Bài đăng nổi bật

Bức tường Berlin (Phần 1): Nước Đức chia cắt

  Bức tường Berlin (Phần 1): Nước Đức chia cắt 12/08/2021 Nguyễn Thọ 12-8-2021 Vào ngày này cách đây 60 năm, đêm 12, rạng sáng ngày 13.08.19...

Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2016

Đời dư luận viên

Đời dư luận viên

noreply@blogger.com (danlambao)Sat 8:39 AM


Không gian mạng Trung Quốc đã đăng rộng rãi những tranh biếm sau về dư luận viên hay còn gọi đảng viên Đảng Năm mươi Xu.



Tôi sinh ra đời trên một tinh cầu nghèo khổ. Tinh cầu Thiên đỉnh


Đây là lúc tôi còn trẻ.


Những ngày tuổi trẻ ấy thật thê thảm.
Vì rượt theo tôi, cha tôi bị xe cán chết.


Còn mẹ tôi bị rớt máy bay.


Cho nên gia đình tôi rất nghèo
Nên em Sen yêu quý
Bỏ tôi theo thằng khác.


Đời tôi
Sụp đổ tan tành
Tôi thầm nhủ
Muốn giàu
Phải bán linh hồn!


Tôi quyết định rời bỏ tinh cầu quái ác này để tìm thế giới mới.


Tôi vượt qua dải Ngân Hà, và trải qua muôn vàn gian khổ.


Tuy nhiên trái đất chẳng phải là thiên đường.
Tôi chẳng hiểu gì hết.
Tôi không bao giờ có thể tìm việc được.
Nên cũng chẳng có tiền.


Tôi cố thử đủ loại việc.
Tôi trở thành sát thủ.
(Không may, những người bắt chó rông bắt tôi đi như thể tôi là chó.)


Tôi cũng chụp ảnh hổ giả cho người khác.
(Không may tôi bị lộ tẩy.)


Nhưng tôi chẳng làm nên tích sự gì.
Tôi tưởng đâu chết đói.


Vào lúc nguy nan nhất cơ hội của tôi đến.
Trong khi tôi xin ăn ở nhà hàng,
Lần đầu tiên tôi nghe người ta nói đến nghề:
Dư Luận Viên


Dư luận viên trưởng bảo tôi
Dư luận viên là những người đê tiện và mặt dày hơn các quan chức Trấn Bình.
Dư luận viên là kẻ ai ai cũng ghét
Và cũng phải chịu đựng để người ta nguyền rủa.
Nguyền rủa là cha mẹ chết hết và trời hành làm cho dòng dõi tuyệt tự.
Nhưng họ kiếm tiền rất nhanh.


Công việc dư luận viên rất đơn giản:
Mỗi ngày viết lời bình trên mạng
Đả phá mọi ý tưởng phải và trái.
Hay nói đơn giản, lên mạng để khiêu khích mọi người
Nếu nhiều người chửi mình, chứng tỏ ảnh hưởng của mình lớn.
Anh có thể phát tán những lời bình 50 xu
Và lúc ấy anh được gọi là đảng viên 50 xu.


Tôi không cha không mẹ
Người yêu cũng bỏ đi nốt
Đời chẳng còn nặng gánh lo toan
Nên tôi trở thành đảng viên 50 xu.


Mặc dù đôi khi người ta nhận ra tôi trên đường phố
Và đá đít tôi


Nhưng mỗi lần nhận 50 xu ấy
Bao đau phiền cũng tiêu tan.
Vì 50 xu đẹp đẽ ấy
Tôi trở thành con chó.


Tôi sẵn sàng cắn đời
Nếu được cho 50 xu.

Nguồn:

Báo mạng China digital Times ngày 9/6/2010

Bản tiếng Việt:

Nhà văn Võ Thị Hảo: Bầu cử là một trò hề lừa bịp dưới chế độ độc tài toàn trị

Nhà văn Võ Thị Hảo: Bầu cử là một trò hề lừa bịp dưới chế độ độc tài toàn trị

noreply@blogger.com (danlambao)Sat 8:38 AM


Trần Quang Thành (Danlambao) - Ngày Chủ nhật 22/5/2016 sắp tới, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam lại tung hứng trò hề dân chủ. Đó là cuộc bầu cử khóa mới cho đại biểu Quốc hội khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp.

Đã là một chế độ độc tài toàn trị, dân chủ chỉ là một trò hề lừa bịp, gian dối. Trò hề đó nó cứ lặp đi lặp lại nhưng mỗi ngày một tinh vi, xảo trá hơn nhưng lộ liễu hơn. Chẳng hạn như trước đây mấy nhân vật nhà nước cao cấp nhất họ không công khai lộ liễu danh tính một cách trơ trẻn như kỳ này. Quốc hội chưa bầu, nhưng nhóm quyền lực cao nhất trong đảng đã ấn chỉ người sẽ đảm nhận chức danh chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ, chủ tịch quốc hội.

Nói lên những suy tư của mình, nhà văn Võ Thị Hảo khẳng đinh dưới chế độ độc tài toàn trị không bao giờ có bầu cử theo đúng nghĩa của nó. Đây chỉ là một trò hề lừa bịp gian dối.

Nhà văn Võ Thị Hảo
Cuộc phỏng vấn do nhà báo Trần Quang Thành thực hiện - Mời quí vị cùng nghe:

Ông Đinh La Thăng và góc nhìn biện chứng lịch sử

Ông Đinh La Thăng và góc nhìn biện chứng lịch sử

noreply@blogger.com (danlambao)Sat 9:14 AM


Nguyễn Văn Thạnh (Danlambao) - ...Đinh La Thăng là gương mặt tiêu biểu đại diện cho xu hướng nỗ lực hồi sinh triều đại hiện nay. Ông có tố chất của triều đại mình sống: hoạt động phong trào, lấy lòng dân bằng những việc lặt vặt, hệ thống gõ mõ khua chiêng hùng hậu để hô to thành tích khi làm được việc gì đó, bất chấp chi phí như thế nào...

*

Trước đây, có một nhân vật rất nổi là ông Nguyễn Bá Thanh. Tôi có một bài viết về ông với góc nhìn biện chứng(*).

Trong góc nhìn đó, tôi cho rằng ông NBT đang làm một việc có hại cho sự tiến hóa là ra sức cứu một cái cây xấu, cái cây đã mục ruỗng. Tất nhiên là ông đã thất bại vì không thể chống lại qui luật của đất trời.

Cái chết của ông như là sự chấm hết cho nỗ lực diệt sâu của ĐCS. Sâu từ trong thân sinh ra, không thể nào diệt được. Giản dị là như vậy.

Sau cái chết của ông NBT, trong ĐCS nổi lên 4 nhân vật tương đối có tiếng: ông Nguyễn Phú Trọng, ông Đinh La Thanh, ông Hoàng Trung Hải và ông Nguyễn Đức Chung. Ít nhiều 4 ông này thay nhau đốt nóng đường truyền internet trong thời gian qua.

Tôi sẽ lần lượt trình bày góc nhìn biện chứng về 4 vị này.

Trong bài này, tôi xin nói là ông Đinh La Thăng (ĐLT) vì có vẻ ông là hotboy nhất hiện nay.

Lịch sử ngàn năm qua cho thấy, triều đại đến rồi triều đại đi. Mỗi sự đến rồi đi của các triều đại luôn có lý do tất yếu của nó.

Một triều đại được khai sinh là để giải quyết bài toán ngoại xâm hay giải quyết sự bế tắc của triều đại trước.

Sau thời gian phát triển, hoàn thành nhiệm vụ thì nó dần tha hóa và tất yếu là phải ra đi. Đinh, Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn... đã chứng minh cho nhận định trên.

Điều đáng chú ý là sự kết thúc một triều đại luôn kéo dài trong đau khổ. Rất nhiều người, nhiều thế lực vì tình cảm yêu mến hoặc vì lợi quyền, đã nỗ lực hồi sinh triều đại mình sống nhưng luôn bất thành.

Ông ĐLT là gương mặt tiêu biểu đại diện cho xu hướng nỗ lực hồi sinh triều đại hiện nay.

Ông có tố chất của triều đại mình sống: hoạt động phong trào, lấy lòng dân bằng những việc lặt vặt, hệ thống gõ mõ khua chiêng hùng hậu để hô to thành tích khi làm được việc gì đó, bất chấp chi phí như thế nào.

Nếu trước đây ông có cơ may thành công vì đảng nắm độc quyền loa đài và nguồn lực còn nhiều để vừa làm vừa phá cũng có thành tích.

Dưới góc nhìn biện chứng lịch sử: hiện tượng ĐLT là tia lửa phụt lên cuối cùng của triều đại. Nó tắt ngấm sau đó là tất yếu. Thời đại mới không còn ủng hộ kiểu nhảy nhót này nữa.

Vấn đề là người dân SG có đủ khôn để biết tương lai nằm ở đâu trong câu chuyện ồn ào này. Lắng nghe diễn viên cuối của triều đại hay lắng nghe những tiếng nói mới nổi, tuy nhỏ bé nhưng lại là tiếng vọng của tương lai.

Người dân SG thân mến, đừng nghe ông Thăng nói mà hãy nghe những người như... Thạnh (người tranh đấu cho nền dân chủ) nói.



______________________________________

(*) http://www.thanhblog.org/2015/02/ong-nguyen-ba-thanh-va-goc-nhin-bien.html?m=1.

Sổ sách tài chánh của Tàu Cộng "hết sức đáng ngờ!”

Sổ sách tài chánh của Tàu Cộng "hết sức đáng ngờ!”

noreply@blogger.com (danlambao)Sat 8:38 AM


Kalyeena Makortof - Nguyễn Trọng Dân (Danlambao) lược dịch - Báo cáo tài chánh của Tàu Cộng một lần nữa bị đem ra mổ xẻ (trên truyền thông) vào ngày hôm nay, thứ Sáu, khi một phân tích gia khẳng định các doanh nghiệp quốc doanh của Tàu Cộng "gian dối" để che đậy sự đổ vỡ về tín dụng.

Tàu Cộng dường như đang lao vào đổ bể tín dung trầm trọng, Chris Watling, Chủ Tịch Điều Hành và là trưởng kinh tế gia cho hãng Longview Economics, thừa nhận như thế khi nói chuyện với hãng thông tẩn CNBC ngày hôm nay, và ông cho rằng các công ty quốc doanh của Tàu cộng mượn nợ mới để lấp nợ cũ mà thôi.

Watling khẳng định như sau: "Chúng tôi điều nghiên rất nhiều các sổ sách báo cáo của Tàu Cộng thới gian gần đây và những báo cáo này rất khả nghi."

Các doanh nghiệp quốc doanh đang gia tăng mượn nợ chỉ để trả tiền lời của nợ cũ trong lúc cố tình lừa đảo tín dụng và trễ hạn trả nợ đang mỗi lúc mỗi gia tăng, ông Watling giải thích thêm khi loan báo cho giới truyền thông vào ngày hôm qua, thứ Năm.

Kinh tế gia Watling còn cho biết thêm có rất nhiều báo cáo đưa ra lợi nhuận thì cố cho cao trong khi thì sự luân chuyển tiền tệ đồng vốn vào ra thì lại bị âm nặng- một bằng chứng "rõ rệt" cho thấy các công ty đang lỗ nặng, Walting khẳng định.

Watling còn chỉ ra cách mà các ngân hàng thương mại quốc doanh của Tàu Cộng gian lận báo cáo như thế nào. 

"Trong một nền kinh tế mà tín dụng đang bùng nổ gia tăng, tất cả các khoảng vay mượn không nhất thiết phải nằm trên giấy tờ một cách minh bạch" - Walting nói. "Dấu nhẹm và gian dối lúc nào cũng có trong những bản báo cáo này!" - Ông còn cho biết thêm.

Các doanh nghiệp quốc doanh của Trung Cộng vẫn cố chối bỏ mọi chỉ trích như thế nhưng đây không phải là lần đầu tiên mà các báo cáo kinh doanh của Tàu Cộng bị nghi ngờ là gian dối.

Vào tháng Chín năm ngoái, cục Thống Kê Quốc Gia của Trung Cộng đã phải tuyên bố sẽ thay đổi cách tính toán sổ sách báo cáo tổng sản lượng quốc dân và đồng thời thừa nhận những con số chính phủ đưa ra trước đây không chính xác mà chỉ để che đậy sự thật là nền kinh tế đang chậm lại.

Watling cho rằng các đại công ty quốc doanh đã cố biến các khoản tiền vốn vay mượn thành như là lợi nhuận của tập đoàn trong báo cáo thu chi của mình, mà nhẽ ra, khoản tiền này phải được nằm vào mục nợ nần của công ty trong báo cáo thu chi.

Gian lận kiểu này khiến lợi nhuận có vẻ tăng vọt trong mọi báo cáo, mà hậu quả là đã làm tổng sản phẩm quốc dân được báo cáo cao gấp ba lần so với thực tế trong mười năm qua.

Tuy nhiên, sự gian lận kiểu này có đi đến một cuộc khủng hoảng đổ bể tín dụng hay không vẫn còn đang là một dấu hỏi, Watling trình bày tiếp, ông cho rằng trong khi nguy cơ đổ bể tín dụng đang ngày một rõ, thì nền kinh tế Trung Cộng được điều hành theo cách chỉ huy định hướng nên không nhất thiết những quy luật kinh tế thị trường tự do được thể hiện rõ ràng.

Kinh tế Trung Cộng chậm lại hiện nay diễn ra cùng lúc giới lãnh đạo Trung Cộng đang siết chặt khâu quản lý, nỗ lực kiềm chế sự bùng nổ tín dụng quá mức và đang cố chuyển đổi Trung Quốc từ một nền kinh tế lấy xuất khẩu làm đầu tàu sang một nền kinh tế lấy tiêu thụ nội địa làm trọng tâm.

Sau khi đạt mức tăng trưởng trên mười phần trăm của thập niên trước, giới lãnh đạo Trung Cộng buộc phải chấp nhận mức tăng trưởng thấp nhất trong 25 năm qua, dưới bảy phần trăm. 

(Ngầm ý của Kalyeena Makortof ở đoạn cuối muốn nhấn mạnh là do sự chấp nhận thực tế kinh tế sa sút từ giới lãnh đạo Tàu Cộng, thì sự báo cáo láo về chỉ số kinh tế từ nay về sau không còn cần thiết nữa!)

Kalyeena Makortof

Nguồn:


Bản tiếng Việt:


____________________________________

Chú thích:

Hãng Longview Economics được giới chuyên môn cho là đã đưa ra nhiều phân tích kinh tế vô cùng quan trọng cho chính phủ Hoa Kỳ. Riêng Chris Watling là một kinh tế gia lừng danh; ông thuờng xuyên đưa ra nhiểu cảnh báo chính xác về kinh tế chẵng hạn như tiên đoán của ông về khủng hoảng kinh tế vào năm 2009, trong đó nhấn mạnh đến khủng hoảng thị trường tài chánh và địa ốc.

Kalyeena Makortof là một cây bút của CNBC. Bà tốt nghiệp cử nhân Chính trị học tại đại học lừng danh British Columbia (Canada) được thành lập từ năm 1908. Bà có lối viết nhẹ nhàng dễ hiểu nhưng lại ẩn ý rất sâu xa.

Không phải chỉ có ở Việt Nam

Không phải chỉ có ở Việt Nam

bauxitevnSat 7:19 AM


Phạm Thị Hoài
Trên toàn thế giới du khách đều có thể bị lừa gạt và chặt chém: Ở thánh địa Thiên chúa Vatican và thánh địa Do Thái Jerusalem, ở đất nước chùa chiền Thái Lan và xứ sở Phật giáo Ấn Độ, ở Ai Cập Hồi giáo và Thổ Nhĩ Kỳ Hồi giáo, ở Machu Picchu của Đế chế Inca và Angkor của Đế chế Khmer, ở nước Nga hậu cộng sản và Cuba cộng sản cuối mùa, ở thân vương quốc triệu phú Monaco nhỏ xíu và nước cộng hòa nghèo đói khổng lồ Congo, ở thiên đường tuyết trắng St. Moritz và chốn thần tiên biển biếc Maldives, ở New York và London, Amsterdam và Hamburg, Istanbul và Athens, Praha và Budapest, Bắc Kinh và Hong Kong..., thậm chí ở Singapore mệnh danh The Fine City, nơi mọi động thái của con người có thể làm phiền con người đều bị phạt, từ đem sầu riêng vào taxi và tàu xe công cộng trở đi (500 SGD). Trước vụ một người Việt mua điện thoại iPhone bị lừa ở khu mua sắm Sim Lim, sáu người Mỹ đã bị một quán ở Newton Hawker Centre chém 239 SGD cho 8 con tôm sú.
clip_image001
Lên Tuk-Tuk ở Thái là chấp nhận giá đi đằng giá, đường đi đằng đường - NGUỒN ZMETRAVEL.COM

Không thể kể hết những nỗi đoạn trường của du khách ở thời đại du lịch đại chúng toàn cầu này: Một tài xế taxi chém 400 euro của một khách Mexico cho đoạn đường 10 km ở Berlin, giá thông thường chưa đầy 20 euro. Cũng tài xế taxi, Hong Kong, chém 8000 HKD của một khách Thụy Sĩ cho đoạn 30 km từ sân bay về Kowloon, giá thông thường 300 HKD. Lên Tuk-Tuk ở Thái là chấp nhận giá đi đằng giá, đường đi đằng đường. Đi taxi ở Ấn Độ là chơi xổ số, vận may của bạn là một phần mấy triệu. Ở Praha, bạn có thể nâng vận may ấy lên hai lần nhưng nỗi bực thì nhảy vọt hai nghìn phần trăm. Ở Rome, trước khi lên taxi bạn nên đặt tay lên Kinh Thánh cầu nguyện. Cũng ở thành phố bất tử này, một cửa hàng kem gần Quảng trường Tây Ban Nha chém 60 Euro cho 4 cây kem ốccủa một gia đình du khách Anh và một nhà hàng ở Quảng trường Navona chém 695 Euro cho một bữa ăn trưacủa một cặp du khách Nhật. Thủ đô nước Ý nói chung gợi nhớ đến đặc sản Ý: mafia, cũng như Paris xứng đáng với phát minh của người Pháp: nó là trọn vẹn một cỗ máy chém vĩ đại.
clip_image002
Hóa đơn 11 Euro cho một chai nước Evian 1/3 lít ở Paris và 695 Euro cho một bữa trưa ở Rome.
Tất cả những gì về nạn chặt chém mà người Việt đang bị giật mình và ám ảnh, phẫn nộ và bức xúc, bị choáng, bị sốc nặng, phải nản lòng, phải cắn răng, phải nghẹn, phải ứa nước mắt, phải ôm cục tức, phải khóc ngất và khóc thét đều đã được thế giới này sáng tạo, phát triển và tinh luyện từ lâu lắm. Người Việt, những người đến muộn và còn rất ít kinh nghiệm trong ngạch kinh doanh khao khát hương xa này, không thể coi mình là tác giả đầu tiên.
Không phải chỉ có ở Việt Nam. Trước chúng ta, xe dù và mafia taxi, chèo kéo đeo bám và kì kèo dọa dẫm, hét giá, ép giá và đội giá, ăn bớt và phụ thu, treo đầu dê bán thịt chó, ém để chém (tàu hết vé, chùa đóng cửa, khách sạn cháy phòng), xin đểu, nhầm tiền thối, nhảy đồng hồ, câu đường, ép mua quà lưu niệm và nữ trang rởm, chụp ảnh vòi tiền, gài bẫy cô nhi, giăng lưới em gái nhà lành, khám tiền miễn phí kê toa cắt cổ, cò mồi, bắt nạt và bắt chẹt, hăm dọa, rạch túi, hành hung, trấn lột..., không có gì xa lạ với lòng tham của con người mà chưa được thử nghiệm trên thế giới. Và lòng tham luôn giàu sáng kiến hơn sự tử tế. Bao giờ cũng thế, sự đểu giả thì xông xáo bạo dạn, sự lương thiện thì rụt rè; sự bất tài thường xấn xổ, tài năng lớn thường ngại ngùng; cái Ác chẳng cần ai bảo vệ, cái Thiện chưa đi một bước đã tổn thương. Ai còn mong đòi bản quyền những chiêu chặt chém vô đối cho người Việt, hãy bỏ chút thời gian xem loạt phóng sự Scam City của kênh truyền hình National Geographic. Những thành phố được chiếu cố ở đó theo thứ tự thực hiện là Buenos Aires, Praha, Rio de Janeiro, Barcelona, Rome, Delhi, Istanbul, Bankok, Las Vegas, Marrakech, New Orleans, Mexico City, New York City, Amsterdam, Jerusalem, Mumbai, Paris, London, Bogota và Hong Kong. Thượng Hải với chiêu nữ sinh viên rủ đi uống trà; Manila với chiêu rơi điện thoại, rơi máy ảnh, rơi đủ thứ bắt đền; Phukhet với chiêu đánh dằn mặt còn chưa đến lượt; vậy Đà Nẵng với suất cơm hải sản 200,000 đồng sẽ phải chờ lâu, dù trên một số diễn đàn du lịch quốc tế Việt Nam đã được định nghĩa là đất nước của những số không bất ngờ trên hóa đơn, tất nhiên không phải ở đầu, mà ở cuối số tiền báo giá.
clip_image003
Người điều khiển xe kéo tại London “chém” khách du lịch 206 bảng cho chuyến đi 'ba phút' - NGUỒN METRO.CO.UK
Tôi đã tưởng Nhật Bản là ngoại lệ duy nhất. Tôi từng xem một bộ phim, cả tên lẫn nội dung nay đều quên, chỉ nhớ duy nhất một câu nói trong một tình huống: nhân vật nữ, một cô gái - không phải người Nhật - đòi chia tay với nhân vật nam, một người Nhật. Cô trách anh nói dối. Chàng trai Nhật chìa ra một bộ mặt sửng sốt vô hạn và chỉ biết lắp bắp: Không, không thể có chuyện đó, anh không nói dối, vì anh là người Nhật, em hiểu không, vì anh là người Nhật.
Giữa phim ảnh và đời thực tất nhiên có một khoảng cách, ít nhất bằng đoạn từ màn hình chiếu bóng xuống hàng ghế đầu trong rạp. Chính sách thông tin của cả Tập đoàn Điện lực TEPCO lẫn nhiều cơ quan nhà nước và cả hệ thống truyền thông chủ lưu ở Nhật trong đại họa hạt nhân ở Fukushima khó có thể gọi là thành thực. Người Nhật cũng có thể nói dối, ở trình độ chết người. Nếu cứ theo phim hình sự Bắc Âu thì trong mỗi chiếc tủ Ikea mà ta tự tay lấy từ trong kho ra khuân về nhà và tự tay lắp ghép đều có một xác chết, song tôi vẫn bị sốc vì lập luận quá sức giản dị của chàng trai Nhật trong bộ phim vừa kể. Ấn tượng từ hai tuần ở Nhật càng khiến tôi tin rằng đất nước ấy luôn là một ngoại lệ. Song ngoài TEPCO Nhật còn có Kabukicho, với những pha cắt cổ khách làng chơi không khác ở khu đèn đỏ Reeperbahn khét tiếng của Hamburg.
clip_image004
Loạt phóng sự Scam City của kênh truyền hình National Geographic, phóng viên Conor Woodman - NGUỒN POPTOWER.COM
Có lẽ chỉ còn Bắc Triều Tiên và Vương quốc Bhutan. Một nơi thì bạn muốn chìa cổ ra để chém cũng không được, kể cả khi đã húi đầu cạo gáy theo styleChính Ân. Một nơi thì ra chỉ tiêu, mỗi ngày bạn phải chi bao nhiêu để dân bản địa duy trì Chỉ số Hạnh phúc Quốc gia. Tối thiểu mỗi ngày 200 dollar, và mỗi bước chân du khách đều do chính quyền kẻ mực.
*
Không phải chỉ người Việt mơ làm giàu, song giấc mơ Việt hoang đường hơn những giấc mơ ở nơi khác. Xuất phát từ một số không tròn hơn số không thông thường, hành trình từ không đến có của chúng ta nhuộm màu siêu thực. Là người đến muộn, chúng ta phải chạy nước rút. Phải cuống cuồng mọc cho bằng hết những ung nhọt của du lịch đại chúng khắp thế giới, cho đến khi cơ thể không còn chỗ nào lành. Như chúng ta đã học khóa cấp tốc về chủ nghĩa tư bản, để sống bản tóm tắt kinh dị của nó cho đến khi có lịch lên chủ nghĩa xã hội. Chúng ta không muốn, không thể và không biết đợi, trong khi tất cả những gì tốt lành bền vững đều cần rất nhiều thời gian.
Tôi không thấy nạn lừa gạt chặt chém du khách ở Việt Nam là cái gì quá khác thường. Người Việt lừa gạt chặt chém mọi lúc mọi nơi và trong mọi lĩnh vực, cớ sao ngành du lịch phải làm một ngoại lệ? Chính quyền thì tham nhũng và kém hiệu quả, dân chúng thì lầm than và mông muội, luật pháp thì bát nháo, luân lý thì chao đảo, văn hóa thì nhộn nhạo, ngôn ngữ thì thô bỉ phũ phàng, con người thì hành hạ nhau và là nạn nhân lý tưởng của nhau, thời của nước đục thả câu, một đất nước như thế ắt phải có một ngành du lịch như thế.
Trên toàn thế giới du khách đều có thể bị lừa gạt và chặt chém, song ở Việt Nam họ tất yếu bị lừa gạt và chặt chém.
clip_image006
clip_image007
clip_image009
Nạn lường gạt, chặt chém đã trở thành bản sắc quốc gia? - NGUỒN WWW.TAYBACHOTEL.COM
22/1/2016
P.T.H.

Buổi hoàng hôn của Đảng Cộng sản Trung Quốc

Buổi hoàng hôn của Đảng Cộng sản Trung Quốc

bauxitevnSat 7:15 AM


(Cuộc chơi giành vương quyền kiểu Châu Á)
Minxin Pei (Bùi Mẫn Hân): "The Twilight of Communist Party Rule in China"  American Interest, 15-12-2015
Phạm Gia Minh dịch
Chiến lược sinh tồn của ĐCSTQ sau sự kiện Thiên An Môn đang hết tác dụng và chiến lược mới dường như lại thúc đẩy nhanh hơn sự sụp đổ của nó.
Trong giai đoạn sau Chiến tranh lạnh chưa có chế độ chuyên chế nào trên thế giới lại thành công như ĐCSTQ. Năm 1989 chính quyền đã có một cuộc đàn áp đẫm máu và chết chóc nhưng được bưng bít khi hàng triệu người phản kháng biểu tình trên hầu hết các thành phố chính trong cả nước để kêu gọi dân chủ và trút sự căm giận của mình lên chính quyền tham nhũng. Đảng chỉ thoát chết nhờ sự trợ giúp của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) với hàng đoàn xe tăng nghiến nát những người biểu tình ôn hòa trên khu vực quảng trường Thiên An Môn ở Bắc kinh ngày 4 tháng 6. Một phần tư thế kỷ kể từ thời điểm cuộc thảm sát Thiên An Môn đã trôi qua nhưng ĐCSTQ luôn phớt lờ mọi dự báo về hồi kết không tránh khỏi của mình. ĐCSTQ đã sống sót sau cú sốc của Liên Xô sụp đổ và còn thích ứng được với cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á những năm 1997-1998, khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Kể từ sự kiện Thiên An Môn, nền kinh tế Trung Quốc đã tăng gần 10 lần theo các điều khoản thực tế. GDP tính theo đầu người đã tăng từ 980$ lên 13.216 $ tính theo sức mua tương đương (PPP) trong cùng giai đoạn, đưa quốc gia này lên hàng ngũ các nền kinh tế có thu nhập trên trung bình.

Một cách dễ hiểu thành tích đó đã khiến nhiều nhà quan sát, kể cả những người từng trải về Trung Quốc tin tưởng rằng ĐCSTQ đã trở thành một chế độ chuyên chế dẻo dai với nhiều sức mạnh nội tại mà đa phần các chế độ chuyên chế khác không có. Ngoài ra, ĐCSTQ được biết đã xây dựng một quy trình hiệu quả cho việc lựa chọn đội ngũ lãnh đạo kế thừa dựa trên các quy định, chuẩn mực để phát hiện những công chức có năng lực cho hệ thống nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội. Khác với chế độ cứng nhắc kiểu Xô viết dưới thời Leonid Bregiơnhev, ĐCSTQ đã thể hiện năng lực đáng nể trong học hỏi và thích ứng (1).
Đáng tiếc là đối với những người ủng hộ lý thuyết về sự “chuyên chế dẻo dai” các giả định của họ, bằng chứng và những kết luận rút ra ngày càng khó bảo vệ dưới ánh sáng của những diễn biến gần đây ở TQ. Các biểu hiện của cuộc chiến quyền lực căng thẳng trong giới lãnh đạo cao cấp, tham nhũng tràn lan, tính năng động kinh tế bị đánh mất và chính sách đối ngoại hung hăng tiềm ẩn nhiều rủi ro, tất cả đều đang hiển hiện. Kết quả là ngay một số học giả mà công trình của họ gắn liền với luận đề về chế độ chuyên chế dẻo dai cũng đã buộc phải tự nhìn nhận lại (2). Càng ngày càng thấy rõ rằng những diễn biến gần đây làm thay đổi nhận thức về tính bền vững của ĐCSTQ không mang tính chu kỳ mà có tính hệ thống. Chúng là triệu chứng cho thấy sự suy kiệt, hết tác dụng của sách lược sinh tồn mà chế độ đã đề ra sau biến cố Thiên An Môn. Một số trụ cột của sách lược đó như sự đoàn kết của tầng lớp lãnh đạo cao cấp, tính hợp pháp dựa trên hiệu quả, sự tham gia của các giai tầng tinh hoa trong xã hội và chủ trương kiềm chế chiến lược trong đối ngoại đã hoặc là đã sụp đổ hoặc trở nên sáo rỗng buộc ĐCSTQ phải ngày càng phải dựa vào đàn áp và kích động chủ nghĩa dân tộc để tiếp tục cầm quyền.
Bởi lẽ đó, giới lãnh đạo cấp cao Trung Quốc đang phải đối mặt với một sự lựa chọn quả quyết nhất kể từ sự kiện Thiên An Môn: mô hình phát triển tư bản thân hữu độc tài chuyên chế sau 1989 thì nay đã chết và giờ đây họ chỉ có thể hoặc là tham khảo Đài Loan và Hàn Quốc để dân chủ hóa, giành được cội nguồn bền vững cho tính hợp pháp, hoặc là sẵn sàng thực thi chính sách đàn áp gia tăng để duy trì chế độ một đảng cầm quyền. Việc họ sẽ lựa chọn như thế nào sẽ có ảnh hưởng không chỉ Trung Quốc mà cả châu Á và toàn thế giới.
Bất chấp hình ảnh có tính đại chúng về các cuộc cách mạng “quyền lực nhân dân” hay “mùa Xuân Ả Rập”, cội nguồn quan trọng duy nhất của sự thay đổi trong các chế độ chuyên chế chính là sự sụp đổ của tính đoàn kết trong giới lãnh đạo cấp cao. Diễn biến này có nguyên nhân chủ yếu là do gia tăng mâu thuẫn và xung đột trong giới lãnh đạo cấp cao đối với vấn đề sách lược tồn vong của chế độ và phân chia quyền lực cũng như lãnh địa bảo trợ. Kinh nghiệm chuyển đổi dân chủ từ giữa những năm 1970 cho thấy một khi chính quyền chuyên chế đối mặt với những thách thức đến từ các lực lượng xã hội đòi hỏi các đổi thay về chính trị thì vấn đề gây chia rẽ nội bộ giới lãnh đạo cấp cao chính là hoặc đàn áp các lực lượng đó thông qua leo thang bạo động hoặc là hòa giải với chúng thông qua quá trình tự do hóa. 
Khi lực lượng cải cách chiếm ưu thế các bước ban đầu tiến tới chuyển đổi chế độ diễn ra tiếp theo thường là giảm nhẹ sự quản chế về chính trị và xã hội. Nếu như lực lượng cứng rắn thắng trong cuộc đấu thì đàn áp sẽ mạnh hơn nhưng các cuộc đụng độ xã hội và chính trị cũng sẽ leo thang và điều này sẽ tiếp diễn cho tới khi chế độ phải đối mặt với cuộc khủng hoảng khác buộc nó phải xem xét lại câu hỏi phải chăng đàn áp là sách lược đúng đắn nhất (3). Một dạng chia rẽ phổ biến khác trong giới lãnh đạo cấp cao đó là những xung đột do phân bổ quyền lực và đi cùng với nó là ranh giới các lãnh địa của sự bảo trợ (đôi khi đó cũng là sự bảo kê về kinh tế và chính trị – ND).Trong các chế độ chuyên chế được hình thành vững chắc, ví như ở các quốc gia hậu toàn trị (post-totalitarian) do đảng CS Leninit lãnh đạo thì xung đột này có xu hướng gia tăng khi mà cuộc ganh đua giành quyền lực dẫn tới tình trạng vi phạm các quy tắc và chuẩn mực được thiết lập từ lâu (ví dụ như làm trái Điều lệ Đảng – ND) nhằm bảo vệ sự cân bằng tinh tế về quyền lực trong giới lãnh đạo tinh hoa cũng như vì sự an toàn thân thể của họ. Trong nhiều trường hợp, nếu như không phải là tất cả các trường hợp – và Trung Quốc cũng không là ngoại lệ – khi những vi phạm đó được cam kết bởi các nhóm gia đình và điều này thể hiện một sự cha truyền con nối trong chính trị (4).
Trong trường hợp Trung Quốc, sự sụp đổ của tính đoàn kết trong giới lãnh đạo cấp cao phát sinh không từ cuộc tranh cãi giữa những người theo đường lối cứng rắn với những người cải cách mà lại bởi cuộc đấu đá nội bộ giữa những người theo đường lối cứng rắn với nhau để giành thế thượng phong. 
Dấu hiệu khởi phát của sự mất đoàn kết trong giới chóp bu chính là việc thanh trừng Bạc Hy Lai, một cựu lãnh đạo đang bay cao của ĐCS ở Tứ Xuyên ngay trước Đại hội ĐCSTQ lần thứ 18 năm 2012. Sau này các sự kiện đã cho thấy sự ra đi của họ Bạc chỉ là khúc dạo đầu cho một cuộc thanh trừng làm sạch nội bộ ĐCS lớn nhất kể từ thời Cách mạng văn hóa. Sau đó,Tập Cận Bình, người thắng cuộc đã chính thức đảm nhận vị trí TBT đồng thời là Chủ tịch quân ủy PLA vào tháng 11/2012 liền triển khai một chiến dịch chống tham nhũng hung hãn chưa từng thấy nhằm đạt được thế thượng phong chính trị qua con đường tiêu diệt các đối thủ của mình. Cho dù chiến dịch do họ Tập khởi xướng ngày một trở nên lan rộng nhưng dường như sau một đêm nó đã tháo rời toàn bộ hệ thống mà giới lãnh đạo tinh hoa của ĐCSTQ đã dày công xây nên trong thời kỳ hậu Thiên An Môn nhằm gìn giữ tính đoàn kết, thống nhất của họ.
Có ba trụ cột chống đỡ cho hệ thống này. Cái thứ nhất là sự cân bằng tinh tế của quyền lực chính trị ở chóp bu được biết đến dưới cái tên sự lãnh đạo tập thể được thiết kế ra nhằm ngăn chặn sự xuất hiện của một lãnh tụ kiểu Mao Trạch Đông, người đã có thể áp đặt ý chí của mình cho toàn đảng. Trong hệ thống này mọi quyết định quan trọng đã được hình thành thông qua quá trình xây dựng sự đồng thuận và thỏa hiệp nhằm bảo đảm quyền lợi của các lãnh đạo cấp cao cùng nhóm lợi ích của họ. Cột trụ thứ hai là an toàn cá nhân tuyệt đối cho các lãnh tụ chóp bu, được xác định bất kể đương chức hay đã về hưu đối với các Ủy viên thường vụ BCT cũng đã tiêu tan cùng với sự rớt đài của Zhou Yongkang (Chu Vĩnh Khang) – một cựu ủy viên thường vụ BCT, người đứng đầu ngành an ninh nội bộ đã lãnh án tù chung thân vào năm 2015 sau khi bị kết tội tham nhũng. Những nỗ lực chống tham nhũng và các biện pháp khắc khổ đi kèm theo đã chấm dứt ít ra là tạm thời thực trạng chia chác của cướp được trong giới lãnh đạo cấp cao, gây ra cho họ nhiều nỗi đắng cay và theo báo cáo thì điều này đã thúc đẩy họ chống đối bằng cách ngưng trệ công việc. Trong khi còn nghi vấn liệu cuộc chiến chống tham nhũng của họ Tập sẽ thực sự nhổ được tận gốc vấn nạn này hay không thì nó đã rất thành công trong việc phá nát cấu trúc khuyến khích bên trong của chế độ được hình thành sau biến cố Thiên An Môn.
Xét về bản chất riêng của mình, sự chuyển biến từ “ lãnh đạo tập thể” sang “ nguyên tắc một cá nhân mạnh lãnh đạo” chưa chắc đã làm sáng tỏ một cách cần thiết thứ chủ nghĩa Lênin mang màu sắc Trung Quốc. Tuy vậy, kết cục ban đầu dễ thấy nhất của sự chuyển biến này cho đến nay đó là sự bốc hơi của tính đoàn kết, thống nhất – chất keo đã gắn kết cả một hệ thống hình thành sau biến cố Thiên An Môn. Mặc dù vậy hiện nay chưa thấy những dấu hiệu thách thức quyền lực của Tập Cận Bình trong ĐCSTQ và có thể đánh cuộc một cách an toàn khi cho rằng các đối thủ của họ Tập đang đấu thầu thời gian để đợi tới thời điểm phù hợp thì sẽ đánh trả. 
Nếu như sự mất đoàn kết và thống nhất trong giới tinh hoa đang bị biến thành cuộc đấu chính trị cuối cùng để giải quyết tranh chấp dẫn tới sự chối bỏ hệ thống mà họ Tập đang cố gắng xây dựng thì chỉ có thể xẩy ra hai kết cục. Một, đó là trở lại với hệ thống tham nhũng hậu Thiên An Môn. Nhìn bề ngoài, điều này có vẻ như một giải pháp nhiều cám dỗ và hứa hẹn nhất, tuy nhiên lại bất khả thi bởi lẽ một số điều kiện cơ sở làm nền móng cho hệ thống hậu Thiên An Môn, cụ thể là sự tăng trưởng kinh tế do đầu tư mang lại và sự hài lòng về chính trị của tầng lớp trung lưu được bảo đảm bởi sự thịnh vượng gia tăng chưa từng có phần lớn đã biến mất. Nếu như nguyên trạng như trước đây không thể phục hồi thì ĐCSTQ sẽ cần một lối thoát khác. Trong khi mà chưa ai có thể biết ĐCS sẽ lựa chọn gì thì cũng đáng để nhớ lại rằng,vào những thời khắc đó ĐCS sẽ cố thử lại và tận dụng đến cùng ba mô hình quản trị chuyên chế: đó là Maoit (chủ nghĩa Cộng sản cực đoan), Đặng (chủ nghĩa tư bản thân hữu) và Tập (cá nhân mạnh lãnh đạo). Thật mỉa mai là ĐCSTQ có thể bị rơi vào tình thế tuyệt vọng và tàn khốc như ĐCS Liên Xô vào giữa những năm 1980: đó là thiếu ý tưởng và chiến lược phục vụ việc duy trì mãi mãi hệ thống lãnh đạo độc đảng và khi đó nó có thể đủ tuyệt vọng tới mức dám đánh cược vào bất cứ thứ gì, kể cả cải cách dân chủ và đa nguyên chính trị như là sách lược lâu dài để giúp ĐCS có sức sống trong một đất nước Trung Hoa đã chuyển biến hoàn toàn bởi quá trình hiện đại hóa đời sống kinh tế - xã hội.
Nếu như tính đoàn kết, thống nhất là chất kết dính của hệ thống hậu Thiên An Môn thì hiệu suất kinh tế như mọi người đều thừa nhận đó chính là cội nguồn quan trọng cho tính hợp pháp trong quần chúng của đảng cầm quyền. Một phần tư thế kỷ phát triển với tốc độ cao đã đem lại cho ĐCSTQ thời kỳ tương đối ổn định xã hội cùng với những nguồn lực khổng lồ để tăng cường năng lực đàn áp và mua chuộc những giới tinh hoa xã hội mới cùng tầng lớp trung lưu đang nổi lên ở các vùng đô thị. Tuy nhiên, hiện nay khi mà “sự thần kỳ kinh tế của TQ” đã kết thúc thì cột trụ thứ hai của hệ thống hậu Thiên An Môn cũng đang sụp đổ theo.
Nhìn bề ngoài, sự suy giảm mạnh của kinh tế Trung Quốc có vẻ như là một sự giảm tốc tự nhiên sau mấy thập kỷ tăng trưởng nóng. Nhưng một cái nhìn gần hơn vào nguyên nhân dẫn đến “ sự rớt đài vĩ đại của TQ” cho ta thấy chính những trở ngại mang tính cơ cấu và thể chế chứ không phải các yếu tố mang tính chu kỳ mới là chủ đạo và Trung Quốc đang bước vào một giai đoạn phát triển kinh tế từ thấp tới khiêm tốn nên điều này sẽ rất nguy hiểm đối với tính hợp pháp của ĐCSTQ. 
Tin tức của báo chí về những rắc rối kinh tế của Bắc Kinh gần đây phần lớn chỉ tập trung vào các biểu hiện dễ thấy và đầy kịch tính của căn bệnh kinh tế Trung Quốc chẳng hạn như sự sụp đổ của thị trường chứng khoán mang tính bong bóng hay việc đồng Nhân dân tệ mất giá một cách đáng ngạc nhiên. Tuy nhiên, sự suy giảm tăng trưởng của Trung Quốc có cội rễ sâu xa hơn.
Về mặt cơ cấu, sự tăng trưởng nhanh của Trung Quốc thời kỳ hậu Thiên An Môn đã được thúc đẩy chủ yếu bởi các nhân tố và hoàn cảnh xảy ra một lần và không lặp lại (one-off) chứ không nhờ tính ưu việt có mục đích của nhà nước chuyên chế. Trong số các nhân tố và hoàn cảnh đó thì nhân tố “cổ tức nhân khẩu học” (demographic dividend) là quan trọng nhất vì nó đã cung ứng gần như không có giới hạn đội ngũ công nhân Trung Quốc trẻ, khỏe lương thấp để phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa. Ngoài chuyện lương thấp, các công nhân từ nông thôn lên thành phố có thể tạo ra một sự gia tăng nhanh chóng năng suất lao động khi kết hợp với máy móc, thiết bị mà không cần đào tạo thêm nhiều. Kết quả là chỉ riêng việc tái bố trí lực lượng lao động dư thừa từ nông thôn sang các nhà máy, cửa hàng thương mại và công trường xây dựng ở thành phố nền kinh tế đã đạt năng suất lao động cao hơn. Theo số liệu của Trung Quốc, năng suất lao động của một công nhân ở thành thị cao gấp bốn lần một nông dân. Trong ba thập kỷ vừa qua có khoảng 270 triệu người lao động nông thôn (không tính gia đình của họ) đã dịch chuyển ra thành thị và hiện nay chiếm tới 70% lực lượng lao động nơi đây. Một số nhà kinh tế ước tính rằng khoảng 20% tăng trưởng GDP của Trung Quốc trong những năm 80 và 90 thế kỷ trước là do tái bố trí lực lượng lao động nông thôn tạo nên (5). Tuy nhiên bởi vì dân số Trung Quốc đang già đi khá nhanh nên sự dịch chuyển dân số ào ạt từ nông thôn ra thành thị đã đạt điểm đỉnh. Nhân tố thuận lợi mang tính cơ cấu này chỉ xảy ra có một lần mà không lặp lại.
Một cú hích tích cực góp phần thúc đẩy tăng trưởng của Trung Quốc thời kỳ hậu Thiên An Môn chính là việc quốc gia này ra nhập WTO vào năm 2001.Vào  những năm 1990 tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc trung bình đạt 15.4% hàng năm nhờ có sự hội nhập với nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên sau khi ra nhập WTO Trung Quốc đã đạt tăng trưởng xuất khẩu 21.7% trong suốt giai đoạn 2002-08. Sự gia tăng nhờ xuất khẩu bắt đầu chậm lại sau 2011. Giữa các năm 2012 và 2014 xuất khẩu chỉ tăng trưởng có 7.1% tức là bằng 1/3 tăng trưởng của thập kỷ trước đó. Bảy tháng đầu năm 2015 xuất khẩu co lại khoảng 1% , sự việc diễn ra có lẽ đã khiến Bắc Kinh nhanh chóng hạ giá đồng tiền của mình.
Nhưng có lẽ khía cạnh gây rắc rối nhất trong triển vọng phát triển kinh tế dài hạn của Trung Quốc chính là sự suy giảm lãi suất từ các khoản đầu tư được hoạch định bởi chiến lược tăng trưởng của quốc gia này. Trong tư cách là một nước đang phát triển với số vốn tương đối thấp, ở thời kỳ ban đầu Trung Quốc đã hưởng lợi lớn từ sự tăng trưởng bền vững của các khoản đầu tư. Trong các năm 1980 Trung Quốc đã đầu tư trung bình khoảng 35.8% GDP vào các nhà máy, hạ tầng cơ sở và nhà ở. Tỷ lệ này đã tăng lên 42.8% trung bình trong các năm 2000 và đạt 47.3% từ năm 2010. Sự gia tăng đầu tư ào ạt này đã tạo ra hơn một nửa mức tăng trưởng GDP của Trung Quốc và là động cơ tăng trưởng chủ yếu của nền kinh tế trong hai thập kỷ rưỡi.
Tuy nhiên tăng trưởng dựa vào đầu tư trong bối cảnh của Trung Quốc có 3 hậu quả xấu. Một là lãi xuất từ các khoản đầu tư giảm dần  bởi lẽ mỗi đơn vị gia tăng của đầu ra đòi hỏi phải đầu tư nhiều hơn và được tính bởi tỷ lệ vốn/sản lượng (capital output ratio – lượng đầu tư cần thiết để sản xuất ra thêm một đồng nhân dân tệ trong GDP). Trong những năm 1990 tỷ lệ sản lượng vốn của Trung Quốc là 3.79, đến  những năm 2000 đã tăng lên 4.38. Xu hướng tăng trưởng đòi hỏi phải tăng đầu tư rõ ràng không mang tính bền vững. Trung Quốc gần đây  đầu tư gần như một nửa GDP của mình, một con số phi thường  đã trở thành hiện thực  nhờ sự quản lý của nhà nước trong phát triển hạ tầng cơ sở. Mức độ dư thừa công suất và phân bổ vốn bất hợp lý cũng là một con số phi thường.
Một tác hại nữa gây bất lợi cho nền kinh tế đó là các khoản đầu tư đã vắt kiệt tiêu dùng của các hộ gia đình (36% GDP năm 2013 nếu so với 60% ở Ấn độ) làm nảy sinh tình trạng mất cân đối cơ cấu khiến sự tăng trưởng bền vững hầu như là không thể. Sự tăng trưởng đó cần bắt đầu từ  việc quay lưng lại với phương thức lấy xuất khẩu làm chủ đạo để trở lại với tăng trưởng thị trường trong nước, tuy nhiên điều này không thể đạt được khi mà tiêu dùng hộ gia đình đang ở mức thấp một cách giả tạo.
(Xin bổ sung thêm một ý giải thích vì sao tiêu dùng hộ gia đình nói riêng và thị trường trong nước ở Trung Quốc luôn ở mức thấp đó là do chính sách hộ khẩu và an sinh xã hội mang tính kỳ thị người nhập cư từ nông thôn ra thành thị khiến họ phải gia tăng tiết kiệm, hạn chế tiêu dùng để đề phòng khi ốm đau, hết tuổi lao động thì còn có nguồn dự trữ – ND).
Chi phí sau cùng của tăng trưởng dựa vào đầu tư, đó là quá trình này được cung cấp tài chính bởi các khoản tín dụng và sau đó đầu tư vào vào những ngành công nghiệp đã dư thừa công suất tới mức nguy hiểm. Với tỷ suất dư nợ / GDP vượt ngưỡng 280% GDP hiện nay (so sánh với 121% năm 2000) rủi ro của sự bùng nổ toàn diện một cuộc khủng hoảng tài chính đã tăng cao bởi lẽ những con nợ lớn là chính quyền địa phương, các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp phát triển bất động sản chỉ sở hữu năng lực chi trả yếu kém do nền tảng các nguồn thu từ thuế khá eo hẹp (với các chính quyền địa phương), dư thừa công suất và lợi nhuận thấp (với các doanh nghiệp nhà nước), bong bóng bất động sản xì hơi (với các doanh nghiệp phát triển bất động sản).
Nếu những rắc rối trong tương lai phát triển kinh tế dài hạn của Trung Quốc đơn thuần chỉ mang tính cơ cấu thì tương lai của đất nước chưa đến mức tàn khốc. Những cuộc cải cách hiệu quả có thể tái phân bổ nguồn lực một cách hữu hiệu giúp cho nền kinh tế có năng suất cao hơn. Tuy nhiên thành công của những cải cách đó lại gắn kết chặt chẽ với bản chất của nhà nước Trung Quốc và các thể chế chính trị của nó. Việc tạo ra của cải một cách bền vững chỉ có thể tồn tại ở các quốc gia nơi mà quyền lực chính trị bị giới hạn bởi luật pháp, quyền sở hữu tư nhân được bảo đảm thực sự và có nhiều phương tiện để tiếp cận các cơ hội. Ở các quốc gia bị chi phối bởi một nhóm nhỏ cầm quyền thì xảy ra điều ngược lại: những kẻ nắm quyền điều hành chính trị sẽ trở thành dã thú, sử dụng những công cụ cưỡng bách của quốc gia để bòn rút của cải từ xã hội, bảo vệ đặc quyền của mình và làm nghèo người dân (6).
Quả thực các chính sách kinh tế của ĐCSTQ đã thay đổi tới mức không thể nhận ra kể từ thời Mao. Tuy nhiên, đảng và nhà nước Trung Quốc còn chưa từ bỏ bản năng dã thú cùng các thể chế của mình. Bất chấp những lời tự nhận hùng biện về tôn trọng thị trường và quyền sở hữu, thực tế chỉ đạo và chính sách của các tầng lớp lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc cho thấy họ không tôn trọng quyền sở hữu tư nhân và cũng chẳng muốn bảo vệ nó. Bằng chứng về sự thiếu vắng mong muốn hạn chế những bản năng và thèm muốn dã thú của nhà nước độc đảng lãnh đạo chính là việc giới lãnh đạo chóp bu không dấu diếm sự thù hằn đối với bất kỳ ý tưởng nào về chủ nghĩa hợp hiến mà bản chất của nó là đặt ra những giới hạn phải được thực thi đối với chính quyền và những người nắm quyền lực. ĐCSTQ khước từ mọi giới hạn đối với quyền lực của mình và trên thực tế đã dẫn đến việc Trung Quốc không thể có thể chế tư pháp độc lập hoặc các tổ chức điều hành đủ năng lực thực thi pháp luật. Bởi lẽ, các nền kinh tế thị trường đích thực không thể hoạt động nếu thiếu những thể chế và tổ chức như vậy, cho nên rõ ràng là một khi đảng tự đặt mình cao hơn luật pháp thì cải cách kinh tế theo hướng kinh tế thị trường là điều bất khả thi.
Nhiều nhà quan sát lập luận rằng chế độ độc đảng này tuy thế vẫn đủ năng lực thực hiện các cải cách mang tính thị trường với dẫn chứng là diễn biến lịch sử của thời kỳ sau Mao. Lý lẽ này đã bỏ qua một sự thật rất quan trọng đó là những cải cách sau Mao tuy tạo ra ấn tượng bề nổi nhưng nay đã cạn kiệt tiềm năng bên trong. Hơn thế nữa, cần phải hiểu rằng hệ thống Maoit kém hiệu quả tới mức dù chỉ một vài cải cách mang tính bộ phận đã có thể giải phóng sự gia tăng mạnh mẽ năng suất lao động, đặc biệt là trong một xã hội mà năng lượng kinh doanh của người dân còn đang bị sự khủng bố chuyên chế đè nén trong ba thập kỷ vừa qua. Điều quan trọng hơn là những cải cách từng phần đó còn chưa đi vào các bộ phận quan trọng trong nền móng kinh tế do ĐCSTQ lãnh đạo: đó là khu vực sở hữu nhà nước với những tài sản có năng suất cao nhất như ruộng đất, tài nguyên thiên nhiên, sản xuất điện, viễn thông, ngân hàng, các dịch vụ tài chính và công nghiệp nặng. Chắc chắn không phải khu vực kinh tế tư nhân năng động đang kìm hãm nền kinh tế Trung Quốc mà chính là các xí nghiệp quốc doanh kém hiệu năng vẫn tiếp tục được nhận hỗ trợ và tiêu phí dòng vốn quý giá (7).
Cải cách kinh tế toàn diện và đích thực nếu được chấp nhận trên thực tế sẽ đe dọa phá vỡ nền móng đó. Khả năng nhiều nhất là nó sẽ xóa bỏ phần lớn sự kiểm soát hiện hữu đối với nền kinh tế và khối tài sản quốc gia khổng lồ của Trung Quốc, kết cục sẽ là sự sụp đổ về mặt tổ chức của ĐCSTQ. Đảng này cấp kinh phí và hỗ trợ một mạng lưới tổ chức hạ tầng cơ sở rộng khắp của mình – các đảng bộ, đảng ủy các cấp và chi bộ… thông qua số lượng lớn các quỹ đảng nhưng chính xác là bao nhiêu thì còn là một ẩn số. Phần lớn kinh phí cho các tổ chức và hoạt động của đảng được tài trợ từ ngân sách không minh bạch của nhà nước TQ. Nếu như ĐCSTQ từ bỏ sự kiểm soát nền kinh tế của mình và các khoản chi tiêu của chính phủ được minh bạch hóa thì đảng sẽ không còn nguồn tài chính để tồn tại. Sẽ không thể duy trì các đặc quyền và bổng lộc hậu hĩ của đảng ví như chăm sóc sức khỏe chất lượng cao, quỹ cho các hoạt động giải trí, nhà công vụ và còn nhiều khoản phụ cấp đối với các quan chức như là tiêu chuẩn được hưởng khi là thành viên của câu lạc bộ tầng lớp tinh hoa.
Còn một hậu quả thảm khốc nữa của cải cách theo hướng thị trường đó là sự sụp đổ của hệ thống bảo trợ mà ĐCSTQ sử dụng để đảm bảo có được sự trung thành từ những người ủng hộ mình. Nền móng của hệ thống này là các doanh nghiệp nhà nước, các cơ quan kinh tế và các tổ chức điều hành do đảng kiểm soát. Nếu như cải cách định hướng thị trường dẫn tới tư nhân hóa thực sự các doanh nghiệp nhà nước (nhóm doanh nghiệp này sản xuất ít nhất cũng vào khoảng 1/3 GDP) thì ĐCSTQ sẽ không thể ban phát cho đội ngũ trung thành với mình bằng những hợp đồng và công việc béo bở và điều này đe dọa sẽ lấy đi sự ủng hộ của họ. Xin cung cấp thông tin rằng trong bản hướng dẫn chi tiết kế hoạch kinh tế của ĐCSTQ phát hành mùa Thu năm 2013 lãnh đạo đảng đã nhắc nhở đảng sẽ không bao giờ từ bỏ các doanh nghiệp nhà nước.
Như vậy, sự tiếp tục của các thể chế mang tính dã thú và bòn rút, cướp đoạt ở Trung Quốc đang ngăn chặn những cải cách thị trường triệt để, toàn diện và thành công. Tính bất khả thi của nhiệm vụ xây dựng một nền kinh tế thị trường đích thực được hậu thuẫn bởi nguyên tắc thượng tôn pháp luật có thể minh họa bằng câu ngạn ngữ Trung Quốc khôn ngoan yuhumoupi có nghĩa là đừng mặc cả với hổ về bộ da của nó. Triển vọng lâu dài cho sự tăng trưởng kinh tế Trung Quốc là đáng bi quan bởi vì khu vực tăng trưởng nhanh nhờ có cải cách từng phần và các nhân tố cũng như hoàn cảnh thuận lợi chỉ diễn ra một lần đang chấm dứt. Một sự tăng trưởng bền vững cho Trung Quốc sẽ đòi hỏi phải nhìn nhận lại triệt để thể chế kinh tế và chính trị để đạt được hiệu quả cao hơn. Nhưng bởi lẽ bước đi quan trọng có tính quyết định này sẽ hủy hoại nền tảng lãnh đạo của ĐCSTQ cho nên khó có thể tin được rằng đảng sẽ cam kết tự vẫn về kinh tế và do đó cả về chính trị. Những ai còn chưa bị thuyết phục bởi lập luận này hãy nên đếm lại có bao nhiêu nhà độc tài trong lịch sử đã tự nguyện từ bỏ các đặc lợi cùng đặc quyền kiểm soát nền kinh tế của mình nhằm mục đích bảo đảm cho một tương lai thịnh vượng dài lâu của quốc gia.
Lừ lừ hướng tới đàn áp và chủ nghĩa dân tộc
Nếu như tình trạng kinh tế trì trệ trong dài hạn đã được khẳng định thì sự ủng hộ của tầng lớp trung lưu Trung Quốc với hiện trạng sẽ bị mai một. Sự tham gia của tầng lớp đang tăng trưởng nhanh này là một trụ cột chủ chốt nữa trong sách lược sinh tồn của ĐCSTQ thời kỳ sau biến cố Thiên An Môn và đã góp phần vào sự bùng nổ kinh tế trong ¼ thế kỷ vừa qua. Kinh tế phát triển chậm lại chắc chắn sẽ giảm bớt cơ hội, kỳ vọng và hạn chế tính năng động đi lên đối với các thành viên của nhóm xã hội quan trọng này và sự chấp nhận vai trò lãnh đạo của ĐCSTQ từ nhóm này chỉ là ngẫu nhiên do vừa qua đảng đã mang đến sự phát triển kinh tế liên tục và đáng hài lòng.
Cùng với sự bốc hơi của (chất keo gắn) sự đoàn kết, thống nhất trong giới lãnh đạo cấp cao, nguy cơ kinh tế trì trệ và thái độ xa lánh rất có thể xảy ra của giới trung lưu thì mô hình hậu Thiên An Môn chỉ còn có hai cột trụ: đó là đàn áp và kích động chủ nghĩa dân tộc. Các chế độ chuyên chế ngày nay vì thiếu tính hợp pháp trong công chúng (mà đáng ra phải đạt được qua quá trình cạnh tranh chính trị) chủ yếu dùng ba phương tiện để giữ quyền lực của mình. Một là mua chuộc quần chúng bằng các lợi ích vật chất. Hai là đàn áp nhân dân bằng bạo lực và nỗi sợ. Ba là kêu gọi tình cảm dân tộc của họ. Ở những chế độ chuyên chế tinh vi và thành công những kẻ cầm quyền thường dựa vào tính hợp pháp có được nhờ thành tích đạt được (mua chuộc) hơn là sử dụng nỗi sợ hãi và chủ nghĩa sô vanh hiếu chiến. Nguyên nhân chính là đàn áp thì tốn kém mà chủ nghĩa dân tộc thì có thể trở nên nguy hiểm. Trong thời kỳ hậu Thiên An Môn có thể tin chắc rằng ĐCSTQ đã sử dụng cả ba phương tiện, chủ yếu vẫn phụ thuộc vào thành tích phát triển kinh tế nhưng vẫn dùng phương tiện đàn áp và chủ nghĩa dân tộc một cách có chọn lọc như các biện pháp cầm quyền dự phòng.
Tuy nhiên, những xu hướng kể từ khi Tập Cận Bình lên cầm quyền vào cuối năm 2012 cho thấy đàn áp và chủ nghĩa dân tộc được coi là đóng vai trò ngày càng nổi bật trong chiến lược sinh tồn của ĐCSTQ. Lời giải thích hiển nhiên là tăng trưởng kinh tế không chắc chắn của Trung Quốc đang gây nên căng thẳng xã hội và bào mòn sự ủng hộ của quần chúng đối với ĐCS, và như vậy buộc chế độ phải ngăn cản những thách thức tiềm ẩn từ xã hội bằng sức mạnh và chuyển hướng sự chú ý của công chúng sang chủ nghĩa dân tộc. Vậy mà nhiều nhà quan sát đã bỏ qua lời giải thích có giá trị này. 
Một chiến lược sinh tồn phụ thuộc vào việc đem lại tăng trưởng kinh tế nhằm duy trì tính hợp pháp vốn dĩ không bền vững không chỉ bởi lẽ tăng trưởng kinh tế là điều không thể bảo đảm chắc chắn và sự kỳ vọng của công chúng thì bao giờ cũng gia tăng nên cũng không thể luôn luôn đáp ứng được mà còn vì sự tăng trưởng kinh tế bền vững sẽ làm phát sinh những thay đổi kinh tế- xã hội mang tính cơ cấu. Và chính những thay đổi đó ắt sẽ đe dọa độ bền vững của chế độ chuyên chế như các nghiên cứu xã hội học và lịch sử các cuộc chuyển đổi dân chủ đã cho thấy.
Các nhà nước chuyên chế khi buộc phải chấp thuận tính hợp pháp dựa trên thành tích phát triển (nguyên văn là faustian bargain – giao kèo với quỷ dữ – ND) thì mặc nhiên là chúng sẽ thua cuộc bởi lẽ những đổi thay kinh tế - xã hội do tăng trưởng kinh tế đem lại sẽ củng cố năng lực tự trị của các lực lượng xã hội ở thành thị, ví dụ như các nhà kinh doanh tư nhân, trí thức, người làm nghề, các tín đồ tôn giáo, công nhân phổ thông nhờ trình độ học vấn cao hơn, tiếp cận với thông tin dễ dàng hơn, tích lũy được tài sản cá nhân nhiều hơn và năng lực tổ chức hoạt động tập thể cũng được cải thiện. Nhiều công trình nghiên cứu hàn lâm đã chỉ ra sự tương quan chặt chẽ giữa trình độ phát triển kinh tế với sự hiện diện của dân chủ cũng như giữa thu nhập gia tăng với khả năng sụp đổ của các chế độ chuyên chế (8). Trong thế giới ngày nay, mối tương quan tích cực giữa tài sản (được tính bằng GDP theo đầu người) và dân chủ có thể được thể hiện trong biểu đồ (9) và nó cho thấy tỷ lệ phần trăm các nền dân chủ (được định nghĩa bởi tổ chức Freedom House) tăng đều đặn cùng với mức tăng của thu nhập. Có một bộ phận các quốc gia dân chủ giảm trong khi thu nhập tăng lên. Sự phân bố các quốc gia không dân chủ hoặc độc tài trên biểu đồ đã hình thành nên đồ thị hình chữ U. Trong khi có nhiều hơn các chế độ độc tài tồn tại ở những nước nghèo hơn (phần đáy của 2/5 các quốc gia có thu nhập trên đầu người ) thì sự hiện diện của chúng ở phần trên của danh sách 2/5 các quốc gia dường như đã phản bác lại nhận định cho rằng sự thịnh vượng có tương quan cùng chiều (nguyên văn tương quan dương tính – ND). Tuy nhiên khi xem xét kỹ hơn số liệu sẽ thấy hầu hết các quốc gia giàu có nhưng nằm dưới chế độ độc tài đều là những nước sản xuất dầu mỏ, nơi mà giới tinh hoa cầm quyền có đủ năng lực tài chính để mua chuộc người dân của mình để họ chấp thuận chế độ chuyên chế (9). 
clip_image001
Nguồn: Tính toán sử dụng dữ liệu thu nhập dựa trên sức mua trên đầu người (PPP) do Ngân hàng Thế giới cung cấp. Chỉ số tự do do Freedom House cung cấp.
Những nhà cầm quyền Trung Quốc nếu như nhìn qua biểu đồ sẽ cảm thấy lo lắng cho triển vọng trong trung và dài hạn của mình. Hiện nay 87 quốc gia có thu nhập theo đầu người (chuẩn PPP – sức mua tương đương – ND) cao hơn Trung Quốc và 58 quốc gia trong số đó được đánh giá là có dân chủ, 11 quốc gia được Freedom House sếp hạng “ tự do một phần” và 18 quốc gia bị coi là độc tài (nguyên văn là “ không tự do” theo Freedom House). Tuy nhiên trong số 18 quốc gia “ không tự do” có thu nhập theo đầu người cao hơn Trung Quốc thì có tới 16 quốc gia sản xuất dầu mỏ (Belarus được tính trong nhóm này bởi vì được Nga trợ cấp đáng kể nhu cầu năng lượng), hai quốc gia không sản xuất đầu mỏ là Thái Lan (chính quyền quân sự độc tài đã lật đổ chính quyền nửa dân chủ vào năm 2014) và Cuba (cũng là một quốc gia Leninit độc đảng, độc tài). Trong số 11 quốc gia tự do một phần Mexico và Malaysia là những nhà sản xuất dầu mỏ đáng kể trong khi Côoét và Venezuela là những nước sản xuất dầu mỏ kinh điển. Điều làm cho các lãnh đạo của ĐCSTQ có thêm lý do để lo ngại đó là thu nhập tính theo đầu người của Trung Quốc vào khoảng $13.216 (PPP) năm 2014 cũng chỉ bằng mức của Đài Loan và Hàn Quốc vào cuối những năm 1980 khi cả hai quốc gia này bắt đầu tiến trình dân chủ hóa (10). Nếu như kinh nghiệm chuyển đổi thể chế ở các nước có thu nhập trên trung bình như Đài Loan và Hàn Quốc có thể được đem ra tham khảo và áp dụng thì ĐCSTQ cần phải tính đến nhu cầu và những sự vận động xã hội đang dâng cao để tiến hành những thay đổi chính trị trong thập kỷ tới (một vài tín hiệu của sự vận động này đã được ghi nhận).
Hàm ý duy nhất có thể rút ra từ phân tích này đó là trừ khi Trung Quốc muốn đi theo tấm gương của Cuba và duy trì một nền kinh tế đóng để đảm bảo sự tồn vong của chế độ độc đảng, quốc gia này sẽ phải đối mặt với tình trạng lợi thế ngày một suy giảm trong nỗ lực giữ nguyên quyền lực (miễn là Trung Quốc một cách kỳ diệu không trở thành một nước giống như Ả Rập Saudi). Nhưng bởi lẽ Trung Quốc sẽ không bao giờ là quốc gia dầu lửa nên ĐCSTQ vì sự tồn vong của mình trong dài hạn còn có cơ hội khai mở một số hình thái của thể chế chính trị có cạnh tranh và trở thành một chế độ “ tự do một phần” – và đây là một bước trọng yếu tiến về phía trước so với chủ nghĩa Leninnit hiện nay. Một cách khác, Trung Quốc có thể chống lại ngay cả những cải cách khiêm tốn nhất và đặt cược sự tồn vong của mình vào việc leo thang đàn áp và nuôi dưỡng chủ nghĩa dân tộc.
Đánh giá những chính sách và biện pháp được ban lãnh đạo hiện nay của ĐCSTQ thông qua thì dường như đảng này có ý định đặt cược chống lại lịch sử. Trong ba năm gần đây đảng đã rất nỗ lực gia tăng đàn áp. Trong số các bước đi đáng để ý nhất: ĐCSTQ đã mạnh mẽ thắt chặt kiểm duyệt Internet, truyền thông xã hội, báo chí, thông qua Luật về an ninh quốc gia chủ yếu nhắm tới việc ngăn chặn các tổ chức phi chính phủ để bảo đảm an ninh cho chế độ, phá hủy hàng trăm cây Thánh giá của nhà thờ Thiên Chúa nhằm hạn chế tự do tín ngưỡng, tăng cường kiểm soát tư tưởng trong các ký túc xá trường Đại học, cao đẳng và bắt bớ hàng chục luật sư nhân quyền, nhà hoạt động vì quyền công dân trên cơ sở các bằng chứng ngụy tạo. Theo nhiều cách nhìn nhận, mức độ đàn áp của ngày hôm nay là cao hơn bất kỳ giai đoạn nào kể từ cuộc trấn áp Thiên An Môn.
Cũng không kém phần đáng lo ngại và còn nguy hiểm hơn đó là những tuyên bố dân tộc chủ nghĩa có tính leo thang của Trung Quốc. ĐCSTQ nhận thức mọi điều nhưng lại từ bỏ chủ trương đối ngoại của Đặng Tiểu Bình là dấu mình chờ thời và không đối đầu để ủng hộ cho một chiến lược đối ngoại khoe cơ bắp và điều này đã làm cho Trung Quốc đi theo một tiến trình xung đột với Hoa Kỳ. Bằng chứng về lời kêu gọi mới đây kích động chủ nghĩa dân tộc và chính sách ngoại giao quả quyết của Bắc Kinh có thể tìm thấy trong màn diễu binh lần đầu tiên kỷ niệm sự kiện bại trận của Nhật Bản trong chiến tranh thế giới lần thứ II (mặc dù Trung Quốc và ĐCSTQ chỉ đóng vai trò rất phụ trong cuộc chiến đó), đó còn là chiến dịch tuyên truyền kỷ niệm “giấc mơ Trung Hoa” (nội dung chủ yếu là sự phục hưng của Trung Quốc với vị thế một siêu cường) và đòi hỏi gần như công khai vị thế ngang hàng với Hoa Kỳ (được diễn đạt bằng ngôn từ “quan hệ kiểu mới giữa các siêu cường” trong tuyên bố của Bắc Kinh), những cuộc tấn công trên mạng không ngơi nghỉ nhằm vào các cơ quan chính phủ và các cơ sở thương mại Hoa Kỳ cùng với những cuộc khiêu khích và thủ đoạn gây hấn đẩy tình hình tới miệng hố chiến tranh ở Biển Hoa Đông và Nam Trung Hoa (Biển Đông – ND). Cụ thể là thiết lập vùng nhận dạng hàng không ADIZ trên vùng trời đảo Senkaku, cải tạo hàng loạt bãi chìm và xây dựng trên các đảo thuộc vùng lãnh hải còn đang tranh chấp ở Biển Đông). 
Nếu như ĐCSTQ tin rằng leo thang đàn áp và chủ nghĩa dân tộc sẽ giúp cho đảng duy trì quyền lực trong giai đoạn đang có hỗn loạn trong giới lãnh đạo cấp cao, kinh tế suy thoái và căng thẳng xã hội dâng cao thì đảng cũng nên nhìn nhận những rủi ro to lớn và cái giá phải trả cho chiến lược sinh tồn mới này. Ngoài việc khiến Trung Quốc bị lạc hậu chiến lược này tỏ ra không bền vững và nguy hiểm. Trấn áp có thể có tác dụng trong một thời điểm nhưng các chế độ chuyên chế quá phụ thuộc vào nó sẽ phải sẵn sàng gia tăng việc sử dụng bạo lực liên tục và áp dụng những biện pháp hà khắc để ngăn cản các lực lượng chống đối. 
Đàn áp có thể là không tốt cho việc kinh doanh, vì khi đó nhà cầm quyền buộc phải ngăn chặn dòng thông tin và tự do kinh tế để bảo đảm an ninh cho chế độ (quả thực, các hãng phương Tây đang phàn nàn về những bất tiện do tường lửa Vạn lý Trường thành gây ra). Gia tăng mức độ đàn áp trong lúc kinh tế đang chìm đắm trong đình đốn sẽ gây căng thẳng và áp lực lên các nguồn lực của ĐCSTQ bởi lẽ việc trấn áp đòi hỏi phải duy trì mạng lưới tốn kém những kẻ nội gián chuyên cung cấp thông tin, công an chìm, nhân viên kiểm duyệt và các lực lượng bán vũ trang. Đàn áp còn làm phát sinh những chi phí khổng lồ về đạo đức và có thể nhóm lửa cho những cuộc tranh luận bên trong chế độ. 
Hãy đặt câu hỏi một cách rõ ràng: liệu Trung Quốc có thực sự sẵn sàng để trở thành một Bắc Triều Tiên khác?
Sử dụng chủ nghĩa dân tộc và khoe cơ bắp có thể đem lại những lợi ích chính trị nhất thời nhưng ĐCSTQ sẽ phải trả giá bằng an ninh của mình trong dài hạn. Một trong những lựa chọn chiến lược khôn ngoan nhất của Đặng Tiểu Bình là phát triển các mối quan hệ bạn bè với phương Tây do Hoa Kỳ lãnh đạo nhằm thúc đẩy chương trình hiện đại hóa Trung Hoa. Trong thời kỳ hậu Đặng Tiểu Bình hai nhân vật tiền nhiệm của họ Tập là Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào cũng đã học bài học cốt tử từ sự sụp đổ của Liên Xô: xung đột chiến lược với Hoa Kỳ sẽ gây nguy hiểm cho chính sự tồn vong của ĐCSTQ. Chi phí cho một cuộc chạy đua vũ trang sẽ ở mức không chịu đựng nổi và sự thù địch công khai trong quan hệ Trung – Mỹ sẽ phá hủy mối quan hệ kinh tế song phương.
Không rõ ban lãnh đạo ĐCSTQ có nhận thức được những rủi ro mà chiến lược sinh tồn mới đang hoàn thiện của họ sẽ mang lại hay không nhưng nếu các thành viên trong ban lãnh đạo tin chắc rằng chỉ có chiến lược đó mới cứu vãn được sự lãnh đạo của đảng và do hiện đang lo sợ bởi sự sụp đổ của những trụ cột quan trọng trong mô hình hậu Thiên An Môn thì rất có thể họ sẽ tiếp tục đường lối hiện nay. Và thật mỉa mai, đường lối đó, nếu như phân tích ở trên là đúng thì chắc chắn sẽ thúc đẩy sự kết thúc của ĐCSTQ thay vì ngăn chặn nó.
Thăng Long - Hà Nội 24/02/2016
Bản dịch của Phạm Gia Minh 
Tài liệu tham khảo
1The literature on China’s “resilient authoritarianism” is large. Representative works include Andrew J. Nathan, “Authoritarian Resilience,” Journal of Democracy (January 2003); David L. Shambaugh, China’s Communist Party: Atrophy and Adaptation (University of California Press, 2008).
2Andrew Nathan acknowledged in 2013 that, “The consensus is stronger than at any time since the 1989 Tiananmen crisis that the resilience of the authoritarian regime in the People’s Republic of China (PRC) is approaching its limits.” Nathan, “Foreseeing the Unforeseeable,” in Andrew Nathan, Larry Diamond, and Marc Plattner, eds., Will China Democratize? (Johns Hopkins University Press, 2013); David Shambaugh published a much-noted long essay, “The Coming Chinese Crackup,” in the Wall Street Journalon March 6, 2015 arguing that the endgame for the CPC regime has begun. 
3Samuel P. Huntington, The Third Wave: Democratization in the Late Twentieth Century (University of Oklahoma Press, 1993); Guillermo O’Donnell and Philippe C. Schmitter, Transitions from Authoritarian Rule: Tentative Conclusions about Uncertain Democracies (Johns Hopkins University Press, 2013). 
4See Aviezer Tucker, “Why We Need Totalitarianism”, The American Interest (May/June 2015). 
5Cai Fang Wang Dewen, “Impacts of Internal Migration on Economic Growth and Urban Development in China,” in Josh DeWind and Jennifer Holdaway, eds., Migration and Development Within and Across Borders (The Social Science Research Council, 2008.) 
6The literature on the predatory state and extractive institutions is vast. The most influential works are Daron Acemoğlu and James Robinson, Why Nations Fail (Crown Publishing, 2012); Douglass North, Institutions, Institutional Change and Economic Performance (Cambridge University Press, 1990). 
7The huge inefficiency of state-owned enterprises, as compared with the dynamism of the Chinese private sector, is detailed in Nick Lardy, Markets over Mao: The Rise of Private Business in China (Peterson Institute for International Economics, 2014) 
8Seymour Martin Lipset, “Some Social Requisites of Democracy: Economic Development and Political Legitimacy,” American Political Science Review(March 1959); Adam Przeworski, Democracy and Development: Political Institutions and Well-Being in the World, 1950–1990 (Cambridge University Press, 2000).
9Academic research has also established a strong link between oil and dictatorship. See Michael Ross, “Does Oil Hinder Democracy?” World Politics (April 2001).
10Yu Liu and Dingding Chen, “Why China Will Democratize,” Washington Quarterly (Winter 2012).
Minxin Pei is the Tom and Margot Pritzker ’72 Professor of Government at Claremont McKenna College and a non-resident senior fellow of the German Marshall Fund of the United States. His latest book, China’s Crony Capitalism: Dynamics of Regime Decay, will be published by Harvard University Press in 2016. This article is drawn from a larger research project on China’s likely regime transition that has received financial support from the Smith Richardson Foundation, the Carnegie Corporation of New York, and the John D. and Catherine T. MacArthur Foundation.