Bài đăng nổi bật

Việc Cuba thả tù nhân không bao gồm những người chỉ trích

  Việc Cuba thả tù nhân không bao gồm những người chỉ trích. Chính phủ nên trả tự do vô điều kiện cho những người bị giam giữ vì bất đồng ch...

Hiển thị các bài đăng có nhãn Luật Khoa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Luật Khoa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 27 tháng 3, 2019

Người vô hình ở trại T16

Người vô hình ở trại T16

Published
  
on
 
Trương Duy Nhất - người vô hình ở Trại tạm giam T16. Đồ hoạ: Luật Khoa. 
Sau gần hai tháng im lặng trước sự mất tích của ông Trương Duy Nhất, tối ngày 25/3, các cơ quan truyền thông nhà nước đồng loạt loan tin về việc điều tra nhân vật này.  
Chánh Văn phòng Cơ quan Cảnh sát Điều tra Bộ Công an cho biết, “trong quá trình điều tra mở rộng vụ án Vũ ‘nhôm’, cơ quan điều tra Bộ Công an đã phát hiện có dấu hiệu sai phạm liên quan đến ông Trương Duy Nhất”.
Thông tin này được đưa ra trong buổi họp báo thường kỳ của Bộ Công an. Tuy nhiên, trước câu hỏi của phóng viên về việc có thông tin cho rằng ông Trương Duy Nhất đã bị bắt là có chính xác không, đại diện của Bộ này, Trung tướng Trần Văn Vệ cho hay, “hiện vụ việc đang trong quá trình điều tra chưa thể cung cấp thông tin cụ thể”, báo Soha dẫn lời.
Người vô hình
Như vậy tính đến thời điểm này, không một cơ quan chức năng nào chính thức xác nhận đã bắt và giam giữ ông Trương Duy Nhất.
Ông Nhất, người được công chúng biết đến là một nhà báo và là chủ trang blog “Một góc nhìn khác”, được gia đình loan báo mất tích vào ngày 26/1, chỉ một ngày sau khi ông đến Văn phòng Cao ủy Tị nạn Liên Hợp Quốc tại , Thái Lan để xin tị nạn.
Thông tin manh mối đầu tiên về số phận của blogger này sau nhiều tháng mất tích lại đến từ một cuộc gọi nặc danh cho vợ ông.
Theo BBC Việt ngữ, dẫn lời cô Trương Thục Đoan, con gái ông Nhất, cho biết: “Một người, hôm 15/3, không biết là ai, gọi cho mẹ ở Việt Nam báo là ba hiện đang bị giam ở T16”. 
Cũng theo nguồn tin này, hôm 20/3, vợ ông Nhất từ Đà Nẵng bay ra Hà Nội nhằm xác thực thông tin về nơi giam giữ chồng mình. 
Tại T16 (ký hiệu của Trại Tạm giam của Cơ quan Cảnh sát Điều tra – Bộ công an), điều bất ngờ đã xảy ra khi cán bộ trại giam cho bà gửi nhu yếu phẩm tiếp tế và cấp cho sổ thăm nuôi, dù bà không được cho gặp chồng mình. Theo thông tin từ sổ thăm nuôi này, ông Nhất bị bắt vào ngày 28/1/2019 và được chuyển đến trại giam T16 trong cùng ngày.
Qua quyển sổ thăm nuôi, cơ quan chức năng như đã gián tiếp thừa nhận việc bắt và đang giam giữ ông Nhất. Dù vậy, ông vẫn như một “bóng ma” trong tiến trình pháp lý không thể xác định, từ việc bắt giữ trước đây cho tới sự giam cầm tại thời điểm này.
Theo cách mô tả của Human Rights Watch, những người bị giam cầm trong tình trạng này được gọi là… “bóng ma trong trại giam”. Đó là những người bị bắt bí mật, bị giam giữ bí mật, bị giới chức bắt giam nhưng không thừa nhận, và bị tước đoạt đi tất cả các quyền con người của họ.
Khe cửa hẹp ở T16 mở ra cho chúng ta thấy lấp ló một “bóng ma” – đó là Trương Duy Nhất, người bị bị tước đoạt đi tất cả quyền cơ bản của một người bị bắt và giam cầm.
Một hình ảnh được cho là chụp Trương Duy Nhất ở Thái Lan, trước khi mất tích. Ảnh: Facebook Người Buôn Gió.
Bắt bí mật, giam bí mật
Theo Điều 116 Bộ luật Tố tụng Hình sự, trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận người bị bắt giữ, cơ quan điều tra phải thông báo cho gia đình người bị bắt giữ biết. Tuy nhiên, cơ quan điều tra tiến hành vụ bắt giữ đã không thông báo cho gia đình ông theo như luật định.
Dù thân nhân của ông đã gửi “đơn thỉnh cầu giúp đỡ tìm người thân” đến cơ quan chức năng Việt Nam vào ngày 9/2 để làm rõ tình trạng của ông nhưng không được phản hồi. Đến thời điểm này, vẫn không một thông báo hay quyết định từ cơ quan chức năng xác nhận chính thức về việc đã bắt và giam giữ ông Nhất.
Luật nhân quyền quốc tế cấm – mọi lúc và mọi nơi – hành vi bắt giữ mà không thừa nhận, bắt giữ bí mật, giam giữ bí mật, bắt cóc hay cưỡng bức mất tích (Đoạn 13, Bình luận chung số 29 của Ủy ban Nhân quyền LHQ) 
Vi phạm quyền gặp thân nhân và người bào chữa
Theo Điểm d, Khoản 1, Điều 9 Luật Thi hành Tạm giữ, Tạm giam quy định, người bị giam giữ có quyền được gặp thân nhân và người bào chữa. Cũng theo luật này, tại Điều 22 quy định, người bị giam giữ được gặp thân nhân một lần trong một tháng, mỗi lần gặp không quá một giờ; và người bào chữa được gặp người đang bị giam giữ để thực hiện bào chữa.
Tuy nhiên, đã gần hai tháng bị giam giữ, không một thân nhân, luật sư đại diện nào của ông Nhất được cơ quan chức năng cho phép tiến hành cuộc thăm gặp nào, dù họ đã đến Trại tạm giam T16.
Bộ luật Tố tụng Hình sự có quy định, việc thăm gặp của thân nhân có thể bị từ chối trong một số trường hợp nhằm đảm bảo bí mật công tác điều tra vì lý do an ninh quốc gia, nhưng với điều kiện phải trả lời bằng văn bản và giải thích rõ lý do từ chối cho thăm gặp.
Việc từ chối cho thăm gặp trong trường hợp của ông Nhất đã không đáp ứng được điều kiện theo luật định. Hành vi này của cơ quan điều tra và trại giam T16 đã vi phạm vào quy định bị nghiêm cấm, đó là, cản trở người đang bị giam giữ thực hiện quyền thăm gặp thân nhân và người bào chữa, được quy định tại Điều 8 Luật Thi hành Tạm giữ, Tạm giam.
Ông Trương Duy Nhất cùng vợ (phải) và con gái (trái) tại sân bay Vinh năm 2015. Ảnh: Facebook Trương Huy San.
Ngăn cản sự hỗ trợ pháp lý kịp thời
Theo Bộ luật Tố tụng Hình sự, tại Điều 16 quy định người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa; và tại Khoản 1, Điều 75 quy định người bào chữa do người bị buộc tội hoặc người thân thích của họ lựa chọn.
Theo nội dung “đơn thỉnh cầu giúp đỡ tìm người thân” gửi đến cơ quan chức năng, vợ ông Nhất cho biết đã mời luật sư Trần Vũ Hải là người đại diện pháp luật cho ông Nhất. Luật sư Hải cũng xác nhận với đài RFA vào chiều ngày 13/2/2019, rằng ông là luật sư đại diện của Trương Duy Nhất theo đề nghị của gia đình và theo nguyện vọng trước đây của ông Nhất.
Tuy nhiên, đến thời điểm này, luật sư đại diện cho ông Nhất vẫn không được phép tiếp xúc với ông.
Quyền hỗ trợ pháp lý kịp thời của ông Nhất trong trường hợp này đã bị vi phạm. Sự vi phạm này cấu thành việc ngăn cản luật sư tham gia vào vụ án, cũng như ngăn cản luật sư tham gia vào việc lấy lời khai, hỏi cung trong quá trình điều tra, được quy định theo Khoản 1, Điều 73 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Dù Bộ luật Tố tụng Hình sự có quy định, trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân có thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra. Tuy nhiên, cũng không có một quyết định nào của Viện Kiểm sát được đưa ra trong trường hợp này, và quy định này cũng không phù hợp với luật nhân quyền quốc tế.
Theo đó, nhằm chống lại việc các chính phủ ngăn cản luật sư hỗ trợ kịp thời cho những người bị bắt giữ, vào năm 1990, Liên Hợp Quốc đã thông qua các Nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư, tại Điều 7 quy định: “Tất cả những người bị bắt hay bị giam, dù có bị cáo buộc phạm tội hình sự hay không, đều phải được nhanh chóng tiếp cận luật sư và trong bất kỳ trường hợp nào cũng không chậm quá 48 giờ kể từ khi bị bắt hay bị giam”.
Biệt giam, tra tấn hay đối xử vô nhân đạo
Chính quyền luôn bác bỏ cáo buộc rằng có hình thức biệt giam trong các trại giam giữ tại Việt Nam, mà chỉ thừa nhận hình thức “giam riêng”. Tuy nhiên, theo Nguyên tắc bảo vệ những người bị giam hay bị cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào được Liên Hợp Quốc thông qua năm 1988, biệt giam không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là giam giữ cô lập riêng biệt, mà còn bao gồm hình thức giam giữ mà người bị giam giữ không được tiếp xúc với thế giới bên ngoài, trong đó có việc không được  liên lạc với thân nhân và luật sư của họ.
Dù không thể xác định được tình trạng giam giữ hiện nay của ông Nhất là “giam riêng” hay “giam chung” với những người khác, nhưng việc cấm ông Nhất liên lạc với thân nhân và luật sư, cũng như không có một quyết định chính thức nào xác nhận nơi giam giữ ông Nhất, cho thấy quyền không bị biệt giam của ông Nhất đã bị vi phạm. 
Quá trình biệt giam ông Nhất đã được tiến hành trong gần hai tháng qua kể từ ngày bị bắt và vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Việc biệt giam kéo dài như vậy là cấu thành một hành vi tra tấn, đối xử tàn ác hoặc vô nhân đạo, và ngược đãi người bị giam giữ.
Hình ảnh Trương Duy Nhất bị bắt ngày 26/5/2013. Ảnh: Tuổi Trẻ.
Giam giữ kéo dài nhằm “ép cung”
Tại Điều 9 Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) quy định, “bất kỳ người nào bị bắt hoặc bị giam giữ vì một tội hình sự phải được sớm đưa ra toà án hoặc một cơ quan tài phán có thẩm quyền thực hiện chức năng tư pháp” và “nhằm mục đích để toà án đó có thể quyết định không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ và ra lệnh trả lại tự do cho họ, nếu việc giam giữ là bất hợp pháp”.
Tại các quốc gia có hệ thống xét xử chuẩn mực, người bị bắt giữ sẽ được ra hầu tòa chỉ vài ngày sau khi bị bắt giữ để thẩm phán đánh giá xem việc bắt giữ này là có hợp pháp hay không, và xem xét liệu có cần thiết tiến hành tạm giam người bị bắt hay cho họ được tại ngoại trong khi chờ xét xử. Đây cũng là cơ hội để người bị bắt kịp thời lên tiếng về tính hợp pháp của việc việc bắt giữ. 
Trong khi đó, thủ tục tố tụng này không hề tồn tại trong quá trình tố tụng tại Việt Nam. Việc xem xét tính hợp pháp của lệnh bắt và tạm giam của cơ quan điều tra công an, theo luật được trao cho Viện Kiểm sát. Tuy nhiên, các quyết định phê chuẩn lệnh bắt và tạm giam từ Viện Kiểm sát không được tiến hành bằng một phiên tòa công khai mà chỉ dựa vào hồ sơ do cơ quan điều tra cung cấp, và được tiến hành bằng một quy trình khép kín.
Người bị bắt trong trường hợp này không có cơ hội để khiếu nại, lên tiếng bác bỏ tính hợp pháp của lệnh bắt và lệnh tạm giam đối với mình. Họ chỉ có cơ hội này tại phiên tòa xét xử, mà thông thường được mở sau khi phải trải qua quá trình tạm giam kéo dài ít nhất hai tháng đối với tội ít nghiêm trọng, và có thể lên tới 20 tháng đối với trường hợp liên quan đến an ninh quốc gia.
Hình thức giam giữ kéo dài trước khi xét xử về bản chất là một hình thức “ép cung” người bị giam giữ trong quá trình điều tra. Cộng với các biện pháp trừng phạt bổ sung khác như: giam giữ cách ly không cho tiếp xúc với thế giới bên ngoài; ngăn cản việc thăm gặp, liên lạc với gia đình và luật sư; tước đoạt quyền được hỗ trợ pháp lý kịp thời; che dấu tung tích và nơi giam giữ của người bị bắt giam v.v.. tất cả chỉ để nhằm gây áp lực để người đang bị giam giữ phải thú nhận tội lỗi và khai báo theo yêu cầu của cơ quan điều tra.
Như vậy, quyền không bị giam giữ kéo dài, được nhanh chóng đưa ra tòa xét xử đã bị vi phạm không chỉ đối với riêng ông Nhất, mà ở hầu hết các vụ án hình sự tại Việt Nam. 
Nếu ông Trương Duy Nhất được nhanh chóng đưa ra tòa ngay sau khi bị bắt, chúng ta sẽ biết được ông bị bắt vì nguyên nhân gì, quá trình tiến hành bắt giữ ra sao, việc bắt giữ này là hợp pháp hay là “bắt cóc”… để từ đó có thể ngăn chặn việc cơ quan điều tra biến một người khi bị bắt trở nên mất tích, và giam giữ cầm cố tùy tiện.
Tước đoạt  quyền được công nhận là một thể nhân
Nhìn lại quá trình từ lúc ông Nhất bị mất tích tại Thái Lan cho đến khi có dấu hiệu xuất hiện tại Trại tạm giam T16, có thể thấy ông đã bị bắt bí mật, bị giam giữ bí mật, bị tước đoạt tất cả các quyền cơ bản của người bị bắt và bị giam cầm. Không một dấu hiệu nào cho thấy ông được cơ quan thực thi pháp luật bảo vệ. Điều này đã biến ông thành như một người vô hình trong trại giam và trước pháp luật.
Việc bắt và giam cầm như vậy là tước đoạt đi “quyền được công nhận là thể nhân trước pháp luật” được quy định tại Điều 16 của ICCPR. Theo quyền này, trong mọi hoàn cảnh, bất kỳ ai bị tước đoạt tự do vì bất kể nguyên nhân gì, luôn luôn được công nhận là một con người trước pháp luật, được pháp luật bảo vệ, mà trước tiên là bảo vệ bằng tiến trình tố tụng đảm bảo các quyền của người bị bắt và giam giữ theo luật định.
Vì vậy, không chỉ riêng ông Nhất, mà bất kỳ ai, một khi đã bị tước đoạt đi quyền thể nhân của họ – tức tước đoạt đi sự công nhận là một con người trước pháp luật, đặt họ ra ngoài vòng bảo vệ của pháp luật, thì mọi sự nhân danh pháp luật sau đó – dùng pháp luật để kết án và trừng phạt họ, trong trường hợp này, tất cả đều là sự nhạo báng công lý.
Biến một người thành một bóng ma bị giam cầm, không bao giờ là cách hành xử của một nhà nước công chính. 
Từ khoá:
bắt: to arrest (v)
việc bắt giữ: arrest (n)
lệnh bắt: arrest warrant (np)
bị tạm giam: to be detained (v)
người bị tạm giam: detainee (n)
trại tạm giam: detention center (np)
cơ quan điều tra: investigative body/agency (np)
biệt giam: incommunicado detention (np)
tra tấn: to torture (v), torture (n)
quyền được hỗ trợ pháp lý: right to counsel, right to an attorney, right to legal representation (np)
quyền được thăm gặp: right to visitation (np)

Chùa chiền Đài Loan ngày càng hạn chế thắp hương và đốt vàng mã nhằm bảo vệ môi trường

Chùa chiền Đài Loan ngày càng hạn chế thắp hương và đốt vàng mã nhằm bảo vệ môi trường

Published
  
on
 
Du khách đang cầu nguyện tại chùa Long Sơn (Longshan) ở Đài Bắc. Ảnh: lifetoreset.wordpress.com. 
Mặc dù là một phong tục truyền thống có từ xa xưa, rất nhiều ngôi chùa, đền, miếu ở Đài Loan đang dần hạn chế việc thắp hương và đốt vàng mã do tác hại từ việc gây hỏa hoạn và ô nhiễm môi trường.
Hình Thiên Cung (Xingtian Temple), ngôi đền nổi tiếng thờ Quan Vũ tại Đài Bắc luôn thu hút hàng chục ngàn du khách mỗi năm. Tuy nhiên, kể từ tháng 8/2014, thay vì cách cầu khấn truyền thống là đốt hương hoặc vàng mã, du khách đến với Hình Thiên Cung chỉ chắp tay, cúi đầu thực hiện nghi thức cầu nguyện.
Giới chức sắc đền Hình Thiên Cung nói với báo chí rằng các nhà sản xuất nhang thường thêm hóa chất, chẳng hạn như benzen, methylbenzene, gây hại cho sức khỏe của những người thờ cúng. Do vậy, đền chuyển hướng sang thắp các cây hương tỏa ra ít khói hơn và thân thiện với môi trường.
Cheng Wen-bin, người phát ngôn của đền này, nói rằng Hình Thiên Cung đã phát đi thông điệp về việc nên tôn kính thần linh từ trong tâm hơn là qua các nghi lễ hình thức. Theo đó, nếu một người thành tâm, không thắp hương hay cúng vái cũng vẫn sẽ được các vị thần chấp nhận.
“Mọi người đến đây cầu xin một cuộc sống tốt đẹp và khỏe mạnh hơn, vì vậy thật phản tác dụng nếu họ phải hít thở khói và bụi có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe,” ông Wu Yueh-yu, một chức sắc của đền chia sẻ.
Đền Xingtian cũng đã gỡ bỏ lò đốt tiền giấy của mình để ngăn những người đến thờ phượng đốt quá nhiều gây hỏa hoạn và ô nhiễm không khí.
Nhiều báo cáo của các tổ chức độc lập cho biết, các sản phẩm liên quan đến hương có chứa mật độ cao các hạt bụi mịn PM 2.5 siêu nhỏ cực kỳ nguy hiểm, gồm các chất độc hại benzen và methylbenzene làm tăng nguy cơ ung thư ở đường hô hấp và các bệnh tim.
Nhiều ngôi đền trên khắp Đài Loan hiện nay đã thay thế các lò đốt tiền giấy bằng lò đốt chỉ hở một khe nhỏ đủ để đưa tiền giấy vào nhằm khiến tro bụi không lan rộng.
Các nhà sinh thái học cũng khuyến cáo rằng việc đốt tiền giấy gây ra những vấn đề không tốt cho sức khỏe con người.
Một trong những ngôi chùa khác, lâu đời và nổi tiếng nữa là chùa Long Sơn (Đài Bắc) cũng đã thực hiện lời kêu gọi bảo vệ môi trường của chính quyền. Ngôi chùa này hiện giới hạn mỗi khách thập phương chỉ được đốt một nén nhang và giảm số lượng bát hương từ bảy xuống còn một.
Các nơi thờ cúng khác ở Đài Loan cũng đã hạn chế số lượng nhang được phép sử dụng trong những nghi lễ thờ phượng. Trước đây, mọi người thường tin rằng họ thắp càng nhiều hương, đốt càng nhiều vàng mã cho vị thần thì càng được phù hộ, nhưng hiện nay, nhiều người Đài Loan đang nghĩ khác đi. Họ tin sự thành tâm mới là điều quan trọng. Hầu hết các ngôi đền hiện nay ở Đài Loan khuyến khích các tín đồ không đốt hương, hoặc nếu chùa, đền thoáng và ít du khách ghé thăm thì chỉ đốt ba đến mười nén hương.
Đài Loan đang rất nỗ lực hạn chế tác hại môi trường của việc đốt nhang. Ảnh: Taiwan News.
Chính quyền Đài Bắc cũng khuyến khích người dân không đốt pháo mỗi dịp Tết đến xuân về để hạn chế khói và ô nhiễm tiếng ồn. Thay vào đó, người dân có thể mở đĩa CD với những âm thanh giống tiếng pháo nổ hoặc thu âm tiếng pháo từ những năm trước để tạo ra bầu không khí tương tự.
Tại thành phố Tân Bắc, những chiếc đèn lồng thả trôi sông gây ô nhiễm dòng sông đã được thay thế bằng một bức tường đèn lồng bao quanh các ngôi đền.
Theo tờ Straits Times, kể từ năm 2018, Đài Loan quyết định sẽ thắt chặt việc sản xuất và nhập khẩu hương để đảm bảo các sản phẩm hương đốt không chứa lượng lớn chất hóa học có thể gây ra ô nhiễm môi trường.
“Chúng tôi quan tâm đến môi trường và không muốn các hoạt động tâm linh của mình làm hại đến người khác”, ông Hsu Wen-bao, Chủ tịch Tổng Hiệp hội Đạo giáo Đài Loan, nói. Ông cũng cho biết, các đền chùa nên được phép thực hiện những biện pháp thân thiện môi trường “vào thời điểm thích hợp nhất với họ”.
Tính đến giữa năm 2017, khoảng 1.100 ngôi đền, chùa tại Đài Loan đã làm việc với chính quyền địa phương để áp dụng chính sách hạn chế việc đốt hương, vàng mã và tiền giấy. Năm 2016, số lượng vàng mã đốt ở Đài Loan là 195.000 tấn, giảm 15.000 tấn so với năm 2015.
Chính phủ Đài Loan cũng nói thêm rằng họ sẽ không ra lệnh cấm, nhưng kêu gọi các nhóm tôn giáo có các biện pháp phù hợp nhằm giảm bớt nguy cơ ô nhiễm, hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng không khí của hòn đảo này.
Tuy nhiên, với bảy trong số 10 người Đài Loan theo Đạo giáo và Phật giáo, đề xuất của chính phủ nhằm hạn chế việc đốt hương và tiền giấy vẫn vấp phải sự phản đối trong giới tín đồ và các nhóm tôn giáo. Họ cho rằng phong tục này rất quan trọng. Một số người buộc tội chính quyền đàn áp tự do tôn giáo.
Lin Chien-kai, ông chủ một nhà hàng, người thường xuyên đến cầu nguyện tại một ngôi đền gần chợ đêm Raohe mỗi ngày, nói: “Làm thế nào mà chính quyền nghĩ tôi nói chuyện với thánh thần mà không cần thắp hương?”
“Thực tế thì khói bụi đến từ Trung Quốc nghiêm trọng hơn nhiều. Ô nhiễm không khí không phải chỉ do mỗi hoạt động tôn giáo”, trang fanpage của một ngôi chùa, viết.
Một nhóm tín đồ khác cũng không hài lòng, đặc biệt là những người cao tuổi. Họ nghĩ rằng chính phủ Đài Loan đang thiếu tôn trọng và ép buộc họ.
“Không dễ để thay đổi hoàn toàn và cần có thời gian”, ông Chin Chin-piao, trụ trì của một ngôi đền chia sẻ quan điểm.
Được biết hiện nay tại châu Á, không chỉ riêng Đài Loan mà cả Singapore cũng đang phải đối phó với những hệ lụy môi trường mà việc đốt hương, vàng mã đem lại. Có nhiều ý kiến ở Singapore cho rằng, truyền thống thờ phượng qua các nghi lễ trên đã lỗi thời bởi với diện tích sinh sống ngày càng hạn hẹp, chung cư chiếm đa số như ở Singapore, khói bụi và ô nhiễm từ việc đốt vàng mã đang gây ảnh hưởng lớn tới cuộc sống và sức khỏe của người dân.
Từ khóa: 
đền: temple (n)
chùa: pagoda (n)
nhanh, hương: incense (n)
thờ phượng thân thiện với môi trường: eco-friendly worship (np)
các phong tục truyền thống: traditional practices (np)
nghi lễ, nghi thức: ritual (n)
ô nhiễm môi trường: environmental pollution (np)
người thờ phượng, người thực hành nghi lễ: worshiper (n)
cầu nguyện: pray (v)
tôn giáo: religion (n)
các nhà môi trường học, nhà bảo vệ môi trường: environmentalist (n)

Hồng Vệ Binh: Cơn ác mộng khi thanh thiếu niên bị tiêm doping chính trị


Hồng Vệ Binh: Cơn ác mộng khi thanh thiếu niên bị tiêm doping chính trị

Published
 
on
 

Một cuộc mít-ting của Hồng Vệ Binh Trung Quốc năm 1966. Ảnh: Quillette. 


“Nghe cho kỹ! Chủ tịch Mao đã hối thúc chúng tôi nổi dậy và tiêu diệt bọn phản động, xét lại. Làm sao ông dám ngăn cản và đòi trừng phạt tôi. Ông nói đúng. Tôi không phải con trai của ông. Tôi thuộc về Chủ tịch Mao và Cách mạng.”
Hồng Kính: Những đứa con của Cách mạng Văn hóa Vô sản Trung Hoa.
***
Vào tháng 11 năm 1968, sau một ngày học sặc mùi chính trị như thường lệ ở trường tiểu học, La Hứa gặp một người bạn đồng môn trên đường về nhà.
“Tớ tin chắc cậu đã nghe về Nixon.”
“Nixon nào?” – La Hứa hỏi lại.
Người bạn của La Hứa trố mắt ngạc nhiên: “Tổng thống mới của Hoa Kỳ ấy.”
La Hứa đỏ mặt vì thẹn. Làm sao cậu có thể không biết về Nixon? Chủ tịch Mao Trạch Đông đã dặn dò mọi công dân, kể cả trẻ em, của Trung Hoa xã hội chủ nghĩa phải chú ý đến hoạt động kinh tế chính trị của nhà nước cũng như quốc ngoại. Ông rõ ràng khẳng định rằng cuộc Đại Cách mạng Văn hóa Vô sản tại Trung Quốc sẽ làm dấy lên làn sóng cách mạng vô sản toàn thế giới. Làm sao cậu có thể không biết về Nixon cơ chứ?
La Hứa giả vờ gằn giọng một câu chửi rủa hết sức thời trang để khỏa lấp nỗi xấu hổ của mình: “À, quả trứng thối to nhất trong những quả trứng thối của bọn đế quốc tư bản.”
La Hứa nay đã là giảng viên khoa Lịch sử của Đại học Công lập bang New York, chi nhánh Cortland, Hoa Kỳ. Cuộc trò chuyện giữa ông và người bạn học tiểu học nọ, theo ông, thật ra không quá đặc biệt. Đó là thứ mà những đứa trẻ sáu bảy tuổi ở Trung Quốc vẫn thường nói đến trong cuộc Đại Cách mạng Văn hóa Vô sản.
Bắt đầu từ thập niên 50, ý thức hệ Marx – Mao được tiêm nhiễm, nhồi nhét vào đầu hàng triệu trẻ em Trung Quốc. Với tư cách là thế hệ đầu tiên được sinh ra và lớn lên trong một nước Trung Hoa mới, dưới lá hồng kỳ cách mạng, những đứa trẻ này chấp nhận một cách vô tư bất kỳ điều gì chúng được dạy ở trường và những gì truyền thông nhà nước xả ra hàng ngày. Chúng tuyên thệ sự trung thành vô điều kiện dành cho Chủ tịch Mao kính yêu, cố gắng rèn luyện hằng ngày để trở thành những người kế thừa cách mạng xứng đáng, và hứa cống hiến cuộc đời mình cho lý tưởng cộng sản. Đây là nguồn lực chủ yếu cho sự trỗi dậy của Hồng Vệ Binh những năm sau đó.
Hồng Vệ Binh (Red Guards), theo quan sát của các nhà sử học và xã hội học chuyên về Trung Hoa, đến cuối cùng, cũng chỉ là những đứa trẻ không nhận được một hệ thống giáo dục nhân bản và hoàn thiện. Tuy nhiên, khác với trẻ em “hư” tại những quốc gia khác, Hồng Vệ Binh được nuôi dưỡng, khuyến khích, và hỗ trợ bởi thượng tầng kiến trúc chính trị quốc gia Trung Hoa. Hình thành một cách tự phát từ các thành phần thanh thiếu niên cực đoan hóa bởi lý tưởng Mao, phong trào nhanh chóng trở thành món đặc sản “điên khùng nhất” của Đại Cách mạng Văn hóa Vô sản tại Trung Quốc.

Hồng Vệ Binh xuất phát từ một phong trào học tập và sùng bái Chủ tịch Mao Trạch Đông. Ảnh: Chưa rõ nguồn.
Liều doping đến từ thượng tầng
Theo giáo sư sử học và chính trị học Roderick MacFarquhar (Đại học Harvard – Mỹ) và giáo sư Hoa ngữ Michael Schoenhals (Đại học Lund – Thuỵ Điển), nhóm cực đoan đầu tiên bắt đầu gọi mình là “Hồng Vệ Binh” bao gồm bảy học sinh của trường trung học trực thuộc Đại học Thanh Hoa (Tsinghua University – 清华大学) lừng danh ở Bắc Kinh.
Vài tuần sau khi Mao Trạch Đông phát động Đại Cách mạng Văn hóa Vô sản vào tháng 5/1966, nhóm Hồng Vệ Binh thứ nhất này sản xuất và tuyên truyền một số biểu ngữ, băng-rôn chỉ trích chương trình giảng dạy đại học (cũng như các cấp độ giáo dục khác) là chưa đủ vô sản, có nguồn gốc và chủ đích tư sản. Những ý tưởng này được cho là xuất phát từ các tạp chí, báo đài, và tư tưởng Mao Trạch Đông nói chung. Hiển nhiên, ban giám hiệu và các giáo sư đại học cũng nhanh chóng phản bác và gọi nhóm này là cực đoan, có các tư tưởng sai lệch – phản cách mạng.
Ngày 29/5, nhóm này tiếp tục gặp gỡ bí mật và thống nhất đã đến lúc cần phải hình thành một phong trào quần chúng có quy mô trong giới học sinh – sinh viên (và có vẻ không loại trừ cả thiếu niên – nhi đồng). Một poster tuyên truyền khác được ra đời và chính thức ký dưới cái tên chung Hồng Vệ Binh, trong đó kêu gọi:
“Bảo vệ nền chuyên chế vô sản và lý tưởng của Mao Trạch Đông bằng mạng sống của chúng ta…”
Nó cũng khẳng định:
“Kẻ nào dám chống lại lý tưởng Mao Trạch Đông, bất kể chúng là ai, bất kể chúng nhân danh điều gì, bất kể chúng có ở vị trí cao đến như thế nào, sẽ bị đập tan thành trăm mảnh.”
Bắt đầu với những cuộc diễu hành trên khắp cả nước, nhưng Hồng Vệ Binh chỉ thật sự tìm được động lực phát triển thành một thế lực có sức phá hoại sau khi lãnh đạo phong trào ở thời điểm này liên lạc được với vợ của Mao – Giang Thanh (Jiang Qing), người sau này cầm đầu “Tứ nhân bang” (Gang of Four). Giang Thanh giúp Hồng Vệ Binh chuyển các biểu ngữ tuyên truyền đến cá nhân Mao, cùng một lá thư thể hiện lòng trung thành. Chứng kiến “thành quả” giáo dục của mình, Mao đã trả lời nhóm Hồng Vệ Binh một cách nhiệt tình, thích thú. Chi tiết này được thuật lại trong cuốn “Cuộc Cách mạng Văn hoá” (The Cultural Revolution) của giáo sư sử học Frank Dikötter (Đại học Hong Kong).
Khi Hội nghị Trung ương lần thứ Ba của đảng Cộng sản Trung Quốc diễn ra vào ngày 1/9/1966, Mao chính thức cho lưu hành “Thư gửi các Hồng Vệ Binh của trường trung học trực thuộc Đại học Thanh Hoa“. Trong đó, ông hết lời ca ngợi tinh thần nổi dậy của các thiếu niên Trung Quốc nhằm chống lại chủ nghĩa tư bản, bọn xét lại (revisionists), và bọn phản động (reactionaries). Mao cũng cam kết sẽ ủng hộ hết mình các hoạt động của Hồng Vệ Binh để thực hiện thành công cuộc Đại Cách mạng Văn hóa Vô sản. Đúng vào lúc đảng Cộng sản Trung Quốc đang có những bất đồng về cách thức quản lý quốc gia và xây dựng hủ nghĩa xã hội giữa nhóm Mao Trạch Đông và nhóm Lưu Thiếu Kỳ (Liu Shaoqi) – Đặng Tiểu Bình (Deng Xiaoping), Hồng Vệ Binh là một sự bổ sung không thể hoàn hảo hơn.
Để thúc đẩy sự phát triển của phong trào sinh viên – học sinh cực đoan hơn nữa, Mao và tay chân thân cận tổ chức gặp gỡ, nói chuyện với hơn một triệu học sinh, thiếu niên, nhi đồng ở quảng trường Thiên An Môn. Khoảng 1.500 “lãnh đạo trẻ tuổi” của phong trào Hồng Vệ Binh cũng được mời lên tường thành Thiên An Môn để đứng cùng Mao, một vinh dự lớn vào thời điểm đó, và cũng là lời chứng thực không thể rõ ràng hơn của chính quyền Mao dành cho Hồng Vệ Binh. Tính đến cuối năm 1966, Mao đã tham dự và phát biểu khích lệ tại tám buổi diễu hành lớn, tập trung hơn 11 triệu thanh thiếu niên – nhi đồng trên toàn quốc.
Cảm thấy được trao quyền và ủng hộ, kèm theo quân số đông đảo, Hồng Vệ Binh hung hãn lật tung mọi giá trị văn hóa xưa cũ của Trung Hoa.

Hồng Vệ Binh, vốn là học sinh trung học và sinh viên đại học, cầm cuốn “Mao tuyển” diễu hành trên đường phố Bắc Kinh vào tháng 6/1966. Ảnh: Jean Vincent/AFP/Getty Images.
Hoành hành 
Trong nửa sau năm 1966, tờ Nhân dân Nhật báo (People’s Daily – một trong các cơ quan tuyên truyền chính yếu của đảng Cộng sản Trung Quốc) cho đăng bài kêu gọi “Phá Tứ Cựu” (Four olds): Lý tưởng cũ, Văn hóa cũ, Tập quán cũ và Thói quen cũ. Họ cáo buộc rằng chúng đang tiếp tục đầu độc xã hội và ngăn chặn Trung Quốc tiến lên xã hội chủ nghĩa. Ngay hôm sau, Hồng Vệ Binh tràn ra đường để thực thi lời kêu gọi ấy.
Các cửa hiệu bị đập phá vì kinh doanh, mua bán mang bản chất tư bản.
Biển hiệu, tên đường bị dỡ bỏ và đổi lại vì chúng gợi nhớ truyền thống, lịch sử phong kiến – tư sản mại bản phản cách mạng.
Cách xưởng sản xuất, công ty cung cấp dịch vụ bị can thiệp và đình trệ vì chúng là hành vi bóc lột giai cấp vô sản.
Bảo tàng và thư viện bị phá hoại.
Nhà dân bị lục soát để tìm kiếm vật phẩm “phong kiến – tư sản”
Theo một số thống kê của học giả La Hứa được đăng trên Tạp chí Lịch sử, Chính trị và Văn hoá (A Journal of History, Politics and Culture), chỉ trong vài tháng đầu tiên của phong trào, có hơn 4.922 di sản văn hóa và di tích lịch sử tại Bắc Kinh đã bị phá hoại hay thậm chí là phá hủy hoàn toàn (trên tổng số 6.847). Khoảng 110 nghìn ngôi nhà tại Bắc Kinh và hơn 10 triệu nhà dân trên toàn Trung Quốc bị xâm nhập, cướp bóc.
Nhưng những đứa trẻ cực đoan này không chỉ dừng lại ở đó. Hồng Vệ Binh còn đặc biệt nổi tiếng bởi tính bạo lực và bất phân, theo giáo sư sử học và Đông Á học Weili Ye của Đại học Massachusetts (Mỹ).
Chúng rất hăng hái trong việc đấu tranh chống lại các yếu tố xấu, độc của xã hội. Mà yếu tố xấu, độc này bao gồm những kẻ thù giai cấp (class enemies) như cựu địa chủ, phú nông, các nhà tư bản, thành viên của chính phủ quốc gia trước đó (Nationalist Government – chỉ Trung Hoa Dân quốc, tức Đài Loan ngày nay). Chiến dịch còn bao gồm cả việc đấu tố những đảng viên, nhân viên công quyền bị cho là rơi vào con đường tư bản, tự diễn biến. Bất luận là với cha mẹ hay thầy cô, Hồng Vệ Binh không ngần ngại đả phá bất kỳ ai chúng cho là phản động.
Đỉnh điểm của bạo lực là Tháng Tám Đỏ (Red August – năm 1966), với hàng ngàn người bị tra tấn đến chết hoặc tự sát vì bị đấu tố làm nhục, bị công kích quấy rối điên cuồng bởi các Hồng Vệ Binh. Đối với những đứa trẻ này thì “Nhân từ với kẻ thù giai cấp là tàn độc với nhân dân vô sản”.
Trong suốt thời gian Hồng Vệ Binh làm loạn, báo chí nhà nước thân Mao liên tục khen ngợi phong trào vì tinh thần đấu tranh kiên cường và những hoạt động cách mạng mạnh mẽ. Không chỉ vậy, phe nhóm của Mao còn ngăn cấm công an Trung Quốc can thiệp khi Hồng Vệ Binh thực hiện “nhiệm vụ cách mạng” của mình.

Một bí thư đảng cộng sản và vợ của một quan chức khác bị Hồng Vệ Binh bôi mực đấu tố tại một sân vận động ở Cáp Nhĩ Tân, Trung Quốc năm 1966. Ảnh: Li Zhensheng/Chinese University Press.
Tự sát
Hỗn loạn và bạo lực – không lâu sau các nhóm Hồng Vệ Binh rơi vào đấu tranh phe phái, với tính khát máu không kém như khi đấu tranh chống lại “kẻ thù giai cấp”. Giáo sư xã hội học Andrew G. Walder (Đại học Stanford) thuật lại điều này trong một bài báo khoa học xuất bản năm 2006.
Một dạng đấu tranh phe phái phổ biến là giữa nhóm Hồng Vệ Binh hoàn toàn theo Mao và các nhóm Hồng Vệ Binh có cân nhắc quan điểm và đường lối của Đặng Tiểu Bình và Lưu Thiếu Kỳ.
Một dạng đấu tố và tranh giành quyền lực khác diễn ra giữa những Hồng Vệ Binh “thuần chủng” (bloodline theory), tức phe có cha mẹ và gia đình phụng sự cho Mao và cách mạng, với những Hồng Vệ Binh không thuần chủng, hay phe có gốc gác gia đình tiểu tư sản, tư sản, hay thậm chí là quan chức trong chính quyền Quốc Dân Đảng.
Đỉnh điểm của cuộc xung đột giữa các nhóm Hồng Vệ Binh vô tổ chức và khát máu này là khi nhiều danh gia vọng tộc hay có công với cách mạng dần trở thành con mồi cho hoạt động đấu tố. Bất kể lịch sử trung thành của họ với Mao như thế nào, bất kể họ đang làm chức vụ gì, các nhóm phiến loạn Hồng Vệ Binh đều tìm ra cách đấu tranh chống lại. Và hài hước thay, rất nhiều người bị đấu tố lại chính là… cha mẹ của các Hồng Vệ Binh lãnh đạo. Tức giận, nghi ngờ, và bối rối, nhiều nhóm Hồng Vệ Binh thậm chí còn tổ chức đấu tố cá nhân và phá hoại các cơ sở hoạt động trung tâm của phong trào Cách mạng Văn hóa, một đòn đánh trực diện vào Mao Trạch Đông.
Chiến tranh phe phái giữa các nhóm Hồng Vệ Binh kéo dài hơn một năm trời.
Cuối năm 1967, Mao cho quân đội tiếp quản tạm thời các trường đại học và trung học trên toàn quốc. Ngày 28/7/1968, Mao cho mời năm lãnh đạo có tiếng nói nhất trong các nhóm Hồng Vệ Binh. Một mặt, ông khen ngợi họ về những thành tựu trong quá khứ, nhưng quan trọng hơn là lên án cuộc chiến phe phái không hồi dứt. Mao phán xét dứt khoát là Hồng Vệ Binh đã phạm sai lầm nghiêm trọng và sự phê phán thẳng thừng đến từ vị lãnh tụ tối cao khiến cho các lãnh đạo Hồng Vệ Binh xấu hổ. Sau cuộc họp, Hồng Vệ Binh chấm dứt sự tồn tại của mình như một tổ chức xã hội – chính trị độc lập.
***
Hồng Vệ Binh là một vết nhơ trong lịch sử Trung Quốc nói riêng và lịch sử thế giới nói chung. Biến trẻ em trở thành công cụ chính trị vốn đã không phải là điều tốt lành gì. Cực đoan hóa chúng bằng những tư tưởng, học thuyết biến thái lại càng nguy hiểm hơn. Chừng nào thanh thiếu niên nhi đồng còn bị xem là “cánh tay đắc lực”, là “lực lượng nòng cốt” để các thế lực chính trị giật dây, thì chừng đó những thế hệ Hồng Vệ Binh kế tiếp luôn có thể được sản sinh.
Từ khoá:
Hồng Vệ Binh: Red Guard (n)
Đại Cách mạng Văn hoá Vô sản: the Great Cultural Revolution (n)
phản cách mạng: counter-revolutionary (adj)
người xét lại: revisionist (n)
phản động: reactionary (adj)
đấu tố: to denounce (v)
kẻ thù giai cấp: class enemy (np)