh được chiến tranh và tai họa của CNML, tôi thấy VN đã bỏ qua một số cơ hội. Việc ĐCSVN chớp được thời cơ vào tháng 8-1945 để cướp chính quyền, đã làm cho Dân tộc Việt bỏ lỡ thời cơ giành độc lập trong hòa bình.
Khi trao đổi với bạn bè, chỉ có ít người đồng ý với tôi là VN có khả năng tránh được tai họa mà vẫn giành được độc lập như nhiều nước cùng cảnh ngộ. Nhưng số đông hơn không đồng ý, cho rằng cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp là không thể nào tránh khỏi và quy hết tội lỗi cho Chính phủ Pháp năm 1945-1946 mà đại diện là Decou và Bolaec.
Phải chăng số mệnh của Dân tộc nó xui ra như vậy. Qua thảo luận giữa nhà văn Nguyên Ngọc và bà Nguyễn Thị Bình (nguyên Phó Chủ tịch nước), thì mầm mống của tai họa bắt đầu từ năm 1920, khi Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu thành lập ĐCS Pháp.
Phải chăng ngoài lý do gần, do con người tạo ra, thì liệu có còn lý do nào thuộc tâm linh. Dân tộc Việt vốn tôn trọng tâm linh, chẳng qua trong thời gian ngắn vì bị tuyên truyền mà theo duy vật và cam chịu thống trị của chuyên chính vô sản, đến độ nền văn hóa truyền thống, nhân bản bị hủy hoại, tầng lớp tinh hoa bị làm cho thoái hóa. Nhưng Dân tộc Việt vốn có sức sống mãnh liệt, tầng lớp tinh hoa sẽ dần được khôi phục để hướng dẫn tạo lập nền văn hóa nhân bản, làm cơ sở cho phát triển mọi mặt.
Không nhanh được thì chậm một chút, cách gì rồi Dân tộc Việt cũng thoát ra được tai họa do CNML gây nên để tạo lập tương lai tươi sáng, đem Tự do, Hạnh phúc cho toàn dân và mỗi người chứ không cần sánh vai với ai, không cần xếp hạng trên nước này, nước nọ, với những con số GDP giả tạo, với những chỉ tiêu duy ý chí, không cần giương cao ngọn cờ dẫn đường cho ai cả, bỏ hết tính kiêu ngạo và sĩ diện muốn hơn người.
Tôi vẫn rất tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc và đang cố gắng đóng góp một phần sức lực và trí tuệ, tuy chỉ rất nhỏ bé, cho tương lai đó.
Còn Tổng Bí thư, Bộ Chính trị và BCH TƯ đảng… thì sao?
“Đồng chí” Nguyễn Phú Trọng vừa là người khởi xướng, vừa giữ vai trò tiên phong trong chỉnh đốn đảng đã hơn một thập niên, trong hơn một thập niên chỉ đạo – sắp đặt mọi thứ, đặc biệt là nhân sự, kết quả chống tham nhũng là gì ngoài hậu quả tham nhũng càng ngày càng trầm trọng? Nguồn ảnh: Reuters
Trong phiên họp bất thường và… bất ngờ hôm 17/1/2023 Ban Chấp hành Trung ương (BCH TƯ) đảng khóa 13 đã… nhất trí: Để đồng chí Nguyễn Xuân Phúc thôi giữ các chức vụ Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng – an ninh nhiệm kỳ 2021 – 2026 theo… “nguyện vọng của đồng chí Nguyễn Xuân Phúc”.
Sở dĩ “đồng chí Nguyễn Xuân Phúc” nêu “nguyện vọng” như vừa dẫn và BCH TƯ đảng khóa 13… nhất trí… đáp ứng vì: Đồng chí chịu trách nhiệm chính trị của người đứng đầu khi để nhiều cán bộ, trong đó có hai đồng chí Phó Thủ tướng, ba bộ trưởng có vi phạm, khuyết điểm, gây hậu quả rất nghiêm trọng. Hai đồng chí Phó Thủ tướng đã xin thôi giữ các chức vụ, hai bộ trưởng và nhiều cán bộ bị xử lý hình sự.
Cứ như những gì BCH TƯ đảng khóa 13 mới thông báo thì “đồng chí” Nguyễn Xuân Phúc tự nguyện đệ đạt nguyện vọng được… rời chức vì: Nhận thức rõ trách nhiệm trước đảng và nhân dân nên có đơn xin thôi giữ các chức vụ được phân công, nghỉ công tác và nghỉ hưu(1). Cũng vì vậy cần phải tự hỏi, chẳng lẽ đồng chí Tổng Bí thư, các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư và BCH TƯ đảng chỉ… nhất trí rồi… thôi?
***
Các Ủy viên BCH TƯ đảng khóa 13 được các đại biểu đại diện cho toàn bộ đảng viên đảng cộng sản trên toàn Việt Nam bầu ra hồi cuối tháng giêng năm ngoái, sau đó chính họ lựa chọn và bỏ phiếu bầu các thành viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư theo… “quy trình bảy bước”, bầu Tổng Bí thư theo… “quy trình sáu bước” (2) và toàn bộ hoạt động lựa chọn – giới thiệu – bỏ phiếu được khẳng định là… “thận trọng, chặt chẽ, dân chủ”.
Kết quả của quy trình… “thận trọng, chặt chẽ, dân chủ” đó là… chỉ chưa đầy một năm, BCH TƯ đảng CSVN khóa 13 phải họp… “bất thường”… ba lần (6/2022, 12/2022, 1/2023) để… giải quyết vấn đề nhân sự. Nếu tính kết quả giải quyết vấn đề nhân sự cả ở các kỳ họp chính thức và bất thường thì BCH TƯ đảng khóa này đã phải nhất trí loại bỏ… chín thành viên, trong đó có hai thành viên là Ủy viên Bộ Chính trị đang đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Nhà nước và Phó Thủ tướng Thường trực. Trong chín thành viên đã bị loại bỏ, phần lớn bị loại bỏ vì đã có “khuyết điểm, sai phạm” từ trước khi được lựa chọn – giới thiệu – bầu vào BCH TƯ đảng khóa 13 và tất cả những “khuyết điểm, sai phạm” ấy đều “nghiêm trọng tới mức phải xử lý kỷ luật”, thậm chí phải truy cứu trách nhiệm hình sự… Lựa chọn – sắp đặt nhân sự như thế là “thận trọng, chặt chẽ” hay… ngoa ngôn?
Sự… “bất thường” trong lựa chọn – sắp đặt nhân sự của BCH TƯ đảng CSVN không chỉ nằm ở số lượng… “kỳ họp bất thường” mà còn nằm ở cách thức tổ chức những… “kỳ họp bất thường” này. Ví dụ, hai… “kỳ họp bất thường” đầu tiên còn thông báo trước nhưng “kỳ họp bất thường” vừa diễn ra thì… không thông báo, chỉ công bố kết quả. Ví dụ, tuy mục đích giống nhau (giải quyết vấn đề nhân sự) chẳng ai hiểu tại sao phải chia làm hai, lần trước (lần hai) cách lần sau (lần ba) chưa đầy ba tuần? Ví dụ, trên danh nghĩa, nhân sự là vấn đề do các thành viên BCH TƯ đảng quyết định thông qua hội họp nhưng BCH TƯ đảng chưa họp thì toàn đảng, toàn dân đã biết… kết quả chung cuộc! Nếu… “dân chủ trong đảng” chỉ là như vậy thì chi tiêu cho các… “kỳ họp bất thường” nói riêng và những kỳ họp khác của BCH TƯ đảng nói chung có khác gì lạm chi cho… quảng cáo?
Tương tự, nếu các Ủy viên BCH TƯ đảng cũng chỉ gật và lắc theo tác động của… ngoại lực thì bày ra BCH TƯ đảng làm gì cho tốn kém? Nếu không chỉ biết gật và lắc theo tác động của… ngoại lực thì làm gì có chuyện cuối tháng giêng năm ngoái, 200 ủy viên mới được bầu vào BCH TƯ đảng khóa 13 (bao gồm 180 ủy viên chính thức và 20 ủy viên dự khuyết) công khai… vi phạm điều lệ (không để đồng chí nào đảm nhận vai trò Tổng Bí thư quá hai nhiệm kỳ) nhất trí bầu đồng chí Nguyễn Phú Trọng làm Tổng Bí thư nhiệm kỳ thứ ba, bất chấp các khuyến cáo trước đó: Nếu đồng chí Nguyễn Phú Trọng muốn tiếp tục làm Tổng Bí thư thêm một nhiệm kỳ nữa sau khi đã là Tổng Bí thư hai nhiệm kỳ liên tiếp thì cần sửa đổi Khoản 1 Điều 17 trong điều lệ hiện hành của đảng CSVN (3).
Nếu không chỉ biết gật và lắc theo tác động của… ngoại lực thì tại sao hạ tuần tháng trước (12/2022), các Ủy viên BCH TƯ đảng khóa 13 nhất trí để “đồng chí” Phạm Bình Minh… “thôi giữ chức vụ Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên BCH TƯ đảng khóa 13” và nhất trí để “đồng chí” Vũ Đức Đam… “thôi giữ chức vụ Ủy viên BCH TƯ đảng khóa 13” không cần… lý do, cũng chẳng xác định đó có phải là ý muốn của các đương sự hay không (4) giờ, sau ba tuần lại đột nhiên xác định hai “đồng chí” này nằm trong nhóm “có vi phạm, khuyết điểm, gây hậu quả rất nghiêm trọng” khiến “đồng chí” Nguyễn Xuân Phúc phải… tự xử. Tại sao bây giờ, sau khi “đồng chí” Phạm Bình Minh và “đồng chí” Vũ Đức Đam đã “thôi” rồi, BCH TƯ đảng mới xác định hai “đồng chí” này “xin thôi giữ các chức vụ” dù một đồng chí khác đã khẳng định với đồng chí, đồng bào là họ… “không từ chức” (5)?
Trước khi đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Nhà nước, “đồng chí” Nguyễn Xuân Phúc là Thủ tướng, “đồng chí” Phạm Bình Minh và “đồng chí” Vũ Đức Đam là Phó Thủ tướng. Nếu hai “đồng chí” đó “có vi phạm, khuyết điểm, gây hậu quả rất nghiêm trọng” thì “vi phạm, khuyết điểm rất nghiêm trọng” đó là những gì? Vì sao 180 “tinh hoa của đảng, của dân tộc” không thấy, không biết? Không thấy, không biết mà vẫn cử đồng chí Phạm Bình Minh vào Bộ Chính trị khóa 13, nhất trí phân công “đồng chí” Phạm Binh Minh và “đồng chí” Vũ Đức Đam tiếp tục làm Phó Thủ tướng cho chính phủ nhiệm kỳ sau thì tại sao các Ủy viên BCH TƯ đảng khóa 13 không tự xử? Ai cũng thấy ông Phạm Bình Minh và ông Vũ Đức Đam phải chịu trách nhiệm liên đới trong hai scandal “Việt Á” và “Giải cứu” xảy ra hồi năm ngoái nhưng Thủ tướng thời điểm ấy đâu phải là… “đồng chí” Phúc.
Ghép việc “đồng chí” Phạm Bình Minh và “đồng chí” Vũ Đức Đam “thôi” mọi thứ để minh họa cho việc “đồng chí” Nguyễn Xuân Phúc đột nhiên thấy cần… “thôi” luôn và mượn điều đó để cùng lờ đi trách nhiệm của “đồng chí” Phạm Minh Chính – Thủ tướng đương nhiệm – rõ ràng là hết sức phi lý! Không có tác động của… ngoại lực và có thêm những kỹ năng khác ngoài gật và lắc, chắc chẳng có ai điềm nhiên… nhất trí như thế!
Vài năm gần đây, noi gương Tổng Bí thư, “đảng ta” nói đi, nói lại việc buộc người đứng đầu và tổ chức đảng có nhiều đảng viên “vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng” phải chịu trách nhiệm liên đới, phải bị xử lý nghiêm khắc và khẳng định đó là một trong những bằng chứng chứng tỏ quyết tâm, nỗ lực chỉnh đốn đảng. Chín Ủy viên BCH TƯ đảng khóa này bị loại, trong đó có hai Ủy viên Bộ Chính trị phải “thôi” làm… nhiệm vụ chẳng lẽ chưa đủ để xem xét – quyết định hình thức kỷ luật Tổng Bí thư, Bộ Chính trị và toàn bộ BCH TƯ đảng khóa 13? “Đồng chí” Nguyễn Phú Trọng vừa là người khởi xướng, vừa giữ vai trò tiên phong trong chỉnh đốn đảng đã hơn một thập niên, trong hơn một thập niên chỉ đạo – sắp đặt mọi thứ, đặc biệt là nhân sự, kết quả chống tham nhũng là gì ngoài hậu quả tham nhũng càng ngày càng trầm trọng?
Việc công bố “đồng chí” Nguyễn Xuân Phúc tự nguyện đệ đạt nguyện vọng được… rời chức vì: Nhận thức rõ trách nhiệm trước đảng và nhân dân nên có đơn xin thôi giữ các chức vụ được phân công, nghỉ công tác và nghỉ hưu… là một lựa chọn thuộc loại… lợi bất cập hại. Lẽ nào “đồng chí” Nguyễn Xuân Phúc lại tự trọng hơn Tổng Bí thư, các thành viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các Ủy viên BCH TƯ đảng khóa 13? Khi nào các “đồng chí” mới “nhận thức rõ trách nhiệm trước đảng và nhân dân” đểlàm như vậy?
Tóm tắt: Nguyễn Xuân Phúc đã trở thành Chủ tịch nước Việt Nam đầu tiên từ chức, trong bối cảnh vụ bê bối tham nhũng đang diễn ra liên quan đến phản ứng với COVID-19 của đất nước này.
Trong một diễn biến chưa từng có, hôm nay Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) cầm quyền tuyên bố, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc sẽ ngay lập tức rời khỏi chức vụ. Đây là lần đầu tiên một thành viên trong ban lãnh đạo cao nhất của ĐCSVN, được gọi là “tứ trụ”, đã từ chức sớm.
Vào ngày 17 tháng 1, Ban chấp hành Trung ương đầy quyền lực của ĐCSVN đã tổ chức một cuộc họp bất thường tại Hà Nội để thảo luận về đơn từ chức của ông Phúc. Có vẻ như ông Chủ tịch nước đã bị đổ lỗi cho những vi phạm trong thời gian làm Thủ tướng. Thông cáo báo chí chính thức cho biết với tư cách là Thủ tướng trong nhiệm kỳ 2016-2021, ông Phúc đã lãnh đạo các nỗ lực trong cuộc chiến chống lại đại dịch COVID-19.
Tuy nhiên, thông cáo báo chí cho biết, ông Phúc phải chịu trách nhiệm về việc “để một số cán bộ, trong đó có hai Phó Thủ tướng và ba Bộ trưởng, có sai phạm gây hậu quả nghiêm trọng.”
Đầu tháng 1, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh cùng Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã đệ đơn từ chức. Trong khi đó, ít nhất hai cựu bộ trưởng và quan chức khác đang phải đối mặt với cáo buộc hình sự vì phạm các tội bị cáo buộc của họ trong đại dịch.
Diễn biến bất ngờ
Thông cáo báo chí chính thức cho biết, “nhận thức rõ trách nhiệm của mình, ông Phúc quyết định từ chức và nghỉ hưu”. Việc từ chức của ông Phúc cần được sự chấp thuận của Quốc hội, một kỳ họp bất thường hiếm hoi sẽ được tổ chức trong tuần này.
Sự cải tổ này đặt ra những câu hỏi quan trọng về tình hình chính trị Việt Nam hiện nay và tác động tiềm ẩn của việc ông Phúc từ chức đối với các chính sách đối nội và đối ngoại của đất nước này.
Nhiều người đồn đoán về việc ông Phúc sẽ từ chức sau khi hai Phó Thủ tướng từng làm việc dưới quyền ông Phúc khi ông còn điều hành chính phủ, đã bị cách chức hồi đầu tháng. Một số nhà quan sát đã chỉ ra trường hợp của Công ty Cổ phần Công nghệ Việt Á đang diễn ra như một lý do. Vụ án này đã trở thành một vụ bê bối lớn và liên quan đến nhiều quan chức cấp cao trong nước, bao gồm cả cựu Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long và các nhân vật hàng đầu khác đã bị khai trừ khỏi ĐCSVN. Hơn một năm qua, ngày càng nhiều cán bộ vướng vào vụ án trên; ít nhất 102 người đã bị bắt cho đến nay.
Những diễn biến gần đây dường như cho thấy một mô hình mới, trong đó ĐCSVN buộc các nhà lãnh đạo phải chịu trách nhiệm về những vi phạm của họ, trong khi cho phép họ từ chức trong danh dự để bảo vệ uy tín của toàn đảng.
Hậu quả từ các vụ bê bối tham nhũng liên quan đến đại dịch ở Việt Nam lên đến đỉnh điểm vào ngày 5 tháng 1, khi Quốc hội bỏ phiếu bãi nhiệm Phạm Bình Minh và Vũ Đức Đam khỏi chức vụ Phó Thủ tướng. Đáng chú ý, hai người này đã được phép từ chức – không giống như những trường hợp bị sa thải, bắt giữ và truy tố vào năm ngoái đã quét qua các quan chức cấp cao như Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long và Vũ Hồng Nam, cựu đại sứ tại Nhật Bản.
Các quan chức được khuyến khích từ chức
Điều này đánh dấu một bước ngoặt trong chiến dịch “đốt lò” chống tham nhũng của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đảng đang cố gắng tạo ra cái gọi là “văn hóa từ chức”: khi bạn bị phát hiện mắc sai lầm hoặc chịu trách nhiệm về một vụ bê bối xảy ra dưới thời bạn, bạn sẽ phải từ chức. Bạn không đợi Đảng phải hành động chống lại bạn.
Điều đáng nói là gần đây ông Trọng đã nói: “Trung ương Đảng phải có chính sách khuyến khích những người có sai phạm – nếu họ tự giác từ chức và giao nộp tiền tham ô thì sẽ được xử lý nhẹ, thậm chí miễn hình phạt. Sẽ không tốt nếu trừng phạt nghiêm khắc tất cả, hoặc cách chức tất cả”.
Tuyên bố trên thể hiện một sự thay đổi đáng kể trong cách tiếp cận của ĐCSVN. Nó cho thấy sự thừa nhận rằng không phải tất cả các quan chức tham gia vào các hành vi tham nhũng đều phải bị trừng phạt nghiêm khắc, và việc cho phép những người sẵn sàng đứng ra chịu trách nhiệm về hành động của họ, được từ chức mà không phải đối mặt với hậu quả khắc nghiệt có thể mang lại lợi ích tốt nhất cho Đảng và đất nước.
Sự thay đổi chính sách này cho thấy, ĐCSVN sẵn sàng thực hiện một cách tiếp cận tinh tế hơn để giải quyết nạn tham nhũng trong đảng. Bằng cách khoan hồng cho các quan chức sẵn sàng đứng ra nhận trách nhiệm về hành động của mình, ĐCSVN đang gửi đi thông điệp rằng, đảng này cam kết diệt trừ tận gốc tham nhũng, đồng thời thừa nhận rằng không phải tất cả các quan chức tham gia hành vi tham nhũng đều phải bị trừng phạt như nhau.
Sự thay đổi chính sách này có thể là một phản ứng trước mối lo ngại ngày càng tăng của công chúng về tham nhũng ở Việt Nam. Mặc dù điều này có thể tạo ra văn hóa chịu trách nhiệm và linh hoạt hơn trong cơ chế nhân sự của đảng, nhưng điều quan trọng cần lưu ý là các điều khoản mơ hồ của những lần từ chức này có thể có những tác động ngoài ý muốn, chẳng hạn như lãnh đạo sẽ ít trách nhiệm giải trình hơn trước công chúng và ít minh bạch hơn về lý do từ chức.
Hệ lụy từ việc ông Phúc từ chức
Nguyễn Xuân Phúc sinh năm 1954, giữ chức vụ thủ tướng từ năm 2016 đến năm 2021. Trong thời gian tại vị, ông Phúc chịu trách nhiệm thực hiện các chính sách của ĐCSVN và giám sát các nỗ lực của chính phủ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện mức sống cho công dân Việt Nam. Năm 2021, ông Phúc được bầu làm Chủ tịch nước.
Trong các nhiệm kỳ Thủ tướng và Chủ tịch nước, ông Phúc được biết đến với các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và nỗ lực thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Ông cũng ủng hộ các biện pháp cải thiện cơ sở hạ tầng của đất nước, xây dựng hệ thống luật pháp hiện đại và thúc đẩy nền kinh tế cởi mở và bền vững hơn. Quan điểm và chính sách chính trị của ông Phúc phù hợp với quan điểm và chính sách của ĐCSVN và nhằm mục đích duy trì sự nắm quyền của đảng đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế và cải thiện mức sống cho người dân Việt Nam.
Việc ông Phúc từ chức có ý nghĩa quan trọng đối với chính trị và chính phủ Việt Nam. Một tác động tiềm ẩn là khả năng xảy ra đấu tranh quyền lực trong nội bộ ĐCSVN. Vào thời điểm viết bài, không rõ ai sẽ thay thế ông Phúc làm Chủ tịch nước mới. Kịch bản thứ nhất, trong đó Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tạm thời kết hợp chức vụ Chủ tịch nước và Tổng bí thư, giống như Tập Cận Bình ở Trung Quốc, có thể dẫn đến sự củng cố quyền lực trong đảng. Điều này có khả năng dẫn đến việc ra quyết định hiệu quả hơn trong ĐCSVN, nhưng nó cũng có thể dẫn đến chủ nghĩa độc đoán gia tăng và thiếu sự kiểm soát đối với quyền lực của đảng.
Kịch bản thứ hai là một Ủy viên Bộ Chính trị khác được thăng chức Chủ tịch nước. Điều này có thể dẫn đến khả năng thay đổi cán cân quyền lực trong ĐCSVN; nó cũng có thể mang lại những quan điểm và ý tưởng mới cho cấp lãnh đạo. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi này cũng có thể đặt ra những thách thức khi các phe phái khác nhau trong đảng làm quen với ban lãnh đạo mới. Ngoài ra, việc ông Phúc từ chức cũng có thể dẫn đến việc cải tổ các quan chức chính phủ và hình thành các liên minh mới trong đảng. Điều này có khả năng ảnh hưởng đến sự ổn định của Việt Nam và khả năng của chính phủ trong việc điều hành và đưa ra các quyết định quan trọng một cách hiệu quả.
Một hàm ý tiềm năng khác của việc ông Phúc từ chức là tác động đối với các chính sách đối ngoại của Việt Nam. Phúc là một nhà lãnh đạo nổi tiếng và đã thiết lập mối quan hệ tốt đẹp với các quốc gia khác, bao gồm cả Mỹ và các quốc gia phương Tây khác. Với sự ra đi của ông, phương Tây có thể lo lắng khi phải tìm hiểu ban lãnh đạo mới và các chính sách của họ.
Mặt khác, Việt Nam là một quốc gia độc đảng và các hành động của chính phủ nước này gắn chặt với chương trình nghị sự và các ưu tiên của ĐCSVN. Vì vậy, trong khi sự ra đi của ông Phúc có thể dẫn đến một số điều không chắc chắn, thì có khả năng là cách tiếp cận tổng thể của Việt Nam đối với quan hệ đối ngoại khó có thể thay đổi. ĐCSVN sẽ tiếp tục là cơ quan ra quyết định chính, và Chủ tịch nước sẽ phải tuân theo đường lối của đảng.
Chính sách đối ngoại của Việt Nam được đánh dấu bằng sự tập trung nhất quán vào việc duy trì mối quan hệ tốt đẹp với tất cả các nước, cân bằng mối quan hệ với các cường quốc và thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua thương mại và đầu tư nước ngoài. Mỹ là đối tác nhất quán của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, thương mại và đầu tư, an ninh, giáo dục và y tế. Đây là cách tiếp cận nhất quán của Việt Nam trong nhiều năm, bất kể ai nắm giữ các vị trí hàng đầu.
Mặc dù việc từ chức của ông Phúc có thể dẫn đến một số bất ổn và điều chỉnh trong ngắn hạn, nhưng có khả năng ban lãnh đạo mới sẽ tiếp tục tuân thủ các chính sách đối ngoại đã được thiết lập của ĐCSVN và duy trì mối quan hệ tốt đẹp với các nước khác, đặc biệt là Mỹ, để phục vụ lợi ích của đất nước và công dân của mình.
Việc ông Phúc từ chức diễn ra vào thời điểm Việt Nam đang đối mặt với một số thách thức kinh tế và xã hội quan trọng. Mặc dù là một trong những nền kinh tế hoạt động tốt nhất ở Đông Nam Á vào năm 2022, với tốc độ tăng trưởng GDP hơn 8%, Việt Nam đang phải đối mặt với những cơn gió ngược dưới dạng suy thoái kinh tế toàn cầu tiềm ẩn và chi phí sinh hoạt gia tăng.
Nền kinh tế của quốc gia này đã phục hồi vào năm 2022, nhờ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước, nhưng vẫn phụ thuộc vào xuất khẩu và dễ bị tổn thương trước những thay đổi của điều kiện thị trường toàn cầu. Với các thị trường lớn như Mỹ và châu Âu đang đối mặt với cuộc khủng hoảng chi phí sinh hoạt, và trong bối cảnh bất ổn do Nga xâm lược Ukraine và Trung Quốc mở cửa trở lại, nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu của Việt Nam đang đối mặt với một số rủi ro suy giảm.
Trong bối cảnh đó, việc ông Phúc từ chức làm tăng thêm tính bấp bênh, khó lường của tình hình kinh tế Việt Nam. Việc bổ nhiệm Chủ tịch nước mới cũng sẽ là cơ hội để xem phương hướng mà ĐCSVN muốn đưa đất nước này đến đâu, và cách họ lên kế hoạch giải quyết những thách thức hiện tại cũng như định vị Việt Nam cho sự tăng trưởng và phát triển trong tương lai.
Chiến dịch chống tham nhũng của Nguyễn Phú Trọng đã làm cho nền chính trị Việt Nam trở nên thú vị và khó đoán hơn. Điều này khiến cho việc theo dõi chặt chẽ diễn biến trong những tháng tới trở nên rất quan trọng để có thể hiểu được ý nghĩa đầy đủ của sự kiện này đối với các chính sách đối nội và đối ngoại, cũng như tương lai chính trị và kinh tế của đất nước này. Với tư cách là người quan sát, đây là một cơ hội tuyệt vời để có cái nhìn sâu hơn về bối cảnh chính trị của Việt Nam, đồng thời hiểu được những thay đổi và thách thức mà đất nước này đang phải đối mặt.
Thiên hạ, trong đó có đứa thường dân như tôi, quên cả tết đã đến đ*t, bởi đang chú mục chú tâm vào chuyện bãi chức chủ tịch nước đối với đương sự Phúc dù ông ta mới được nửa nhiệm kỳ.
Cái sự giả dối, giả dối công khai, nó bộc lộ ngay ở thượng tầng, dân ta quen gọi là trung ương.
Thực chất của vụ việc, bản thân những ông bà trung ương cũng như dân chúng đều biết cả, nhưng họ cứ nói lấy được, kiểu như tao cứ tuyên bố thế đấy, chúng mày làm gì được tao.
Đây, trong bản thông cáo về cuộc họp mà trung ương công bố chiều qua có đoạn như thế này: “Trung ương Đảng khóa XIII đã họp xem xét và cho ý kiến về nguyện vọng thôi giữ các chức vụ, nghỉ công tác và nghỉ hưu của đồng chí Nguyễn Xuân Phúc...”.
Tôi nói thật, không đời nào có thứ nguyện vọng tự giác mà họ gán cho ông Phúc. Đó chỉ là cách diễn đạt của âm mưu mà người cộng sản đã quen dùng, còn giả dụ có lá đơn trình bày nguyện vọng thực thì ai cũng biết nó được viết ra trong sự ép buộc, không tin cứ hỏi đương sự Phúc.
Ông Phúc làm chủ tịch nước từ tháng 4.2021, cũng có nghĩa rời ghế thủ tướng, không còn điều hành chính phủ tại thời điểm ấy, để trao quyền nắm chính phủ cho ông Phạm Minh Chính. Bản thông cáo nói trên quy tội cho ông Phúc như sau: “Đồng chí chịu trách nhiệm chính trị của người đứng đầu khi để nhiều cán bộ, trong đó có 2 đồng chí Phó Thủ tướng, 3 bộ trưởng có vi phạm, khuyết điểm, gây hậu quả rất nghiêm trọng; 2 đồng chí Phó Thủ tướng đã xin thôi giữ các chức vụ, 2 bộ trưởng và nhiều cán bộ bị xử lý hình sự“.
Cần nói toẹt ra rằng, đám bị xử lý kia, những phó thủ tướng, bộ trưởng, cán bộ… đều là người của chính phủ, thời ông Chính trị nhậm. Hầu hết những sai phạm của chúng liên quan tới chống dịch Covid, tới Việt Á, tới bay giải cứu, chủ yếu trong thời ông Chính chứ không phải thời đương sự Phúc. Nay đổ cả cho Phúc thì khác gì coi ông ấy như cái thùng rác, không công bằng với ông ta.
Ông anh trai tôi sinh thời thường cười bảo, cái xã hội này đểu, phù thịnh chứ không phù suy, bất cần đạo đức, phải trái, đúng sai. Khi phủ chúa đã lấn át cung vua thì vua cũng chỉ là con rối trong tay chúa. Thực chất của lưỡng đầu chế thời hiện đại suốt 2/3 thế kỷ là vậy. Giờ ngẫm lại, thấy anh mình nói đúng.
Chiều nay 18-1-2023, Quốc hội khoá 15 nhóm họp phiên bất thường theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, để giải quyết khủng hoảng nhân sự cấp cao. Cũng như Phạm Bình Minh và Vũ Đức Đam, ông Nguyễn Xuân Phúc phải chịu “xét xử” lần hai. Lần một, ông Phúc bị lột hết chức vụ trong đảng và lần hai, ông bị tước bỏ vị trí quyền lực nhà nước.
Quy trình cán bộ kiểu cộng sản bày ra, đúng là bẽ mặt người trong cuộc. Hài kịch lên đỉnh điểm, khi nguyên thủ quốc gia phải cúi đầu chịu đựng tròn vai diễn trên sân khấu chính trị.
Trở lại thời điểm gần bảy năm trước, sáng 2-4-2016, sau khi tái trúng cử Trung ương khoá XII, Trần Đại Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Công an được Quốc hội bầu giữ chức Chủ tịch nước, thay ông Trương Tấn Sang, về vườn “làm người tử tế”. Thời điểm này có thông tin rò rỉ, rằng ông Nguyễn Phú Trọng sẽ làm Tổng Bí thư nửa nhiệm kỳ, sau đó sẽ nhường lại cho ông Quang.
Hơn hai năm sau, ngày 21-9-2018, Trần Đại Quang chết vì “bệnh lạ”. Hai ngày sau, Trung ương đảng chỉ đạo Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nhóm họp, ra thông báo để bà Đặng Thị Ngọc Thịnh, Phó Chủ tịch nước, giữ quyền Chủ tịch nước, cho đến khi Quốc hội bầu Chủ tịch nước mới.
Ngày 23-10-2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng viết kịch bản và đạo diễn, để quốc hội bầu ông ta làm Chủ tịch nước, với số phiếu 99,79%.
Tháng 4-2019, trong vai trò tổng bí thư kiêm chủ tịch nước, Nguyễn Phú Trọng bị đột quỵ tại Kiên Giang trong chuyến đầu tiên kinh lý phương Nam. Sau lần đó, mệt mỏi, ôm không xuể hai chức, trách nhiệm phải đi nhiều, tiếp khách nhiều, ông Trọng bắn thông tin sẽ sang bớt ghế, thậm chí sẽ không tái cử chức Tổng bí thư nhiệm kỳ ba.
Thế nhưng, tại đại hội XIII, cho rằng không tìm ra người xứng đáng, ông Trọng bắt tay ông Phúc để làm “nhân sự đặc biệt”, nhằm tái cử. Ông Trọng ung dung ngồi ghế lãnh đạo tối cao của đảng, nhiệm kỳ 2021-2026 và chia ghế Chủ tịch nước cho ông Phúc.
Sáng 1-2-2021, ông Trọng tâm sự tại buổi họp báo sau khi bế mạc Đại hội XIII rằng: “Bây giờ tôi không được khỏe lắm, tuổi cũng đã cao, cũng xin nghỉ rồi, thế nhưng Đại hội bầu phải làm, Đảng viên thì phải chấp hành”. Chiều 2-4-2021, quốc hội đã miễn nhiệm chức chủ tịch nước của Nguyễn Phú Trọng và bầu Nguyễn Xuân Phúc làm tân chủ tịch nước. Như vậy, ông Phúc là người miền Trung thứ tư, tính từ sau năm 1975, liên tục nắm giữ ghế chủ tịch nước sau Võ Chí Công (1987-1992), Lê Đức Anh (1992-1997) và Trần Đức Lương (1997-2006).
Nguyễn Xuân Phúc tuyên thệ nhậm chức chủ tịch nước năm 2021. Nguồn: Quốc hôi VN
Về lý thuyết, quyền lực của chức Chủ tịch nước chỉ mang tính tượng trưng. Nhưng là “tứ trụ” triều đình, hàm Uỷ viên Bộ Chính trị cùng đặc quyền, đặc lợi ngút trời, vì vậy nhiều quan chức muốn ngồi vào cái ghế này.
Tại đại hội VIII, nhiệm kỳ 1996-2001, ở tuổi 73, tướng Đoàn Khuê giấu bệnh ung thư để vào Bộ Chính trị, tranh giành ghế chủ tịch nước. Bệnh tình bị lộ ra, tướng Khuê không được cơ cấu, năm 1999 thì ông qua đời.
Tháng 7-2015, tướng Phùng Quang Thanh hăm he tái cử Uỷ viên Bộ Chính trị khoá XII, nhiệm kỳ 2016-2021, tranh ghế Chủ tịch nước nhưng ông ta bị bắn, suýt bỏ mạng ở Pháp.
Hai dẫn chứng trên để thấy sự khốc liệt, không khoan nhượng trong cung đình cộng sản. Các đảng viên cộng sản sẵn sàng rút dao đoạt mạng, kết liễu sự nghiệp các “đồng chí” của mình.
Quay lại câu chuyện Nguyễn Xuân Phúc, nếu như khi đương kim chức chủ tịch nước, đích ngắm của Trần Đại Quang vẫn là ghế Tổng bí thư, thì ngược lại ông Phúc có vẻ bằng lòng với vị trí có được sau khi trả chức thủ tướng. Nếu không nổ ra đại án Việt Á và “chuyến bay giải cứu”, có lẽ ông Phúc sẽ vẫn còn chúc Tết dài dài đến hết năm 2025.
Trong đảng, việc người thân trong gia đình cán bộ cấp cao lợi dụng quyền lực để trục lợi, thì đã có truyền thống. Nhiều lắm, chỉ đếm sơ qua, nào là con trai Lê Duẩn, con gái Nguyễn Chí Thanh, vợ Văn Tiến Dũng, con gái và vợ bé Võ Văn Kiệt, vợ bé Nông Đức Mạnh, con trai Phan Văn Khải, con trai Nguyễn Minh Triết, con gái Nguyễn Tấn Dũng… và bây giờ đến vợ con Nguyễn Xuân Phúc. Tuy nhiên, việc tước bỏ mọi chức vụ, phế truất giữa chừng khỏi ghế chủ tịch nước của Nguyễn Xuân Phúc khi ông ta ngồi chưa đầy hai năm, là việc chưa từng có tiền lệ trong đảng cộng sản Việt Nam.
Ai sẽ là Chủ tịch nước?
Chiều nay, chắc chắn Nguyễn Phú Trọng sẽ được bầu kiêm nhiệm ghế chủ tịch nước lần thứ hai, cái ghế mà Nguyễn Xuân Phúc vừa bị phế. Ông Trọng có thể sẽ ngồi đến năm 2024, sau đó sẽ chuyển giao quyền lực.
Liệu ông Trọng sẽ giơ tay tuyên thệ lần thứ hai vị trí chủ tịch nước? Ảnh trên mạng
Đường còn dài, chưa ai quả quyết được bất cứ điều gì, khi mà những cuộc so găng thượng tầng chính trị vẫn đang tiếp diễn. Nhiều dự báo, ông Trọng sẽ chuyển giao ghế chủ tịch nước cho Tô Lâm, để dễ bề đặt Vương Đình Huệ lên ghế Tổng Bí thư, nhằm tránh một cuộc thanh toán đẫm máu.
Nếu vậy, Nguyễn Phú Trọng rút lui khỏi chính trường trong thế ngẩng cao đầu như tam nhân Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt năm xưa. Vương Đình Huệ cùng Tô Lâm chia nhau vị trí số 1 và 2, hai ông chắc suất “nhân sự đặc biệt” để tiếp tục là bộ đôi ổng bí thư – chủ tịch nước tại đại hội 14, nhiệm kỳ 2026-2031.
“Nhân tố bí ẩn” Vương Đình Huệ – Tô Lâm. Ảnh trên mạng
Dự đoán năm 2023, chính trường Việt Nam còn rất nhiều biến động khó lường. Sau Nguyễn Xuân Phúc, đến lượt Phạm Minh Chính, được đồn đoán là “con hổ” thứ hai sẽ bị thanh trừng, do liên quan đến Nguyễn Thị Thanh Nhàn và tập đoàn AIC.
Như vậy sẽ có thêm những đại thần về vườn làm thứ dân. Dân chúng cần lao mãi mãi còng lưng để nuôi một thể chế mà ở đó thượng tầng chính trị và cả một hệ thống từ trung ương đến địa phương vừa tham lam, lại vừa hung tàn.
Đưa dân đi làm mướn để khẳng định… ‘vị thế, cơ đồ’?
Theo một nghị quyết của Chính phủ Việt Nam vào tháng 7/2022, những người tham gia chương trình xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc được vay tiền ký quỹ 100 triệu đồng. Photo Cổng thông tin Chính phủ.
Nam Hàn đang chuẩn bị để điều chỉnh chính sách cư trú dành cho người ngoại quốc. Theo đó, Bộ Lao động Nam Hàn sẽ mở rộng thời gian cư trú của lao động phổ thông từ ngoại quốc đến Nam Hàn làm việc cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Nam Hàn từ 4 năm 10 tháng thành mười năm nếu những người ngoại quốc này đã làm việc liên tục cho doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định (sáu tháng, 24 tháng hoặc 30 tháng tùy lĩnh vực) và hội đủ một số điều kiện về Chương trình đào tạo hội nhập, về Hàn ngữ…
Bộ Lao động Nam Hàn cũng đã bổ sung một số loại việc như bốc vác, vận chuyển thịt… vào danh mục xét cấp visa làm việc ngắn hạn (dưới ba tháng). Bộ Lao động Nam Hàn còn cho biết thêm là nếu Bộ Tư pháp đồng ý thì thời gian mà người ngoại quốc được phép cư trú ở Nam Hàn để làm việc cho các doanh nghiệp Nam Hàn có thể dài hơn. Họ hy vọng việc điều chỉnh sẽ hỗ trợ cho các doanh nghiệp Nam Hàn chủ động về nhân lực để duy trì và phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh (1).
Vào thời điểm này, Đài Loan cũng có nỗ lực tương tự Nam Hàn. Cơ quan có tên là Viện Hành chính ở Đài Loan mới chuyển “Dự luật sửa đổi một số điều khoản của Luật Xuất nhập cảnh và Nhập cư” cho Viện Lập pháp của Đài Loan xem xét để phê duyệt. Dự luật vừa đề cập sửa đổi nội dung 52 điều khoản hiện hành nhằm “nới lỏng các quy định về lưu trú và cư trú, tạo ra môi trường thân thiện nhằm thu hút nhân tài đến làm việc và định cư tại Đài Loan, đồng thời gia tăng hình phạt để hạn chế cư trú bất hợp pháp”.
Trong tương lai gần, những người ngoại quốc nằm trong nhóm được xác định là nhân tài (giảng viên đại học, chuyên gia khoa học, cố vấn học thuật,…) có thể nhập cảnh Đài Loan không cần visa, sau đó có thể đến Sở Di dân để xin hưởng quy chế cư trú vĩnh viễn cho chính mình, người phối ngẫu và con cái,…Ngược lại, nhằm hạn chế cư trú bất hợp pháp, Đài Loan sẽ nâng tiền phạt lên khoảng 15 lần, nâng thời gian cấm nhập cảnh lên khoảng ba lần và tăng mức phạt tương ứng với những ai môi giới, che giấu, kể cả phạt tù (2)…
***
Giống như Nam Hàn và Đài Loan, Việt Nam cũng đang trong giai đoạn chờ giao thừa âm lịch mở ra một năm mới nhưng khác với Nam Hàn và Đài Loan, cả hệ thống chính trị lẫn hệ thống công quyền ở Việt Nam không làm gì cả dù kinh tế – xã hội Việt Nam đang đối diện với đủ loại vấn nạn nghiêm trọng đe dọa từ kinh tế đến xã hội: Doanh nghiệp bất kể quy mô tạm ngưng hoạt động hoặc xin giải thể càng ngày càng nhiều, thất nghiệp càng ngày càng cao, tất cả các giới đều bi quan vì bế tắc về tương lai…
Hoạt động chính của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền suốt từ năm ngoái đến nay vẫn thế, vẫn chỉ xoay quanh sắp đặt – bổ nhiệm nhân sự rồi xem xét – kỷ luật – truy cứu trách nhiệm hoặc… miễn nhiệm những nhân sự mới được sắp đặt – bổ nhiệm. Tình trạng bi thảm của nhiều giới (doanh nhân, công nhân, nông dân,…), đặc biệt là các thành phần yếu thế được qui cho… “diễn biến phức tạp trên thế giới” và “sự chống phá điên cuồng cũng như các âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của những thế lực thù địch, phản động”.
Nếu không có gì mới và khó mà có thể có gì mới, ít ngày nữa, trước ngưỡng năm mới âm lịch, cả trăm triệu người Việt sẽ tiếp tục nghe lại điệp khúc, đại loại: Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay nhờ nỗ lực phấn đấu bền bỉ, tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại (3)…
Nam Hàn và Đài Loan cũng ở châu Á nhưng vì không có đảng cộng sản lãnh đạo nên bị xếp vào “nhóm tư bản” mà giữa năm 2021 từng bị ông Nguyễn Phú Trọng phê phán là “đang khủng hoảng và liên tục gây ra các cuộc khủng hoảng” – những cuộc… “khủng hoảng” khiến kinh tế khát nhân lực thành ra phải điều chỉnh chính sách nhập cư, cư trú để… “lôi kéo” ngoại nhân đổ tới, góp sức, góp trí cho việc ổn định và phát triển sản xuất, thương mại, dịch vụ.
Bởi Việt Nam không thuộc… “nhóm”… đáng thương này nên đi theo hướng ngược lại. Có thể do kinh tế và xã hội Việt Nam đang trên đỉnh của sự… “ổn định” nên vài năm nay, các hệ thống từ trung ương đến địa phương đồng thanh thuyết phục đồng bào nên thu xếp ra nước ngoài làm mướn bởi con đường đó giống như “cơ hội” duy nhất đạt tới “quốc thái, dân an” (4). Thậm chí, tháng rồi, BCH TƯ Đoàn TNCS HCM còn muốn xác định việc gửi thanh niên ra ngoại quốc làm mướn là… “nhiệm vụ trọng tâm”, nhiệm kỳ này Đoàn TNCS HCM cần “tham gia tuyên truyềnđể thanh niên hiểu rõ lợi ích của việc đi lao động xuất khẩu theo thời hạn, để có nhiều thanh niên tham gia xuất khẩu lao động” nhờ vậy có thể đạt… “chỉ tiêu” là… chuyển được 500.000 “chủ nhân tương lai của quốc gia” sang diện làm… mướn cho ngoại nhân trên xứ người (5).
Khi xuất khẩu lao động được xem như giải pháp khả thi nhất để phát triển kinh tế – xã hội thì chuyện Tổng Bí thư đảng CSVN dõng dạc: Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay nhờ nỗ lực phấn đấu bền bỉ, tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, vớithực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại… dường như chẳng có gì sai, còn đúng ở chỗ nào thì tùy… người nghe!