Bài đăng nổi bật

Bức tường Berlin (Phần 1): Nước Đức chia cắt

  Bức tường Berlin (Phần 1): Nước Đức chia cắt 12/08/2021 Nguyễn Thọ 12-8-2021 Vào ngày này cách đây 60 năm, đêm 12, rạng sáng ngày 13.08.19...

Thứ Ba, 30 tháng 11, 2021

Việt Nam hiện nay chỉ có một lý do để Mỹ và phương Tây đoái hoài tới: Vị trí địa lý

 

Việt Nam hiện nay chỉ có một lý do để Mỹ và phương Tây đoái hoài tới: Vị trí địa lý

Nhưng dù lý do là gì thì chuyện này cũng bẽ bàng cho một giá trị được tôn sùng và tôn vinh ở ta nhưng khi ra nước ngoài lại trở nên lố bịch hoặc gây tranh cãi hay ít thiệt hại nhất thì chẳng ai quan tâm. Chuyện này du học sinh và những ai sống ở nước ngoài chắc đều ít nhiều trải qua, khó mà tránh được.

Bỏ qua chuyện cô hoa hậu, có những chuyện cực kỳ to tát ở ta nhưng ra nước ngoài lại chẳng ai quan tâm, nhất là những thứ liên quan đến chủ nghĩa dân tộc.

Tỉ dụ như chuyện Hoàng Sa – Trường Sa, ở ta nó là một trong những đề tài lớn nhất, nhưng mang sang Tây nói thì không có thằng Tây nào thèm nghe. Tây nào đi quan tâm tới chuyện mấy nước ở một góc nào đó trên thế giới tranh nhau ba cái đảo hay tàu Trung Quốc cắt cáp tàu Việt Nam.

Chuyện đánh Pháp đánh Mỹ một thời lừng lẫy vậy nhưng giờ cũng hết đát rồi, mấy ai còn nói ba cái chuyện từ đời nào.

Đó là chuyện dân tộc, sang những chuyện có tính phổ quát như nhân quyền cũng chẳng mấy ai quan tâm. Ta coi mấy vụ bắt bớ, bỏ tù nhà hoạt động, hay mấy vụ bố ráp giết nông dân ở ta là kinh khủng lắm, thực ra cũng kinh khủng thật. Nhưng so với nạn giết chóc, diệt chủng ở Trung Quốc, Miến Điện, hay mấy nước châu Phi, hay so với chiến dịch giết mấy chục nghìn người nghi là buôn ma túy ở Philippines mới đây thì mấy vụ của Việt Nam không thể thu hút sự chú ý bằng.

Lãnh đạo một tổ chức nhân quyền quốc tế lớn từng than thở mới đây rằng “bây giờ rất khó để đưa được vấn đề nhân quyền Việt Nam ra thế giới”.

Trong bối cảnh tất cả các nước phải cạnh tranh nhau để được chú ý trên thế giới, Đài Loan nổi lên như một kẻ cực kỳ tinh khôn.

Tinh khôn ở chỗ họ không chỉ tận dụng vị thế địa chính trị trời cho của mình để mặc cả với các anh lớn (Việt Nam hiện đang dùng bài này), mà còn tự lực cánh sinh phát triển được một nền kỹ nghệ khiến cả thế giới phải dựa vào (chính là ngành công nghiệp bán dẫn – mấy hãng sản xuất chip của Đài Loan mà tèo thì thế giới điêu đứng).

Chuyện này có được là nhờ ngay từ những năm 70, nhận thấy Mỹ không còn mặn mà với việc bảo vệ Đài Loan, chính phủ đã dốc tiền đầu tư cho nghiên cứu kỹ nghệ để phục vụ quốc phòng, sau cùng biến Đài Loan thành nhà sáng chế và chế tạo thiết bị bán dẫn hàng đầu thế giới.

Xa hơn thế, việc Đài Loan dân chủ hóa từ cuối những năm 80 lại giúp gắn kết nước này với hệ giá trị dân chủ được cả thế giới thừa nhận, tạo ra thêm một lý do vô cùng lớn nữa để thế giới nên nghĩ đến chuyện bảo vệ Đài Loan trước nước độc tài Trung Quốc. Con người thường chơi với những kẻ giống mình. Khi chia sẻ những giá trị dân chủ chung với các nước lớn thì tự khắc từ người dân cho tới chính phủ sẽ nghĩ tới việc bảo vệ mình.

Như vậy, Đài Loan cho thế giới tới ba lý do rất lớn để bảo vệ mình và kết thân với mình: vị trí địa lý, ngành công nghiệp bán dẫn, và nền dân chủ.

Việt Nam hiện nay chỉ có một lý do để Mỹ và phương Tây đoái hoài tới: vị trí địa lý. Gần đây ta phát triển được ngành hoa hậu nhưng không ăn thua.

Thế nào là “Tiên học LỄ, hậu học VĂN”?

 

Thế nào là “Tiên học LỄ, hậu học VĂN”?

Hà Sĩ Phu

30-11-2021

Về đề tài nên giữ hay nên bỏ khẩu hiệu “Tiên học Lễ, hậu học Văn” xin được góp với các Cụ mấy ý chắc còn thô lậu (Vì tôi đang bệnh):

– Muốn thảo luận, trước hết ta phải cùng hiểu nội hàm của 2 chữ LỄ và VĂN. Đây là 2 từ cổ mà thường bị hiểu theo nghĩa nôm na ngày nay, LỄ thì toàn nghĩa phản cảm (lễ phép, lễ bái, cúng lễ, lễ tiết, lễ hội…), toàn là sự phục tùng cung kính của kẻ dưới với người trên. VĂN thì văn chương thơ phú… rông dài. Thế thì khẩu hiệu này chỉ đáng vứt đi cho rảnh.

– Nhưng theo lời giảng mà tôi học được ở chữ Nho thuở bé thì LỄ là tất cả những quy phạm khuyên con ngưới cần đối xử với nhau và với mọi công việc trong xã hội sao cho đúng nhất, tốt nhất. Tất nhiên cái tốt cái đúng của ngày xưa thì không thể toàn vẹn và hiện đại như ngày nay, nhưng cái đúng trong đó vẫn là cơ bản. Không phải cứ cổ là trọng nam khinh nữ mà các Cụ rất trọng tấm gương “phu phụ tương kính như tân” (vợ chồng biết kính trọng nhau như khách). Các Cụ đã khuyên “bất xỉ hạ vấn” (đừng xấu hổ khi học hỏi những người dưới mình). “Dân vi quý, Xã tắc thứ chi, quân vị khinh” (Dân mới quý, rồi đến đất nước, còn vua thì bình thường thôi). Nho giáo vào Việt Nam đã nhuốm thuần phong mỹ tục của nước Việt chứ không dập khuôn như Tàu. Chữ VĂN thì không phải chỉ là Văn chương thơ phú rông dài mà là tất cả những điều, những tri thức học được từ sách vở, từ sự giảng dạy của người thầy.

– Tóm lại, theo điều tôi lĩnh hội được thì tinh thần toát lên từ lời răn “Tiên học Lễ hậu học Văn” là hãy dạy cho học sinh biết làm Người trước đã, rồi mới đến chuyện dạy học sinh mọi kiến thức sách vở. Giáo dục trước hết là dạy làm Người, rồi mới đến dạy mọi tri thức. Đã làm Người thì trước hết phải biết tự khẳng định mình, biết mình “đã đứng trong trời đất” thì phải ứng xử với mọi người, mọi việc ra sao cho xứng đáng? Nghĩa là phải chủ động và đóng góp cái đặc hiệu của cá nhân mình! Phương châm Giáo dục tích cực quý giá như vậy thiết tưởng còn phải giữ đến muôn đời.

– Tuy vậy, vì 2 chữ LỄ và VĂN có nguồn gốc chữ cổ, có lẽ nên để trong dấu ngoặc kép, và cần được giảng giải cho đúng cái nghĩa tượng trưng bao quát của nó như trên đã trình bày chăng?

– Nhưng theo tác giả Hiếu Chân thì “Trở ngại lớn nhất trên con đường phát triển của đất nước và xã hội Việt Nam chính là đảng Cộng Sản chứ không phải cái khẩu hiệu “Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn”, và do đó cái cần phải bãi bỏ càng sớm càng tốt là chế độ độc tài toàn trị mà đảng này áp đặt lên toàn bộ đất nước chứ không chỉ bãi bỏ câu khẩu hiệu vốn dĩ đã bị xếp xó và thay bằng “5 điều bác Hồ dạy” từ sau ngày miền Nam thất thủ”.

Đúng là trong một chế độ toàn trị hà khắc thì quyền làm một con người tự do, chủ động là rất khó. Nhưng nếu chờ thanh toán xong chế độ ấy mới cải tiến được phương châm giáo dục thì biết đến bao giờ, chịu bó tay chăng?

Theo tôi, hiện nay, tuy gặp khó khăn như vậy, nhưng những nhà giáo dục có tâm huyết với đất nước vẫn có thể thực hiện khẩu hiệu chân chính “Tiên học LỄ”, dạy làm Người hiệu quả trong một chừng mức nào đó. Bởi vì thời thế đã có chút đổi khác. Thời Cộng sản toàn trị còn hưng thịnh, người ta mị dân và ép tất cả phải nhất nhất phải nghe theo. Nhưng sang giai đoạn thoái trào này, sự cai trị đã phân hóa theo hai đầu: một mặt không mị dân nữa mà trừng trị thẳng cánh cho biết tay, nhưng mặt khác họ vẫn phải âm thầm khôn ngoan, chấp nhận những lẽ phải của công lý chung trong nhân loại, để gỡ thế bị cô lập và tẩy chay.

Những cố gắng chân chính nếu biết khéo léo vẫn có cơ thực hiện, cứ thế “tích thiểu thành đại” cụm dần nhau lại sẽ đẩy nhanh Dân tộc thoát khỏi mối đại họa này. Lương tâm toàn Dân tộc sẽ thắng, kể cả những người Cộng sản.

H.S.P. (30-11-2021)

Chúng ta có cần “Tiên học Lễ, hậu học Văn” hay không?

 

Chúng ta có cần “Tiên học Lễ, hậu học Văn” hay không?

Đào Tăng Dực

29-11-2021

I. Dẫn nhập:

Theo trang mạng BaoQuocTe.VN ngày 24-11-2021:

“Tại hội thảo Giáo dục Việt Nam chủ đề ‘Văn hóa học đường trong bối cảnh đổi mới giáo dục đào tạo’ do Ủy ban Văn hóa, giáo dục của Quốc hội tổ chức vừa qua, GS Trần Ngọc Thêm (Trường ĐH Khoa học xã hội & nhân văn – ĐH Quốc gia TP. Hồ Chí Minh) trình bày quan điểm trên trong tham luận: ‘Xây dựng Văn hóa học đường trong bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo’.

Ông khẳng định, sáng tạo thuộc về tài năng trong khi xã hội Việt Nam truyền thống hướng đến ổn định nên không hướng đến tài năng mà đề cao chữ Lễ, ‘tiên học lễ hậu học văn’, đề cao sự phục tùng. Trong khi đó, để có con người sáng tạo, cần thực hiện dân chủ trong giáo dục, cần thay đổi quan niệm về người thầy từ việc truyền thụ kiến thức sang việc hướng dẫn người học sáng tạo và tự chịu trách nhiệm về sự sáng tạo của mình.

GS Trần Ngọc Thêm kiến nghị: ‘Cần chấm dứt sử dụng khẩu hiệu ‘Tiên học lễ, hậu học văn’ để khai mở tư duy phản biện, giải phóng sức sáng tạo’.

‘Chừng nào còn đề cao chữ Lễ để ràng buộc người học, còn đề cao quá mức vai trò của người thầy, của đáp án thì tư duy phản biện sẽ không thể phát triển, không thể có xã hội phát triển’, ông Thêm nhấn mạnh”.

Câu thành ngữ “Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn” là một khái niệm giáo dục truyền thống lâu đời của dân tộc Việt nói riêng và của nền văn hóa Đông Á nói chung, bao gồm những quốc gia chịu ảnh hưởng của Nho Giáo như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam.

Trong một nền dân chủ chân chính, sự phản biện dĩ nhiên rất quan trọng và đúng như GS Trần Ngọc Thêm quan niệm là cần thiết cho sự tiến bộ.

II. Tại sao GS Thêm đề xuất như trên:

Khi GS Thêm đề xuất như trên, chúng ta không ngạc nhiên vì ông là một nhà trí thức Cộng Sản và người cộng sản thuần túy, chủ trương tiêu diệt tất cả các tư tưởng “suy đồi” tiền cộng sản. Tại Âu châu thì các tư tưởng Thiên Chúa Giáo, tại Á Đông thì các tư tưởng Nho Giáo, vì các hệ tư tưởng này là nguyên nhân lẫn hậu quả của nhiều thế hệ nhân loại “đồi trụy”, trước khi ánh sáng huy hoàng của tư tưởng Mác Lê được khai sinh.

Tuy nhiên, câu “Tiên Học Lễ, Hậu học Văn” từ từ được phục hoạt dưới chế độ cộng sản vì sau nhiều thập niên thất bại, hàng ngũ đảng viên thoái hóa.

Đề xuất của GS Thêm chỉ là phản ứng mang tính bản năng của một bệnh nhân hấp hối trước khi trút hơi thở cuối cùng.

Tuy nhiên một vấn đề quan trọng đã được đặt ra. Chúng ta cần trả lời nghiêm chỉnh. Muốn thế, chúng ta cần nhận diện chính xác vị trí của chữ “Lễ” và chữ “Văn” trong nền văn hóa Nho Giáo.

III. Phân tích các khái niệm nền tảng

Vì sự quan trọng của chữ “Lễ”, chúng ta sẽ giải thích chữ này thật chi tiết sau. Bây giờ phải hiểu ngắn gọn chữ “Văn” trước. Chữ Văn không có nghĩa thuần túy là văn chương, mà bao gồm sự trau dồi trí tuệ, hầu người quân tử có thể trị quốc bình thiên hạ. Chữ Văn này đồng nghĩa với chữ Trí trong Ngũ Thường như sẽ giải thích sau.

Chữ Lễ là một trong Ngũ Thường tức năm đức tính trọng yếu của người Quân Tử là: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí và Tín.

1. Ý nghĩa chữ Nhân (Humanity hay Love):

Một cách tổng quát thì Nhân có nghĩa là lòng nhân ái, thương yêu đồng loại. Chữ Nhân cũng bao gồm một quan niệm nền tảng của Nho Giáo về con người (Nhân) như là “linh ư vạn vật” tức có vị trí vượt lên trên muôn loài trong hoàn vũ.

Ở điểm nền tảng này thì Nho Giáo hoàn toàn tương đồng với Thiên Chúa Giáo bao gồm mọi hệ phái từ Tin Lành đến Công Giáo và Chính Thống Giáo. Các tôn giáo Tây Phương quan niệm lòng nhân ái (love) cũng giả định con người có vị trí vượt trội trên muôn ngàn sinh vật khác vì được Thượng Đế tạo ra theo hình tượng của Ngài.

2. Ý nghĩa chữ Nghĩa (proper conduct):

Chữ Nghĩa là một sự thể hiện trực tiếp của chữ Nhân qua phương thức hành xử của người quân tử. Tóm lại, trong hành động của mình, người quân tử sẽ không bao giờ hành xử đi ngược với lòng Nhân Ái, thể hiện qua luân thường đạo lý trong xã hội.

3. Ý nghĩa chữ Trí (Knowledge hay Wisdom):

Chữ Trí được khai triển rõ rệt hơn trong câu châm ngôn “Thành ý chính tâm, cách vật trí tri, tu thân tề gia, trị quốc bình thiên hạ”. Nho Giáo không phải thuần là một tôn giáo căn bản trên niềm tin đơn thuần mà có một cơ sở tư tưởng sâu xa. Câu này có nghĩa là muốn nhận thức các hiện tượng trong vũ trụ khách quan thì tâm phải chính và ý phải thành, có nghĩa là phải thành thật với chính mình.

TBT Nguyễn Phú Trọng và Tô Lâm dĩ nhiên không thỏa mãn được đòi hỏi đầu tiên này vì ông Trọng biết là Xã Hội Chủ Nghĩa là vô vọng mà vẫn hô hào xây dựng XHCN cho dân Việt. Còn ông Lâm thì miệng hô hào cần kiệm liêm chính nhưng cũng chính cái miệng đó “đớp” thịt bò dát vàng không do dự.

Chỉ sau khi thành ý chính tâm mới thực sự có khả năng phân tích sự kiện (cách vật) và đạt đến sự hiểu biết trí tuệ chân chính (trí tri). Sau cùng trên nền tảng trí tuệ chân chính đó mới kiện toàn bản thân, gia đình êm ấm và dấn thân vì quốc gia dân tộc (tề gia, trị quốc, bình thiên hạ) được.

4. Ý nghĩa chữ Tín (Trust hay honour):

Chữ Tín một cách nôm na là giữ lời hứa. Tuy nhiên nền tảng của nó cũng là Nhân, Nghĩa, Trí và Lễ. Đơn giản mà nói chúng ta phải giữ chữ Tín không những vì lòng nhân với đối tượng mà cũng vì chữ Tín hợp với luân thường đạo lý, vì một người có trí tuệ biết được hậu quả lâu dài của sự bội tín và vì chữ Lễ như sẽ giải thích ở đoạn sau không cho phép chúng ta làm điều thất tín.

Dĩ nhiên chữ Tín cũng giả định sự kính trọng của người quân tử đối với nhân phẩm của mọi người.

Nói cho cùng thì cả 5 khái niệm trong Ngũ Thường đều bao gồm lẫn nhau, bổ sung cho nhau, tương sinh và tương tùy.

5. Ý nghĩa chữ Lễ (Civility hay respect):

Chữ Lễ theo Wikipedia là “Lễ bao gồm việc thờ cúng, lễ bái thánh thần, trời Phật và cả những quy định có tính chất pháp luật, những phong tục, tập quán và kỷ luật tinh thần của cá nhân”.

Tuy nhiên theo quan điểm của tôi, định nghĩa như thế là chỉ định nghĩa về các hình thức khác nhau của Lễ. Tinh thần của chữ Lễ nằm nơi sự “kính trọng nhân phẩm của từng cá nhân thành phần nhân loại” (respect for each member of the human family) đối tượng của chúng ta vì tất cả mọi thành phần của nhân loại đều là “linh ư vạn vật”. Chính vì thế, khi chữ Lễ được áp dụng triệt để thì không những con kính trọng cha, vợ kính trọng chồng, trò kính trọng thầy, dân kính trọng vua, trẻ kính trọng già, mà các mệnh đề ngược lại cũng đúng y chang.

Khi hiểu được như thế, chúng ta mới ý thức rằng, sự “tương kính” (mutual respect) giữa các cá nhân không những là nền tảng của chữ Lễ, mà còn là nền tảng của cả 4 ý niệm còn lại trong Ngũ Thường là Nhân, Nghĩa, Trí và Tín nữa.

Khi suy nghĩ sâu xa, chúng ta mới ý thức được vai trò nền tảng của khái niệm “tương kính” (mutual respect) xuyên thấu cả 5 ý niệm nền tảng của Ngũ Thường.

Nếu chữ Nhân được hiểu là lòng nhân ái, sự thương yêu là đứng đầu và nền tảng của Ngũ Thường, thì chúng ta sẽ đi đến các kết luận vững chãi như sau:

a. Cha mẹ không thể yêu thương con cái thật sự nếu không “tương kính” tức tôn trọng nhân phẩm của con mình và ngược lại.

b. Chồng không thể thương yêu vợ nếu không tôn trọng nhân phẩm của vợ và ngược lại.

c. Thầy không thể thương yêu trò nếu không tôn trọng nhân phẩm của trò và ngược lại

d. Vua không thể thương yêu dân nếu không tôn trọng nhân phẩm của dân và ngược lại.

e. Già không thể yêu thương trẻ nếu không tôn trọng nhân phẩm của trẻ và ngược lại.

Rộng hơn nữa: Trên bình diện trị quốc bình thiên hạ thì một chính quyền không thể thương yêu nhân dân nếu không tôn trọng nhân phẩm của người dân.

IV. Nếu sự tương kính (mutual respect) là trọng yếu thì chính quyền yêu dân phải tôn trọng những gì nơi nhân dân?

Câu hỏi quan trọng kế tiếp của chúng ta là: nếu sự tôn trọng nhân phẩm của người dân là nền tảng nghệ thuật trị quốc bình thiên hạ, thì chính quyền phải tôn trọng điều gì nơi nhân dân?

Nơi đây, các tư tưởng gia Tây Âu và Đông Phương lại gặp nhau một lần nữa vì sự tương đồng giữa 2 khái niệm nền tảng của Nho Giáo và Thiên Chúa Giáo. Đó là các khái niệm “Nhân Trị” và “Nhân Quyền”. Tuy có những dị biệt hình thức vì hoàn cảnh xã hội, thể chế chính trị và đà tiến hóa khác nhau, nhưng tựu trung cũng phát xuất từ sự tôn vinh con người như sinh vật vượt trội trên muôn loài trong hoàn vũ.

Thật vậy, vì con người là trọng tâm vũ trụ, từ đông sang tây, nếu thật sự yêu dân, một chính quyền phải tôn trọng bật nhất, 2 điều thiết yếu của con người: đó là mạng sống và trí tuệ của người dân.

Một bên là thể xác. Một bên là tinh thần.

Bản tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của LHQ năm 1948 chi tiết hóa cụ thể cả 2 điều nêu trên.

Ngoài những vi phạm trắng trợn về thể xác nhân dân Việt Nam, đảng CSVN còn trắng trợn khinh thường trí tuệ và sự thông minh của cả dân tộc qua trò đảng cử dân bầu cố hữu, sau cuộc cướp chính quyền xảo trá năm 1945.

Nếu giả tỷ Lê Nin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh đều chấp nhận mệnh đề của Nho Giáo là “tiên học lễ, hậu học văn” thì đã không có những thảm sát hằng trăm triệu người tại Liên Xô, Trung Quốc dưới bàn tay các đảng CS liên hệ và hằng triệu người đã không bỏ mạng tại Việt Nam vì Cuộc Cải Cách Ruộng Đất từ thập niên 50, cuộc di cư vĩ đại vào Nam 1954, cuộc vượt biên vĩ đại 1975 và các trại tập trung cải tạo cùng thời.

Dĩ nhiên nếu mệnh đề của Nho Giáo này được chấp nhận thì đảng CSVN đã không tiếp tục bám víu trò đảng cử dân bầu thô bỉ này đến tận hôm nay.

Thêm vào đó, tại Đông Á, Nho Giáo không phải là hệ tư tưởng thống trị tuyệt đối. Một luồng tư tưởng khác cũng ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội. Thật vậy trong tư tưởng Phật Gia, khái niệm tình thương không còn giới hạn nơi nhân loại mà bao gồm lòng từ bi lân mẫn cho mọi chúng sinh trong hoàn vũ. Lòng tương kính nêu trên, theo nhà Phật, còn phải nới rộng để bao trùm mọi chúng sinh trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới và bao gồm cả 2 hình thức sống thấp hơn nhân loại lẫn cao hơn nhân loại.

Sự tôn trọng phẩm giá của từng chúng sinh càng rõ rệt hơn khi Phật Gia quan niệm mọi chúng sinh đều có Phật tính và cũng sẽ đạt đến chánh đẳng chánh giác trong tương lai.

Cũng vì quan điểm Từ Bi vô lượng của Chư Phật và sự Tôn Kính Phật Tính trong bản chất của từng chúng sinh trong hoàn vũ, Phật Giáo trong bản chất là phản đề hùng mạnh nhất bác bỏ chủ nghĩa Mác Lê.

Chính vì thế, khi GS Thêm đề xuất hủy bỏ câu châm ngôn “Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn” là ông chủ trương phục hồi lại quan điểm Mác Lê nguyên thủy. Hậu quả là đảng CSVN hoàn toàn danh chánh ngôn thuận, theo lý luận Mác Lê, có thể tiếp tục trị quốc bình thiên hạ mà không cần tôn trọng thể xác và trí tuệ của nhân dân.

Dĩ nhiên điều này hoàn toàn vi phạm những khái niệm nhân ái của người Tây Phương trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, lẫn cốt lũy các tôn giáo truyền thống của nhân dân Việt Nam.

Đề xuất của GS Thêm chỉ là tiếng kêu gào vô vọng của một trí thức cộng sản thuần túy trong một thế giới không còn chỗ đứng cho độc tài đảng trị.

“Tiên học lễ, hậu học văn”, đạo lý hay tiêu cực?

 

“Tiên học lễ, hậu học văn”, đạo lý hay tiêu cực?

29-11-2021

Mấy hôm nay đọc báo trên các mạng lưới trực tuyến xã hội tiếng Việt, người Việt khắp nơi trong cũng như ngoài nước, được nghe một nguồn dư luận mới xôn xao về việc nên giữ hay bỏ một câu khẩu hiệu đã trở thành quá quen thuộc trong tất cả các hệ thống trường học Việt Nam từ xưa tới nay. Đó là câu châm ngôn “tiên học lễ, hậu học văn” thường được dán ngay trên tường trước mặt học sinh trong lớp học. 

Vì đã quá quen thuộc và mặc nhiên được coi đây là một đạo lý đương nhiên kết hợp giữa tinh thần tôn sư trọng đạo và rèn luyện nhân cách nên qua nhiều thế hệ, câu khẩu hiệu này đã trở thành một lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà nghiêm cẩn chuyên chở giá trị nhân văn đào tạo thế hệ trẻ. Đây không phải là một câu khẩu hiệu thời trang để trang trí lớp học mà là một châm ngôn rèn luyện nhân cách trong đời sống học trò. Bởi vậy, chẳng có thầy giáo hay học sinh nào còn bận tâm đặt câu hỏi là nên hay không nên treo câu khẩu hiệu mang nội dung “nguyên lý giáo dục” hay đạo lý trồng người nầy. (Chữ Lễ trong bài này xin được viết hoa khi nhấn mạnh đó là tiêu đề của toàn bài và viết thường khi hiểu theo nghĩa quy ước).

Bối cảnh làm nền cho cuộc… đảo chánh khẩu hiệu nầy được giới truyền thông đưa tin như sau:

Tại hội thảo Giáo dục Việt Nam chủ đề “Văn hóa học đường trong bối cảnh đổi mới giáo dục đào tạo” do Ủy ban Văn hóa, giáo dục của Quốc hội tổ chức ngày 21/11, GS Trần Ngọc Thêm trình bày quan điểm trên trong tham luận: “Xây dựng Văn hóa học đường trong bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo”.

GS Trần Ngọc Thêm kiến nghị: “Cần chấm dứt sử dụng khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” để khai mở tư duy phản biện, giải phóng sức sáng tạo”.

“Chừng nào còn đề cao chữ Lễ để ràng buộc người học, còn đề cao quá mức vai trò của người thầy, của đáp án thì tư duy phản biện sẽ không thể phát triển, không thể có xã hội phát triển”, ông nhấn mạnh thêm.

– Trước đó, năm 2016, tại hội thảo “Xây dựng môi trường văn hóa trường học” do Bộ GD-ĐT tổ chức, nhiều đại biểu cho rằng, hệ thống khẩu hiệu trường học đã đáp ứng đúng tôn chỉ mục đích. Tuy nhiên, việc treo khẩu hiệu còn bất cập, mỗi nơi làm một phách và chưa phù hợp nên kiến nghị xem lại khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” ở trường tiểu học. (Tin Mới)

Là một thầy giáo xuất thân được đào tạo dạy môn Việt Văn cấp 3 từ trường Văn Khoa và Sư Phạm Huế (1966-1970) nhưng vì hoàn cảnh và thời thế tôi phải dạy học tại nhiều trường, phụ trách các môn học khác nhau và phục vụ nhiều nơi với hoàn cảnh khác nhau như: Việt Nam trước và sau 1975, Phi Luật Tân, Mỹ. Mãi cho đến khi đứng trên bục giảng của nhà trường Mỹ, nhìn sinh viên vừa vào lớp miệng vừa bỏm bẻm nhai kẹo cao su hay ngồi gác chân lên ghế trong lớp, tôi mới nhận ra cái đạo lý lớp học phải như thế nào mới phải “đạo” bởi tôi vốn đã coi cái trật tự truyền thừa “tiên học lễ, hâu học văn” là nề nếp mặc nhiên trong văn hóa học đường Việt Nam.

Truyền thống văn hóa và giáo dục Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm và lâu đời về khái niệm chữ Lễ của văn hóa Trung Quốc. Trong Ngũ Kinh có Lễ Kinh và vai trò của Lễ được đức Khổng Tử xác định: “Không học Lễ thì không biết cách đi đứng ứng xử ở đời.” Và năm đức tính căn bản làm người là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín thì Lễ đứng giữa để làm trung gian, bởi vì nhân không trí là tốt mã, thương hại; nghĩa không tín là tuỳ hứng, giang hồ. Cho nên khái niệm cổ điển về Lễ là sự phân định vai trò và cương lĩnh rõ ràng: Hai nước giữ lễ là không xâm hại nhau, hai nhà giữ lễ là không gây phiền oán cho nhau, hai người giữ lễ là tôn trọng lẫn nhau và thầy trò giữ lễ là làm tốt vị trí của mình. Lễ tự nguyên nghĩa là luân thường đạo lý, là trật tự xã hội, là tôn trọng lẫn nhau. Ý nghĩa của chữ Lễ trong quá trình truyền thừa và ứng dụng vào văn hóa giáo dục Việt Nam là tôn sư trọng đạo, học trò xem thầy như cha và thầy xem trò như đứa con tinh thần kế thừa và phát huy tâm nguyện cùng lý tưởng giúp đời và giữ đạo làm người nghiêm cẩn của mình để sống, ứng xử hay có khi chỉ trong mơ ước. Với một khái niệm về Lễ như thế thì bất cứ một nền giáo dục hay một xã hội nào đều ứng hợp với vai trò giáo dục là nhằm đào tạo thế hệ tương lai tài năng và đạo hạnh.

Tuy nhiên, xã hội Việt Nam từ xưa đến nay đã vô tình hay cố ý diễn dịch ý nghĩa của nội hàm chữ Lễ một cách cực đoan và phiến diện trong nhiều trường hợp giáo dục bị biến thành phương tiện đầy khắt khe, áp bức để phục vụ cho tinh thần bảo thủ, quyền lực tôn giáo, giai cấp thống trị đè đầu cỡi cổ dân lành, hay thủ đoạn chính trị… Do đó, đã có nhiều trường hợp cái “Lễ” đã bị lạm dụng khi các thầy đồ, thầy giáo, cô giáo, cơ sở giáo dục… sử dụng hình thức “lễ trị” bằng roi vọt, bạo lực, uy quyền… để đánh đập, mạ lỵ, trừng phạt, vùi dập học sinh một cách thô bạo và… vô lễ! Và hệ quả đương nhiên, với phản ứng tâm lý và thể lý phản hồi có điều kiện, học sinh bị tha hóa vì sợ hãi, căm tức hay chán ngán môi trường học tập với thầy giáo đã hành hạ mình dẫn đến tình trạng cũng đành, thụ động và “thủ tiêu phản biện” như ý kiến của GS.TSKH Trần Ngọc Thêm. Tuy nhiên, đây không phải là trường hợp phổ biến mà chỉ là khía cạnh cực đoan trong truyền thống giáo dục Việt Nam. Riêng về mặt tâm lý tương tác với xã hội, một học sinh hay sinh viên thiếu khả năng phản biện không phải vì “giữ lễ” hay bị ép lễ mà thường là do thiếu thông tin, thiếu kiến thức và thiếu không khí hay môi trường thích hợp.

Thật ra, câu “Tiên học lễ, hậu học văn” tuy là một câu văn Hán Việt nhưng thường được xem như đã trở thành thuần Việt vì văn phong nhẹ nhàng, ngữ điệu cân đối và nội dung rất dễ hiểu về tinh thần đạo lý và trật tự xã hội rất dễ ứng dụng cho mọi người thuộc mọi trình độ, kể cả hai thế hệ thầy và trò. Đã nhiều lần tôi vừa nhớ, vừa trân trọng cái câu khẩu hiệu đơn giản và nhỏ nhắn nhưng đầy ý nghĩa nầy khi bước vào dạy lớp học Mỹ chẳng thấy ai đứng dậy hay biểu hiện cử chỉ chào kính nào hoặc nhìn thái độ có vẻ thiếu cung kính khi hỏi hay phát biểu với thầy giáo. “Tiên không học lễ rồi chăng?” Tôi tự hỏi. Nhưng càng đi sâu vào khái niệm của “cái Lễ” tôi càng nhận thấy rõ ràng rằng, nội dung của Lễ nếu được hiểu theo một nghĩa tích cực hơn thì học trò, sinh viên Mỹ còn trọng Lễ hơn cả Việt Nam vì trong quá trình học tập rất ít nói dối, hiếm khi gian lận hay ích kỷ và thủ lợi như sinh viên của nhiều nước châu Á xem Lễ như một chiêu thức đóng kịch giả vờ làm vui lòng thầy giáo, miễn sao có lợi cho cá nhân mình.

“Cần chấm dứt sử dụng khẩu hiệu ‘Tiên học lễ, hậu học văn’ để khai mở tư duy phản biện, giải phóng sức sáng tạo”! Đọc câu nầy của GS. Trần Ngọc Thêm, tôi thật tình chưa hiểu hết tôn ý của GS. Cái gọi là “tư duy phản biện” sao lại bị cột trói vào một trật tự tinh thần và phẩm chất đạo lý của một con đường khiêm cung, quang minh chính đạo như Lễ (lễ độ, lễ phép, lễ nghi, lễ giáo, lễ bái…). Muốn khai mở tư duy phản biện thì chỉ cần ba yếu tố chính là kiến thức vững vàng, phương pháp luận chặt chẽ và khung cảnh thích hợp. Cả một nền triết lý Đông phương, kiến thức khoa học kỹ thuật và phương tiện truyền thông hiện đại là cốt lõi của tư duy phản biện. Lễ không đóng vai trò chướng ngại hay tiêu cực nào cho mọi hình thức phản biện. Không có một thầy giáo nghiêm túc nào lại cấm đoán học sinh mình nêu ý kiến phản biện; nếu không muốn nói là còn hài lòng, ngầm sung sướng vì sự thông minh, lập luận rạch ròi của học sinh mình trong phản biện cả. Thêm nữa, khi nói đến cụm từ “giải phóng sức sáng tạo” thì phải tìm tới những trở ngại kìm hãm sức sáng tạo. Đó là do sự thiếu khả năng, thiếu nhân tài, thiếu điều kiện, thiếu hoàn cảnh… chứ hoàn toàn không do một hình thức “Lễ” nào tác động để làm mất đi khả năng sáng tạo cả. Muốn “giải phóng sức sáng tạo” thì phải cần quy tụ nhân tài, tôn trọng tự do, đánh giá công minh và đãi ngộ xứng đáng là bốn “tiêu chuẩn vàng” của tinh thần phát huy sáng tạo Đông cũng như Tây. “Lễ” chẳng đóng một vai trò nào mang tính quyết định chung cuộc trong sáng tạo nghệ thuật, khoa học và nhân văn cả. Do vậy, kiến nghị của GS về việc cần chấm dứt việc sử dụng một câu TÂM NGÔN hay ho như thế thì rất mong GS định tâm suy nghĩ và cân nhắc cẩn trọng hơn; cũng như cần uốn lưỡi nhiều lần trước khi phát biểu.

Nhà trường Mỹ cũng có các câu khẩu hiệu được sử dụng luân lưu trong hệ thống trường học cả nước nhưng hẩu hiệu trong nhà trường Mỹ thường không nhắc nhở về phương thức và thái độ học tập mà nói về ý nghĩa và mục đích của quá trình học tập. Sau đây là một dẫn chứng về 200 câu khẩu hiệu trong nhà trường Mỹ đủ các cấp học (https://sloganshub.org/school-slogans/). Có thể nói là gần như không có một câu nói lên một nhân vật thần thánh nào khác hơn là chính bản thân người học trò phải chủ động và chịu trách nhiệm cho hướng đi và mục đích mình vươn tới. Nếu có chăng một vài câu nói về “lễ” thì cũng đề ra phong cách ứng xử do chính bản thân người học trò chủ động như “Hãy kính trọng người khác để được người khác kính trọng” (Respect others and they’ll respect you). Trong lúc đó thì cách thủ lễ của Việt Nam ta là cần phải làm theo lời khuyên và đương nhiên chấp nhận giá trị của các bậc cao nhân tiền bối.

Thử khách quan để đưa ra một vài nét so sánh về khái niệm, nội dung và tác dụng của cái “đức” và “lễ” theo hai khuynh hướng:

– Việt Nam: Thầy giáo và xã hội chủ động dạy dỗ học trò và con em phải làm những điều hay lẽ phải đã được quy định.

– Mỹ: Thầy giáo và xã hội chỉ đóng vai trò trình bày, giới thiệu hệ thống giá trị đạo lý để cho học trò và con em tự quyết định có nên áp dụng những nguyên tắc và giá trị đó cho mình hay không.

Như thế, dẫu là trong bối cảnh văn hóa của Mỹ, Việt Nam hay bất cứ quốc gia, xã hội nào thì đức hạnh vẫn được bảo vệ và tôn trọng. Tiêu chí của hệ thống giá trị và đức hạnh tuy không giống nhau nhưng vẫn có điểm chung, đó là trật tự xã hội và cung cách đối tác hay ứng xử với nhau. Đó chính là cái Lễ đã trở thành cái biết, cái học đầu tiên cần phải có. Hình thức và phương tiện ứng dụng cái Lễ trong môi trường giáo dục cần phải có sự mềm dẽo, thích ứng tùy theo thời đại, văn hóa xã hội và đáp ứng được nhu cầu cụ thể.

Kẻ đang viết những dòng nầy rất chia sẻ thiện ý và công tâm của GS. Trần Ngọc Thêm cũng như lời phản biện rất thuyết phục của PGS.TS Trần Xuân Nhĩ, nguyên Thứ trưởng Bộ GD-ĐT khi ông cho rằng: “… với mỗi một con người, ‘đức’ là cái gốc cơ bản . Ở đây có thể hiểu “lễ” tức là đức hạnh. Trong cuộc sống hay ở gia đình , cơ quan, nhà trường… đức rất quan trọng.”

Nay giữa hai khuynh hướng trái chiều là nên bỏ hay nên giữ câu châm ngôn “Tiên học lễ, hậu học văn” trong môi trường giáo dục, tuy mới nghe qua thì đây chỉ mới là một hoặc vài ba ý kiến chống hay thuận theo quan điểm cá nhân; nhưng đứng trên bình diện giáo dục và luân lý đạo đức của một xã hội, một quốc gia thì đây cũng có thể coi như một bước đột phá của những nhà giáo, trí thức dân tộc trước những thách thức của thời đại mới. Sự xét lại để điều chỉnh cập nhật những giá trị tinh thần và đạo đức “xưa bày nay làm” trong nhiều lĩnh vực mà đặc biệt trong môi trường và nhu cầu cải cách giáo dục là những đóng góp cần thiết trước muôn vàn chướng ngại đang diễn ra trước mắt. Tuy nhiên, việc kiến nghị hủy bỏ câu “Tiên học lễ, hậu học văn” thì hoàn toàn không nên thực hiện vì nó vừa thiếu cơ sở về đạo đức cũng như lý luận; vừa không thuyết phục trên căn bản nguyên lý giáo dục và đạo lý dân tộc.

Trong mọi công cuộc cải cách và đổi mới cần xác định một cách khách quan và khoa học rằng, không hề có một nguyên nhân đơn lẻ nào có đủ tầm vóc quyết định huống hồ đây chỉ là một câu nói mang tính tục ngữ, châm ngôn lâu đời chứ không phải là khẩu hiệu nhất thời. Học lễ trước để chuẩn bị những điều kiện sẵn sàng cho bước học văn tiếp theo là một trình tự diễn tiến rất “lôgich” không bao giờ lỗi thời hay phai cũ.

Sacramento Thanksgiving 2021

Trần Kiêm Đoàn, Ph.D., MSW

Đồng hóa văn hóa bằng phim ảnh trên truyền hình

 

Đồng hóa văn hóa bằng phim ảnh trên truyền hình

Ngày 24/11/2021, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII theo hình thức trực tuyến. Tổng Bí thư (TBT) Nguyễn Phú Trọng đã có bài phát biểu: “Ra sức xây dựng, giữ gìn và phát huy những giá trị đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. 

“– Vị trí, vai trò quan trọng của văn hóa: Văn hóa là hồn cốt của dân tộc, nói lên bản sắc của dân tộc. Văn hóa còn thì dân tộc còn…

– 75 năm nay (từ ngày 24-11-1946), hôm nay mới lại có Hội nghị toàn quốc về văn hóa với quy mô lớn thế này”.

“Văn hóa còn thì dân tộc còn…”. Xin nêu một nguy cơ to lớn hiển hiện về “Văn hoá mất…”

1. HẬU QUẢ CỦA BỊ ĐỒNG HOÁ HOÁ VĂN HOÁ

Lịch sử Trung Quốc là lịch sử xâm lược văn hoá. Người Hán, lớn mạnh ở vùng Thiểm Tây nước Tần, rồi bành trướng dần, đồng hoá toàn bộ các bộ tộc ở vùng Hoa hạ ở giữa 2 sông Hoàng Hà và Trường Giang. Tiến xuống phía Nam mà đồng hoá các bộ tộc Bách Việt ở Nam sông Trường Giang.

Người Hán bị người Khiết Đan (Liêu), người Tây Hạ, người Kim, người Mông Cổ, người Mãn Châu ở phía Bắc và phía Tây thay nhau cai trị trong khoảng thời gian kéo dài suốt từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 20. Người Khiết Đan cai trị người Hán 218 năm (907-1125). Người Tây Hạ cai trị người Hán 189 năm (1038-1227). Người Kim thống trị người Hán 108 năm (1126-1234). Người Mông Cổ thống trị người Hán 97 năm (1271-1368). Cuối cùng là người Mãn Châu thống trị người Hán ròng rã 276 năm (1636-1912). Nhưng cuối cùng thì người Hán đã đồng hoá tất cả. Hiện giờ người Hán đang bành trướng sự đồng hoá lên toàn bộ các khu tự trị rộng lớn, bao gồm Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, Thanh Hải – chiếm xấp xỉ ½ diện tích của Trung Quốc hiện đại. Phổ cập văn hoá Hán, mạnh hơn nữa là truy bức người thiểu số và thúc đẩy sinh con giữa trai Hán với gái các bộ tộc thiểu số Duy Ngô Nhĩ, Tạng…tất cả đều nằm trong sách lược Hán hoá

Xâm lược đất đai bằng sức mạnh chiến tranh, cuối cùng không thôn tính nổi một quốc gia, nhưng đồng hoá văn hoá sau ngàn năm sẽ xoá sổ một dân tộc. Đó là sự nguy hiểm không so sánh của “vũ khí văn hoá”.

2. XÂM LƯỢC VĂN HOÁ QUA PHIM ẢNH TRÊN TRUYỀN HÌNH

Truyền hình là phương tiện truyền bá văn hoá gần như không có đối thủ. Mỗi giờ phát sóng của truyền hình có thể có từ hàng chục triệu, hàng trăm triệu cho đến cả hàng tỷ người theo dõi. Đối với Việt Nam, mỗi giờ phát sóng của đài truyền hình sẽ tác động lên nhận thức của toàn bộ gần 100 triệu người dân.

Để thấm thía hơn nguy cơ “mất văn hoá” từ phương thức xâm lược văn hoá trên truyền hình, xin điểm qua vài thống kê phim Trung Quốc trên khung giờ vàng trên kênh truyền hình VTV2 và VTV3 trong thời gian gần đây.

VTV2, khung giờ 19h-19h45:

1/. Độc thân không phải ế (TQ), 24 tập. Chiếu từ 29/6/2021-22/7/2021.

2/. Dương lăng truyện (TQ), 40 tập. Chiếu từ 23/7/2021- 31/8/2021.

3/. Thuỷ hử (TQ), 86 tập. Chiếu từ 01/9/2021 – 25/11/2021.

4/. Chu Phỉ (TQ), 51 tập. Chiếu từ 26/11/2021- 15/1/2022.

VTV2, khung giờ 19h45-20h15:

1/. Ỷ thiên đồ long ký (TQ), 86 tập. Chiếu từ 25/2/2020 -20/5/2020.

2/. Địch Nhân Kiệt (TQ), 79 tập. Chiếu từ 21/5/2020-08/8/2020.

3/. Truyền thuyết phi đao (TQ), 69 tập. Chiếu từ 09/8/2020-21/10/2020.

4/.Phượng hoàng vô song (TQ), 92 tập. Chiếu từ ngày 22/10/2020-31/01/2021.

5/. Hoa mẫu thiên, 108 tập (TQ). Chiếu từ 01/02/2021-23/5/2021.

6/. Liệt như ca (TQ), 85 tập. Chiếu từ 24/5/2021- 17/8/2021.

7/. Phượng hoàng truyện (TQ), 88 tập. Chiếu từ 18/8/2021 – 13/11/2021.

8/. Tân tiếu ngạo giang hồ (TQ), 62 tập. Chiếu từ 14/11/2021 -14/1/2022 (Tiếu ngạo giang hồ, 40 tập, 2001; Tân tiếu ngạo giang hồ, 50 tập, 2013).

VTV3, khung giờ 18h10-19h:

1/. Tô mạt như truyền kỳ (TQ), 40 tập. Chiếu từ 24/7/2021-01/9/2021.

2/. Nha môn bí ẩn (TQ), 28 tập. Chiếu từ 02/9/2021-29/9/2021.

3/. Nắm tay nhau trọn đời (TQ), 60 tập. Chiếu từ 30/9/2021- 28/11/2021.

4/. Thái cố thần vương (TQ), 52 tập. Chiếu từ 29/11/2021 – 19/1/2022.

Từ thống kê trên có thể thấy, khung giờ vàng từ 19h45-20h15 của VTV2 liên tục trong suốt hai năm từ 25/2/2020 – 14/1/2022 chỉ dành riêng để chiếu phim Trung Quốc. Khung giờ vàng 19h-19h45 của VTV2 từ 29/6/2021 – 15/1/2022 cũng liên tục chỉ có phim Trung Quốc. Khung giờ vàng của VTV3 lúc 18h10 -19h liên tục từ 24/7/2021 – 19/1/2022 cũng chỉ dành riêng cho phim Trung Quốc.

3. TẠI SAO HỌC SINH VIỆT NAM KHÔNG NHỚ SỬ VIỆT NAM?

Trong phiên trả lời chất vấn của ĐBQH ngày 11/11/2021 về vấn đề học sinh không thích học môn lịch sử, điểm thi môn lịch sử thấp, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Kim Sơn đã tự đặt câu hỏi:

“Đất nước chúng ta lịch sử hào hùng, có nhiều điều mà thế hệ sau tự hào, nhưng tại sao học sinh không hứng thú, điểm thi thì thấp?“.

Nếu mỗi giờ dạy học trên lớp chỉ có tác động trong phạm vi một lớp học 30-50 người, thì mỗi giờ chiếu phim trên truyền hình có tác động đến hàng triệu, hàng chục triệu người. Nếu mỗi giờ dạy học lịch sử trên lớp chỉ nói về được một bộ môn lịch sử, thì một giờ chiếu phim trên truyền hình là một giờ giảng dạy vô cùng hiệu quả về lịch sử, về địa lý, về văn hoá, về con người…

Các triều đại của Trung Quốc, từ Nghiêu Thuấn, Hạ, Thương, Chu, qua Thời Xuân Thu – Chiến Quốc, đến Tần, Hán, Tấn, Nam – Bắc Triều, rồi Tuỳ, Đường, Tống Nguyên, Minh, Thanh – không sót một triều đại nào – tất cả đều xuất hiện nhiều lần trên các kênh của VTV. Có quá nhiều vua chúa và quan tướng Trung Quốc được các kênh của VTV chiếu đi chiếu lại nhiều lần vào các khung giờ vàng. Trình chiếu trong khung giờ vàng có lượng người xem nhiều lần đông hơn các khung giờ khác.

Trong khi đó thì các triều đại của Việt Nam, các anh hùng hào kiệt của Việt Nam, từ thời Thánh Gióng phá giặc Ân, qua Văn Lang, Âu Lạc, đến Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Nam Đế, Mai Hắc Đế, Ngô Quyền, rồi đến Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê, Trịnh, Mạc, Nguyễn – không được lên khung giờ vàng 18h-20h trên các kênh truyền hình chính của VTV liên tục ngày này qua tháng khác như các triều đại Trung Quốc.

Cho nên, xin thưa với Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn! Trong các nguyên nhân làm cho học sinh Việt Nam có điểm lịch sử thấp, thì có nguyên nhân là truyền hình chiếu quá nhiều phim Trung Quốc, làm cho học sinh Việt Nam hàng ngày tai nghe mắt thấy lịch sử Trung Quốc, nhớ lâu lịch sử Trung Quốc, còn ít bộ nhớ cho lịch sử Việt Nam, nhãng quên lịch sử Việt Nam. Mà đáng ra, học theo lời cụ Hồ “Dân ta phải biết sử ta”, thì phải dành nhiều thời gian khung giờ vàng cho lịch sử Việt Nam.

4. TỰ NGUYỆN THÌ BIẾT TRÁCH AI?

Đồng hoá văn hoá bằng phim ảnh trên truyền hình là một hình thức xâm lược vô cùng nguy hiểm. Nguy hiểm ở chỗ bị xâm lược mà không biết bị xâm lược. Học theo văn hoá thì sẽ học theo kinh tế và chính trị.

Giao lưu và trao đổi văn hoá là hiển nhiên. Giao lưu và trao đổi văn hoá mỗi ngày sẽ có phạm vi và cường độ mạnh hơn – tỷ lệ thuận với mức độ toàn cầu hoá. Nhưng giao lưu và trao đổi văn hoá khác xa với xâm lăng văn hoá và bị lấn át văn hoá.

Hai thập niên gần đây, Việt Nam đang hứng chịu những cuộc xâm lăng văn hoá với cường độ mỗi ngày một tăng. Chua xót thay, có người, không chỉ thuần phục, mà còn tự nguyện đón rước.

Những điều gì cần phải hành động sau Hội nghị Văn hoá lớn nhất kể từ năm 1946?

Dẫu chưa thấy đề cập trong Hội nghị Văn hoá ngày 24/11/2021, thì một trong những nhiệm vụ mang tính sống còn của văn hoá Việt là chống lại sự đồng hoá của văn hoá nước ngoài để “Văn hoá còn thì dân tộc còn…”.

Kiến nghị một biện pháp giáo dục góp phần “khai phóng”

 

Kiến nghị một biện pháp giáo dục góp phần “khai phóng”

Mạc Văn Trang

29-11-2021

Ý tưởng này nảy ra khi nhà giáo Thái Hạo cho biết, tình cờ thấy “một cô bé lớp 3 có ba mẹ là lao động chân tay, chứ không phải trí thức văn nghệ sĩ gì” vẽ bức tranh “lạ” và nhà giáo viết: “Tôi cũng không phải dân hội họa, không sành về tranh nhưng bằng cảm nhận thuần túy trực giác tôi thấy bức tranh có hồn và đẹp. Tôi nghĩ về giáo dục Việt Nam, đứa bé này có thể tiếp tục theo đuổi đam mê của nó với một núi bài tập, với môn chính môn phụ, với thi cử thành tích…?”

Tranh của cô bé lớp 3 lấy từ FB Thái Hạo

Từ lâu, những năm 1990, nhiều người đã phê phán nền giáo dục “xã hội chủ nghĩa” mang tính áp đặt, “đúc khuôn”, “bình quân về nhân cách”… Nền giáo dục đó đặt ra MỤC TIÊU cho MẪU CON NGƯỜI MỚI XHCN và rèn luyện từ Tiểu học trở đi theo khuôn khổ quy định và quy trình được thiết kế để đạt tới mục tiêu đã định.

Ông Tố Hữu từng nói: Mỹ có tên lửa 3 tầng, nhưng ta có tên lửa 4 tầng, đó là cơ chế đào tạo nên những con người mới XHCN: Đội Nhi Đồng => Đội Thiếu niên Tiền phong => Đoàn Thanh niên => Đảng. Những con người đã được đào luyện qua 4 tầng theo một mục tiêu nhất quán như vậy, sẽ là vô địch…

Nhưng kết quả đã không như mong muốn, nên TBT Nguyễn Phú Trọng từng than phiền về nạn “khô Đoàn, nhạt Đảng”. Còn những người ngoài Đoàn, ngoài Đảng thì sao?

Quan niệm áp đặt duy ý chí, rập khuôn, đào tạo ra những mẫu người có niềm tin như nhau, nghĩ như nhau, nói giống nhau, ngoan ngoãn phục tùng làm theo lệnh “trên” vô điều kiện đã phát huy sức mạnh của chính quyền chuyên chính vô sản trong giai đoạn chiến tranh vệ quốc. Nhưng nó triệt tiêu cá tính độc đáo, sáng tạo cá nhân, dập tắt mọi khuynh hướng, ý kiến khác lạ, khuyến khích học thuộc, sao chép dập khuôn theo mẫu …

Dù đã “đổi mới” giáo dục nhiều lần nhưng quan điểm chỉ đạo giáo dục vẫn như cũ, có điều nó bị rệu rã trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế. Hơn nữa, nền giáo dục lại phải chịu đựng tệ nạn “Làm nghề gì ăn nghề ấy”: Học sinh bị sách giáo khoa và các loại sách ăn theo, “ĂN” cho kiệt quệ; bị học thêm “ĂN” cho bơ phờ, đờ đẫn; bị các hoạt động vô bổ “ĂN” cho mất hồn, không biết mình là ai! (Thư tuyệt mệnh năm 2020 của một học sinh lớp 10 viết, con học đến nỗi mụ người đi, không còn biết mình là ai, không muốn sống nữa!…).

Trong cái bể giáo dục hỗn độn hiện nay, chưa mong có cải cách giáo dục tiến bộ để học sinh “đi học là hạnh phúc”; chưa thể để trẻ được “phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em” (Hồ Chí Minh, 1945); chưa có môi trường cho học sinh được tự do suy nghĩ, tự do biểu đạt, tự do sáng tạo, xin kiến nghị một biện pháp góp phần “khai phóng”.

Đó là: Giảm tải chương trình giáo dục phổ thông; thay dạy thêm, học thêm bằng những CÂU LẠC BỘ YÊU THÍCH dành cho học sinh phổ thông.

Giảm tải chương trình để học sinh học ít thôi, cốt đạt được kiến thức, kỹ năng cơ bản phổ thông chắc chắn. Trên nền tảng đó, dành thời gian cho học sinh được hoạt động trong lĩnh vực mình yêu thích và có năng khiếu/ sở trường. Hầu hết người lớn chúng ta đều thấy hối tiếc vì thời trẻ đã mất thời gian, tâm sức học bao nhiêu cái nhồi nhét đầy đầu óc, nhưng ra đời có dùng được bao nhiêu. Trong khi đó cái năng khiếu/ sở trường không được thể hiện. Mà ra đời chỉ chủ yếu phát huy giá trị cái năng khiếu/ sở trường của mình mà thôi, còn vứt bỏ hầu hết cái đã học vô bổ. Hơn nữa, thời đại internet toàn cầu, điều gì cần biết thì tìm kiếm dễ dàng, sao phải học thuộc, nhét đầy bộ nhớ làm gì?

Các giáo viên nào có sở trường/ năng khiếu về Toán, Lý, Hoá, Tin, Ngoại ngữ, Văn thơ, Sử, Địa, Thể thao, Âm nhạc, Hội hoạ, Kỹ thuật, Nữ công… đều cần được khuyến khích tổ chức các CLB YÊU THÍCH cho học sinh. (Giáo viên nào chẳng có sở trường gì để thu hút được học sinh, xin kiếm thêm tiền bằng việc khác, không được phép bắt ép học sinh học thêm).

Thay vì mất thời gian và trả học phí học thêm, học sinh tham gia CLB sẽ đóng tiền cho hoạt động yêu thích của mình. Như vậy CLB sẽ là nơi giúp học sinh được “khai phóng” cái “năng lực sẵn có” trong hoạt động yêu thích. Các em hoạt động tìm tòi sáng tạo cá nhân hay nhóm, mỗi tuần chỉ cần sinh hoạt chung một buổi để được hướng dẫn, chia sẻ, chủ yếu xem trình bày sản phẩm sáng tạo… Như vậy phần nào đem lại hứng thú, say mê cho học sinh và năng khiếu/ sở trường không bị thui chột, mà còn có cơ hội nảy nở, phát triển.

Trong công đồng, xã hội cũng cần mở những CLB YÊU THÍCH cho thanh, thiếu niên hoạt động, sẽ khiến giới trẻ phát triển lành mạnh, bớt những hoạt động vô bổ.

Chuyện thằng cháu tôi là một ví dụ. Cháu thích vẽ và thích chơi đá bóng từ Mẫu giáo. Theo mẹ sang Ba Lan, cháu học kém toàn diện, chỉ mỗi môn Võ (thể thao) và Vẽ là xuất sắc. Tuy học kém, nhưng đá bóng giỏi, được nhiều bạn bè quý mến, có một cái để tự hào, nên không hề tự ti. Đến lớp 12, “Ra sức phấn đấu”, môn tiếng Anh khá, các môn khác trung bình yếu. Giữa năm, thầy chủ nhiệm đã hướng nghiệp cho cháu vào học làm giáo viên Thể dục. Nhưng gia đình hỏi ý kiến cháu, rồi cháu quyết định thi vào Kiến trúc và cho cháu học thêm vẽ Kiến trúc.

Trường Kiến trúc thi một bài Toán, một bài tiếng Anh và mấy bài vẽ. Các bài vẽ được tính hệ số cao, nên cháu đỗ vào trường Kiến trúc và học tốt. Ngay khi là sinh viên đã cùng nhóm bạn Thi quốc tế được mấy giải, được Công ty Kiến trúc Đan Mạch mời đi thực tập 6 tháng. Tốt nghiệp làm cho một Công ty Hà Lan và thăng tiến tốt. Đặc biệt là cháu rất yêu nghề, say sưa sáng tạo, thành công.

Cho nên chỉ cần học sinh học trung bình các môn, nhưng mỗi em được tự do yêu thích một, hai môn, được tạo điều kiện phát triển năng khiếu/sở trường của mỗi em thì sẽ có say mê sáng tạo, mỗi em phát triển tài năng trong một lĩnh vực thì xã hội sẽ có nhiều tài năng.

Tất nhiên có học sinh xuất chúng, giỏi toàn diện thì quý quá; nhưng cuối cùng thì em giỏi toàn diện đó có thành công hay không, cũng chỉ trong một/ hai lĩnh vực hoạt động nào đó.

Lại nhớ ngày xưa, nhiều nhà văn, thơ, như Nguyên Hồng, Tô Hoài … chỉ học hết Tiểu học rồi đi làm, tự do viết văn theo ý thích mà thành tài.

Lĩnh vực nào cũng vậy, học sinh, sinh viên cần có niềm say mê yêu thích môn mình học, được tự do sáng tạo, phát huy “năng lực sẵn có” của mình thì mới có hạnh phúc và phát triển.

Nho giáo và chữ “Lễ” có trói buộc con người?

 

Nho giáo và chữ “Lễ” có trói buộc con người?

Nguyễn Văn Nghệ

29-11-2021

Năm 2016 GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm khẳng định: “Giáo dục hỏng chính là do triết lý giáo dục sai lầm”. Ông phân tích: “Chính là do ảnh hưởng của triết lý giáo dục ‘con ngoan trò giỏi’mà chúng ta đã khôi phục khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” ở khắp nơi, cứ tưởng rằng xã hội lộn xộn thì chỉ cần gò trẻ em vào lễ là xong. Nề nếp do lễ mang lại ở đâu chưa thấy, trong khi ai cũng biết rằng, Nho giáo và chữ Lễ trói buộc con người, không cho sáng tạo thì rất rõ. Không sáng tạo làm sao có phát triển?”

Ngày 21/11/2021 tại Hội thảo giáo dục chủ đề “Văn hóa học đường trong bối cảnh đổi mới Giáo dục – Đào tạo” do Ủy Ban Văn hóa Giáo dục của Quốc hội tổ chức, ông Trần Ngọc Thêm đã đề nghị “Cần chấm dứt sử dụng khẩu hiệu ‘Tiên học lễ. hậu học văn’ để khai mở tư duy phản biện, giải phóng sức sáng tạo”.

Nho giáo và chữ Lễ có trói buộc con người, không cho sáng tạo như nhận định của ông Trần Ngọc Thêm không?

Tác dụng của Lễ trong cuộc sống

Ý nghĩa của chữ “Lễ” rất là rộng, không chỉ gói gọn trong lễ nghi, lễ giáo. Nếu ai đã đọc qua phần khái quát chữ Lễ trong tác phẩm Nho giáo của cụ Trần Trọng Kim thì mới thấy chữ Lễ rất là thâm thúy. Lễ đã làm cho tất cả sinh hoạt trong xã hội đều có quy củ: “Đạo đức nhân nghĩa, không có lễ không thành; dạy bảo, sửa đổi phong tục, không có lễ không đủ; xử việc phân tranh kiện tụng, không có lễ không quyết; vua tôi, trên dưới,cha con, anh em, không có lễ không định; học làm quan, thờ thầy, không có lễ không thân; xếp đặt thứ vị trong triều, cai trị quân lính, đi làm quan, thi hành pháp lệnh không có lễ không uy nghiêm; cầu khấn tế tự, cung cấp quỷ thần, không có lễ không thành kính, không trang chính. Bởi thế cho nên quân tử dung mạo phải cung, trong bụng phải kính, giữ gìn pháp độ, thoái nhượng, để làm sáng rõ lễ”. (Lễ ký: Khúc lễ thượng).

Lễ khiến cho sự hành vi của con người có chừng mực, để lúc nào cũng hợp với đạo trung: “Cung kính mà không có lễ thì phiền, cẩn thận mà không có lễ thành ra sợ hãi, dũng mà không lễ thì loạn, trực mà không có lễ thành ra vội vã”. (Luận ngữ: Thái Bá, XIII).

Nếu không có lễ, lấy gì mà phân biệt nghĩa vua tôi, trên dưới cho có đạo lý? “Trong những cái của dân cậy mà sinh hoạt thì lễ là to hơn cả. Không có lễ thì không phân biệt ngôi vua tôi, trên dưới , lớn bé; không có lễ thì không có thể phân biệt cái lòng thân của trai gái, cha con, anh em, sự giao tiếp về hôn nhân về người thân hay người sơ”. (Lễ ký: Ai công vấn, XXVII).

Những cái tình của con người thì ẩn khuất ở trong lòng không sao biết được, chỉ có Lễ mới ngăn giữ mà thôi:  “Cái đại dục của người ta là ở việc ăn uống, trai gái, bao giờ cũng có, cái đại ố của người ta là ở sự chết mất, nghèo khổ , bao giờ cũng có. Cho nên dục, ố là cái mối lớn của tâm vậy, người ta giấu kín cái tâm không thể dò xét được; cái hay cái dở đều ở trong tâm, không hiển hiện ra ngoài. Nếu muốn tóm lại làm một để biết cho cùng mà bỏ Lễ (xả lễ) thì lấy gì mà biết được”. (Lễ ký: Lễ vận, IX).

Lễ giống như con đê ngăn lũ: “Phù lễ cấm loạn chi sở do sinh, do phường chỉ thủy chi tự lai dã”. (Lễ là sự cấm loạn sinh ra, như đường đê giữ nước không đến vậy – Lễ ký: Kinh giải, XXVI).

Tác dụng của lễ thật là quảng đại, thật là tinh vi, đủ chứng là tâm lý học của Nho giáo sâu xa vô cùng. Tác phẩm “Trung Quốc triết học sử” ghi lời nhận xét của Hồ Thích: “Trong cái nghĩa rộng chữ Lễ có hàm cái tính chất pháp luật, nhưng lễ thì thiên trọng về cái quy củ tích cực, mà pháp luật thì thiên trọng về cái cấm chế tiêu cực. Lễ thì dạy người ta nên làm điều gì và không nên làm điều gì; pháp luật thì cấm không cho làm những việc gì, hễ làm thì phải tội. Người làm điều trái Lễ thì chỉ bị người quân tử chỉ nghị chê cười, chứ người làm trái pháp luật thì có hình pháp xét xử”.

Dùng Lễ có lợi hơn là có thể ngăn cấm được việc chưa xảy ra, mà dùng pháp luật thì chỉ để trị cái việc đã có rồi, bởi vậy thánh nhân chỉ trọng Lễ, chứ không trọng hình: “Phàm cái biết của người ta chỉ biết được cái đã có rồi, không biết được cái sắp có. Lễ là để cấm trước cái sắp có, pháp luật là để cấm sau cái đã có rồi… Lễ vậy, lễ vậy, lễ quý là dứt được điều ác từ lúc chưa nảy mầm ra, dấy lòng kính ở chỗ người ta không trông thấy, để cho dân ngày ngày đến gần điều thiện, xa điều tội, mà tự mình không biết”. (Đại đái Lễ ký: Lễ tế).

Người xưa dùng đức trị, Lễ trị chứ không muốn dùng pháp chế: “Đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình, dân miễn nhi vô sỉ. Đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách”. (Nếu nhà cầm quyền chuyên dùng pháp chế, cấm lệnh mà dẫn dắt dân chúng, chuyên dùng hình phạt mà trị dân, thì dân sợ mà chẳng dám phạm phép thôi, chớ họ chẳng biết hổ ngươi. Vậy muốn dẫn dắt dân chúng, nhà cầm quyền phải dùng đức hạnh, muốn trị dân, nhà cầm quyền phải dùng Lễ tiết, thì chẳng những dân biết hổ ngươi, họ lại còn cảm hóa và trở nên tốt lành – Luận ngữ: Vi chính, II)

Nho giáo và chữ Lễ không hề trói buộc con người

Ông Trần Ngọc Thêm bảo: “Trong khi ai cũng biết rằng, Nho giáo và chữ Lễ trói buộc con người…” có vẻ như võ đoán. Theo tôi không phải “ai cũng biết rằng…”, chỉ có những người nghiên cứu Nho giáo một cách hời hợt và bị ảnh hưởng cách giáo dục theo đường lối cộng sản mới có kết luận về Nho giáo như vậy.

Nhiều người nghiên cứu về Nho giáo một cách hời hợt bảo rằng: Người Âu Mỹ nào có “tiên học lễ” mà vẫn văn minh! Xin thưa là quốc gia, dân tộc nào cũng đều có hấp thụ chữ Lễ cả, nhưng cách thể hiện Lễ thì mỗi nơi mỗi khác. Nếu không có Lễ thì làm sao trong quốc gia của họ lại có tôn ti trật tự được?

Có những học thuyết mới ra đời chỉ mươi năm mà đã bộc lộ những sai lầm một cách rõ rệt, huống chi học thuyết Nho giáo xuất hiện đã hơn hai ngàn năm thì làm sao tránh khỏi những khiếm khuyết! Khi tiếp thu văn hóa, ta đón nhận những cái tinh hoa, còn những gì lạc hậu, lỗi thời thì ta loại bỏ. Nhà nghiên cứu Will Durant đã nhận xét về Nho giáo: “Không nên trách Khổng tử về tất cả những nhược điểm ấy. Không ai lại đòi một triết gia phải suy tư cho hai chục thế kỷ. Trong một đời người làm sao có thể tìm được con đường đưa tới tri thức cho hết thảy các đời sau. Mà rất ít người làm nhiệm vụ ấy một cách đầy đủ như Khổng tử. Càng hiểu rõ ông, chúng ta càng ngạc nhiên rằng chỉ có một phần nhỏ trong đạo của ông là không hợp với khoa học, với những sự biến đổi do thời gian. Khi ta nhận thấy rằng ngay ở thời đại chúng ta, ông vẫn còn là người chỉ đường chắc chắn cho chúng ta, thì chúng ta quên những lời đôi khi hơi nhàm của ông và đức độ quá hoàn toàn của ông làm cho ta có lúc chịu không nổi”.

Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, cựu Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội đã luyến tiếc cho truyền thống Nho giáo đã “bị đứt gãy” ở Việt Nam: “Với đội ngũ hành chính – công vụ ở các nước Đông Bắc Á, tôi thấy truyền thống Nho giáo sâu xa đã giữ gìn được sự liêm sỉ đích thực.

Ở các nước ấy truyền thống Nho giáo liền mạch, chứ không bị đứt gãy như ở Việt Nam. Thời phong kiến xưa, ở Việt Nam ta từng có những ông quan sẵn sàng xây dựng kênh rạch tưới tiêu xuyên qua đất của mình. Có liêm chính, có tinh thần phụng sự quốc gia, những người này sẳn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích quốc gia, chứ tuyệt đối không nắn chỉnh kênh rạch thành một ‘đường cong mềm mại’.

Tất nhiên vào những thời suy, quan lại phong kiến tha hóa, xấu xa không phải là không có, nhưng vào những thời thịnh, số lượng quan thanh liêm là rất nhiều. Sự thịnh trị có được chính là nhờ vào đội ngũ quan lại thanh liêm như vậy.

  Bây giờ chúng ta phải tìm cách khơi gợi, nuôi dưỡng trở lại cái tinh thần bị đứt gãy ấy. Lương bổng là cần, nhưng lương bổng chỉ là một nửa của vấn đề. Một nửa còn lại chính là tinh thần, đạo đức, cốt cách và sự liêm sỉ”.

Cách nhận định về Nho giáo của ông Trần Ngọc Thêm rất là hời hợt. Trong tác phẩm “Cơ sở văn hóa Việt Nam” của ông có 13 trang viết về Nho giáo và Văn hóa Việt Nam, ông đã đưa ra nhiều dẫn chứng sai lạc về Nho giáo. Ông đã cố ca ngợi ông Hồ Chí Minh: Chính vì đặt nước lên trên mà một người xuất thân từ dòng dõi Nho gia như Hồ Chí Minh dám đi ngược lại giáo huấn của Nho giáo: Dám bỏ lại cha già để đi tìm đường cứu nước tại trời Tây xa xôi (theo Nho giáo thì “phụ mẫu tại bất viễn du” – cha mẹ còn, con không được đi xa).

Cách giải thích như vậy chúng tôi gọi là giải thích theo kiểu “tắc tử”, “nửa vời”. Nho giáo nào cấm khi cha mẹ còn, con không được đi xa. Sách Luận ngữ, ở thiên Lý nhân ghi rõ ràng: “Phụ mẫu tại, bất viễn du, du tất hữu phương”. (Trong khi cha mẹ còn sanh tiền, phận làm con chớ có đi chơi xa, như có đi chơi xa thì thưa trước cho cha mẹ biết để cha mẹ an tâm).

Trong câu ấy gồm hai vế, nhưng ông Trần Ngọc Thêm chỉ lấy vế đầu giải thích để đạt được mục đích là cố ca ngợi ông Hồ Chí Minh, để rồi quy kết “Nho giáo và chữ Lễ trói buộc con người”!

Ông Trần Ngọc Thêm nghiên cứu về Nho giáo một cách hời hợt “Khẩu hiệu ‘Tiên học lễ, hậu học văn’ là sản phẩm của nền giáo dục Nho giáo, phục vụ cho mục tiêu đào tạo người thừa hành, coi việc đòi hỏi người dưới phải phục tùng và giữ “lễ” với người trên là yêu cầu số 1”. Có phải “Tiên học lễ đòi hỏi quan hệ một chiều” không?

Vua Định công nước Lỗ hỏi Khổng tử: “Vua khiến bề tôi, bề tôi thờ vua phải như thế nào?” Khổng tử đáp: “Vua lấy Lễ mà đãi bề tôi, bề tôi lấy trung mà thờ vua” – (Luận ngữ: Bát dật, 19). Hoặc Mạnh tử bảo với Tề Tuyên vương: “Vua xem bề tôi như tay chân, thì bề tôi xem vua như bụng như lòng. Vua xem bề tôi như chó ngựa, thì bề tôi xem vua như người lạ trong nước. Vua xem bề tôi như đất như cỏ, thì bề tôi xem vua như giặc như thù”. (Mạnh tử: Ly lâu, Chương cú hạ 3). Như vậy quan hệ về Lễ trong Nho giáo là quan hệ hai chiều chứ không phải như nhận định của ông Trần Ngọc Thêm!

Do nghiên cứu hời hợt nên ông Trần Ngọc Thêm khẳng định: “Chừng nào còn đề cao chữ ‘Lễ’ thì người học còn bị trói buộc trong quan hệ kính trọng một chiều. chấm dứt sử dụng khẩu hiệu ‘Tiên học lễ, hậu học văn’ sẽ là điều kiện cần để khai mở tư duy phản biện, giải phóng sức sáng tạo”.

Tác giả Lê Học Lãnh Vân không quan niệm như ông Trần Ngọc Thêm: “Tư duy phản biện không bị trói buộc bởi quan niệm ‘Tiên học lễ’. Nó bị trói buộc bởi cả một cách tổ chức xã hội, trong đó ngôn luận không được tự do. Khi không có tự do báo chí, thì rõ ràng không có tự do ngôn luận. Khi luật pháp có thể bỏ tù người dân vì ý nghĩ trong đầu của họ thì rõ ràng không có tự do tư tưởng rồi”. Tự do sẽ là chìa khóa cho sự Khai phóng!

Hậu quả của việc bỏ cũ theo mới ở Việt Nam hiện nay

Trong thời gian trước đây, những ai sinh ra và lớn lên được giáo dục dưới mái trường xã hội chủ nghĩa đều bị nhồi nhét tư tưởng cho rằng “Nho giáo là bảo thủ lỗi thời và kiềm hãm sự phát triển của xã hội”. Khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” là “tàn dư tệ hại của Khổng giáo” cho nên “chúng ta không thể dung hòa được với Khổng giáo và hệ tư tưởng phản động và bảo thủ của nó” và “chúng ta phải kiên trì đấu tranh để quét sạch nó ra khỏi mọi lãnh vực của đời sống xã hội như quét sạch những đống rác bẩn vậy!”

Dân tộc Việt Nam đã trải qua một thời gian dài chịu ảnh hưởng Nho giáo. Khi những người cộng sản Việt Nam nắm chính quyền ở miền Bắc thì quyết tâm phá bỏ nền văn hóa cũ để xây dựng một nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa. Về đạo đức chỉ dạy “đạo đức cách mạng”. Riêng ở Miền Nam, vào năm 1958, Tổng thống Ngô Đình Diệm ra lệnh thành lập Hội Khổng học trên tất cả các tỉnh thành để tiếp tục duy trì quảng bá đạo đức cương thường của tổ tiên. Về triết lý giáo dục dựa trên nền tảng: Nhân bản – Dân tộc – Khai phóng.

Việc bỏ cũ theo mới được cụ Trần Trọng Kim nhận xét trong “lời phát đoan” của tác phẩm Nho giáo: “Xét ra cho kỹ, sự bỏ cũ theo mới của ta hiện thời bây giờ không phải là không cần cấp, nhưng vì người mình nông nổi, không suy nghĩ cho chín, chưa gì đã đem phá hoại cả đi, thành thử cái xấu, cái dở của mình thì vị tất đã bỏ đi được, mà lại làm hỏng mất cái phần tinh túy đã giữ cho xã hội của ta được vững bền hàng mấy nghìn năm nay. Phàm người ta muốn bỏ cái cũ đã hẩm nát, tất là phải có cái mới tốt hơn, đẹp hơn để thay vào. Nay ta chưa có cái mới mà đã vội vàng bỏ cái cũ đi, thành ra đổ nát cả, mà không có cái gì thay vào được. Ấy là cái tình trạng nước ta ngày nay là thế, khác nào như chiếc thuyền đi ra giữa biển, đánh mất địa bàn chỉ nam, không biết phương hướng nào mà đi cho phải đường, cứ lênh đênh mãi, không khéo lại bị sóng gió va vào đá vỡ tan mất cả. Đó là điều ta nên biết để tìm cách mà chữa lại được chút nào chăng”.

Chính do những người cộng sản chủ trương đoạn tuyệt với nền luân lý đạo đức duy lý nhã nhặn mà tổ tiên ta đã hấp thụ qua biết bao nhiêu thế hệ, để chạy theo học thuyết duy lý hung hăng của Đức, Nga mà hậu quả theo kết quả điều tra ở Việt Nam vào năm 2006 cho thấy: Tỷ lệ nói dối cha mẹ ở học sinh cấp Tiểu học là 22%, cấp Trung học Cơ sở là 50%, cấp Trung học Phổ thông là 64%, Sinh viên là 80%.

Chữ Lễ không hề trói buộc con người như lập luận của ông Trần Ngọc Thêm. Người Việt Nam ai cũng sợ mang tiếng là “đồ vô lễ”. Con người mà “vô lễ” thì sẽ không từ bỏ bất cứ hành động gian ác nào.

Để ngày càng hoàn thiện trên con đường đạo đức, mỗi người phải luôn tu thân tức là “khắc kỷ phục lễ” (chế thắng lòng tư dục của mình và theo về lễ tiết – Luận ngữ: Nhan Uyên, XII), phải “ước ngã dĩ lễ” (dùng lễ tiết mà ước thúc thân tâm ta – Luận ngữ: Tử Hãn, IX). Tu thân không miễn trừ một ai (Tự thiên tử dĩ chí ư thứ nhân nhất thị giai dĩ tu thân vi bản). Sau khi đã “khắc kỷ phục lễ” thì mọi người sẽ: “Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động” (không phải lễ thì chớ trông, không phải lễ thì chớ nghe, không phải lễ thì chớ làm – Luận ngữ: Nhan Uyên, XII).

Người giàu sang biết Lễ thì không dâm tàn, không kiêu căng; người bần tiện biết Lễ thì không nản chí, không làm bậy; cán bộ, viên chức mà biết Lễ thì biết cách lo cho dân, cho nước.

Nếu như cán bộ quan chức trong bộ máy đảng và chính quyền nước ta hiện nay biết “khắc kỷ phục lễ”, biết “ước ngã dĩ lễ” thì đâu đến nỗi bà cựu Phó Chủ tịch Nguyễn Thị Doan phải thốt lên trước bàn dân thiên hạ: “Cái liều vacxin tiêm cho một cháu lại san ra tiêm cho hai cháu ngay tại Hà Nội. Tôi càng đi càng thấy buồn, ‘ăn’ của dân không từ một cái gì”. Nói theo ngôn ngữ dân gian thì quan tham “ăn tận đáy quần chúng”.

Những gì là tinh hoa văn hóa của nhân loại (không cần phân biệt là “sản phẩm của Nho giáo” hoặc Phật giáo hoặc Ki tô giáo…) thì chúng ta sẵn sàng tiếp nhận để làm cho nền văn hóa của dân tộc ta ngày càng thêm phong phú!

Nguyễn Văn Nghệ, Diên Khánh – Khánh Hòa