Ban chấp hành Trung ương Đảng đã cho triệu tập một hội nghị “bất thường” ở Hà Nội vào ngày 30/12/2022, qua đó để “xem xét và cho ý kiến về công tác cán bộ”. Sau cùng là việc đề bạc nhân sự thay thế.
Kết quả như dự đoán của giới thạo tin, hai ông Phó Thủ tướng: Phạm Bình Minh bị thôi giữ chức vụ Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Trung ương Đảng; Vũ Đức Đam bị thôi giữ chức vụ Ủy viên Trung ương Đảng khoá XIII.
Cả hai ông đều để lại dấu ấn mờ nhạt khi còn giữ chức Phó Thủ tướng. Trên quan hệ song phương Việt Nam – Trung Quốc, ông Phạm Bình Minh từng tuyên bố: “Hữu hảo với Trung Quốc là lựa chọn chiến lược của Việt Nam”. Một chính sách ngoại giao hoàn toàn thụ động và lệ thuộc vào Bắc Kinh mà Hà Nội vẫn kiên trì theo đuổi, tránh làm phật lòng anh láng giềng phương Bắc.
Ông Vũ Đức Đam thì nổi đình nổi đám với tuyên bố đậm màu cách mạng: “Chúng ta đã thắng Covid-19 trận đầu, nhất định phải thắng cả cuộc chiến!“ hay “Nếu như toàn dân Việt Nam ta đồng lòng chống dịch, nhất định chúng ta sẽ chiến thắng, chiến thắng như nhiều lần dân tộc Việt Nam ta đã từng chiến thắng” trong bối cảnh cả thế giới bị Covid-19 hoành hành kinh khủng. Ông tự tin và tự hào khi Việt Nam tương đối không bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Khi Việt Nam bị biến chủng Delta làm tê liệt toàn thể hệ thống y tế của cả nước, đặc biệt tại Sài Gòn với những con số nạn nhân hoàn toàn bị bưng bít và che giấu bởi nhà cầm quyền thì ông Đam vẫn còn tự tin tuyên bố sẽ “dập dịch Covid-19 trong vòng 10 ngày”.
Oan hồn của những nạn nhân do Covid gây ra từ sự thiếu chuẩn bị và thái độ ngạo mạn của chế độ, đứng đầu là ông Vũ Đức Đam, trưởng ban chỉ đạo quốc gia phòng, chống Covid-19 có lẽ sẽ không bao giờ tha thứ cho ông. Chống dịch như đánh giặc, sặc mùi tuyên truyền và định hướng chính trị, bỏ mặc tính mạng của người dân để chạy theo thành tích.
Cả hai ông Phó Thủ tướng bị cách chức, thôi tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Nhưng thực chất là hai ông đã bị Bộ Chính trị thanh trừng sau những sai lầm nghiêm trọng và tham nhũng trong việc phòng chống dịch Covid-19 và những “chuyến bay giải cứu” công dân Việt Nam tại các quốc gia được xem là “tâm điểm dịch”.
Đây là hai gương mặt được cho là có bằng cấp và kiến thức khi được đào tạo tại nước ngoài. Nhưng trong một cơ chế độc tài toàn trị, khi mà sự cạnh tranh quyền lực và sự cám dỗ của đồng tiền trở thành những giá trị phổ quát cho sự tồn tại và thăng tiến thì hai ông đã không thể nào thoát khỏi, tiến xa hơn nữa. Coi như con đường và sự nghiệp chính trị của hai ông đã chấm dứt khi năm mới 2023 đang bên thềm cửa…
Chuyện ai thay thế hai ông, thực sự không quan trọng vì có lẽ đó cũng chỉ là những con cờ thí của Bộ Chính trị. Sự tranh giành và kiểm soát quyền lực trong nội bộ mới chính là bài toán mang tính chất sống còn của đảng Cộng sản Việt Nam.
Còn tương lai và vận mệnh dân tộc, chỉ là thứ yếu, không cấp bách. Cứ hãy đợi đấy!
Tương lai đất nước này vẫn sẽ “tối đen như mực, đen như cái tiền đồ” của chị Dậu…
Hôm qua, báo chí đăng tin Thanh tra chính phủ đã chỉ ra sự câu kết giữa Bộ GD-ĐT và Nhà xuất bản Giáo dục về “tham nhũng” sách giáo khoa. Giờ mới vạch trần, lôi cổ chúng nó ra là đã khí muộn, quá muộn. Đó là thứ liên minh ma quỷ tồn tại, công khai tác oai tác quái cả nửa thế kỷ, bóc lột bóp nhặt từng xu của người đi học.
Khốn nạn nhất là sự bóc lột này lại có sự bảo kê của nhà cầm quyền (đảng, quốc hội, chính phủ, bộ GD-ĐT) nên mặc dù dân chúng kêu la than thở rầm rĩ, năm nào cũng như năm nào, nhưng bề trên đều bỏ ngoài tai, mặc kệ.
Nói thẳng ra, đối với cái khối ung nhọt Nhà xuất bản Giáo dục, và sách giáo khoa, nếu chỉ vạch trần bọn Bộ GD-ĐT thì chưa đủ, mà phải cả “hệ thống chính trị”, chúng đều hưởng lợi, dây máu ăn phần. Nếu không phải vậy, sao nó lại dám ngang nhiên tác quái suốt mấy chục năm trời.
Cách nay 10 năm, cụ thể là ngày 7.6.2012, nhà cháu đã viết khi mới có phây búc thế này:
“Năm nào cũng như năm nào, cứ trước năm học mới, phụ huynh đến khổ vì sách giáo khoa. Nội dung đổi thay xoành xoạch, cách sử dụng tốn kém, lãng phí. Và điên nhất là giá cả. Một ông bạn làm bên ngành xuất bản bảo rằng với số lượng in khổng lồ, không có thứ ấn phẩm nào so sánh được với nó, sách giáo khoa là món hời béo bở cho đám làm sách và Bộ Giáo dục. Nếu đấu thầu đàng hoàng, không cho Nhà xuất bản Giáo dục độc quyền nữa, giá thành sách giáo khoa sẽ chỉ còn một nửa, tức là bớt được một nửa gánh nặng chi phí mua sách cho người có con em đi học. Biết thế thôi, dễ gì họ nhả. Không có đứa nào chê tiền cả”.
Dư luận nói bã bọt mép, mấy chục năm rồi, giờ vẫn y nguyên. Bọn lãnh đạo giáo dục xứ này nhẽ ra phải bị xử bắn vài thế hệ nhưng chúng vẫn sống nhăn. Tiền móc túi dân từ việc bán sách giáo khoa, chúng đâu có ăn một mình, nên chúng sống.
Đám quan chức không quan tâm tới giá sách giáo khoa bởi có tăng giá mấy đi nữa thì tiền với chúng là muỗi. Chúng không đếm xỉa tới chất lượng sách giáo khoa bởi con cái chúng dù không học hành vẫn được làm quan. Chúng ngó lơ sách giáo khoa bởi con cháu chúng đâu có thèm học ở xứ này.
Sách giáo khoa, nói cho cùng, là thứ công cụ bóc lột tàn bạo bao nhiêu năm nay, mà thủ phạm và kẻ bảo kê chính là nhà cai trị.
Vì sao có không ít người tỏ ra cảm mến Phạm Bình Minh và Vũ Đức Đam, và tỏ ra luyến tiếc sự ra đi của hai ông?
Đó là lỗi của hệ thống tuyên truyền có chủ đích và khiếm khuyết của nền báo chí không độc lập.
Vì cái lỗi này đã không đem lại sự công bằng cho người Dân khi Sự thật luôn là trò chơi ú tim tù mù.
Với báo chí độc lập, thì Sự thật là thước đo hàng đầu, để sự Công bằng cho người Dân là món quà tử tế nhất mà một nền Dân chủ luôn dâng tặng cho người Dân.
Sự thật đó là:
Sự tàn bạo ăn không từ thứ gì trong vụ án “Chuyến bay giải cứu” dẫn đến hàng loạt thứ trưởng, cục trưởng, đại sứ tên tuổi của bộ Ngoại giao bị bắt giam, kỷ luật thì người chịu trách nhiệm rành rành trước nhất chính là Phạm Bình Minh.
Theo lẽ công bằng ở các nước có nền Dân chủ và báo chí độc lập, thì chỉ cần tích tắc trợ lý của ông Minh một mắt xích quan trọng trong vụ cướp đoạt, tham nhũng trắng trợn “Chuyến bay giải cứu” này bị công an truy tố, ông Minh có lòng tự trọng đã chủ động từ chức rồi nếu không muốn bị cách chức.
Tại sao ông không từ chức ngay? Mà phải đến khi ông TBT Nguyễn Phú Trọng đưa ra nghị quyết về “khuyến khích người phạm lỗi từ chức” và ông Võ Văn Thưởng đại diện Ban Bí thư yêu cầu “cần gây sức ép mạnh để cán bộ phạm lỗi từ chức” mới từ chức?
Chả qua đã từ lâu không ít quan chức VN không có đủ lòng sĩ diện, danh dự để có văn hoá tự trọng tối thiểu này.
Và cũng đã từ lâu không ít quan chức VN tham lam quyền lực không ai từ bỏ quyền lực một cách dễ dàng.
Và cũng đã từ lâu nền tư pháp VN không ít lần vẫn nương nhẹ với các quan chức đương chức có tên tuổi hoặc có thành tích nào đó.
Trường hợp ông Vũ Đức Đam cũng vậy khi vụ án Việt Á xảy ra gây ra biết bao tai hoạ đối với người Dân.
Nếu người Dân biết hết Sự thật về vai trò, trách nhiệm và cả những gì v v… đằng sau các vụ án trên như uỷ ban kiểm tra trung ương và cơ quan an ninh điều tra tội phạm hối lộ tham nhũng biết, thì chắc chắn khó có thể có sự ngộ nhận nào đó về hình ảnh hai ông trên.
Hãy đứng về Phe Nước mắt – Phe người Dân, những người là nạn nhân duy nhất của tội lỗi của các ông quan lớn, dù bất kể ông quan lớn ấy là ai, để phán xét.
Sự thật cần phải được phơi bày. Khi Sự thật chưa được phơi bày thì sự bất công đối với người Dân vẫn còn đó. Và cái xấu xa, cái ác vẫn còn đó.
Điều quan trọng nữa, sức ép từ chức không thể chỉ là màn diễn của phe nhóm quyền lực mà phải với bất cứ ai dù ở vị trí cao nào.
Đó cũng là sự Công bằng dành cho người Dân vì người Dân luôn phải có quyền được phục vụ bởi những quan chức thực sự tử tế chứ không phải những quan chức chưa bị lộ sự không tử tế.
Trong năm 2022 tình hình trong nước nhiều diễn biến xấu, rất phức tạp, những người có trách nhiệm và dư luận xã hội đang rất quan tâm, lo lắng cho vận mệnh của dân tộc. Có thể kể đến những sự kiện tiêu biểu như sau:
1. Vụ test kit Việt Á, ngoài việc gây thiệt hại to lớn cho ngân sách nhà nước, còn làm mất rất nhiều cán bộ đảng viên giữ chức vụ quản lý từ cấp trung gian đến cấp cao trong hầu hết các tỉnh thành cả nước, kể cả 2 ủy viên trung ương giữ tới chức Bộ trưởng, Phó Thủ tướng, với hàng loạt giám đốc CDC bị khởi tố, bắt đi, cùng một số cấp chỉ huy của họ là các giám đốc sở y tế, chủ tịch, bí thư tỉnh/ thành có liên quan trong vụ đại án.
2. Vụ giải cứu người Việt Nam ở nước ngoài về nước tránh dịch Covid -19 (còn gọi là vụ Cục Lãnh sự), ngoài việc cấu kết giữa nhiều ban ngành để tham nhũng số tiền hàng ngàn tỷ, hàng loạt cán bộ ngoại giao cao cấp bị xử lý, uy tín về mặt ngoại giao đã suy giảm nghiêm trọng.
Có thể nói, chỉ riêng hai vụ này là tham nhũng lớn nhất trong lịch sử Việt Nam, diễn ra trong bối cảnh đặc biệt toàn dân đang khốn khổ vì đại dịch Covid-19, đã đưa quốc nạn tham nhũng lên tới đỉnh điểm của sự tàn bạo, cho thấy tâm địa độc ác của bầy sâu tham nhũng, ăn không chừa một thứ gì, không chỉ đánh thẳng vào chi tiêu nhà nước, mà còn gây nguy hại đến cả hệ thống chính trị, đặt hệ thống chính trị trước nguy cơ tan rã.
3. Vụ khởi tố bắt tạm giam các chủ tập đoàn Vạn Thịnh Phát (Trương Mỹ Lan), FLC (Trịnh Văn Quyết), Tân Hoàng Minh… liên quan đến đầu cơ bất động sản có sự tiếp tay của các ngân hàng, ban lãnh đạo thị trường chứng khoán và của các quan tham trong bộ máy nhà nước trong một thời gian rất dài, làm mất lòng tin trong nhân dân, kéo theo sự sụp đổ của hệ thống tài chính. Nhà nước trong 1 tháng phải bơm ra hết chục ngàn tỷ này đến chục ngàn tỷ khác để cứu gỡ ngành ngân hàng và giải quyết nợ cho những người dân đổ xô đi rút tiền, nhưng hàng vạn người mua chứng khoán có khả năng mất trắng vì các công ty chứng khoán sụp đổ.
Có thể nói, tình trạng cực xấu này vượt qua khỏi khả năng giải cứu Nhà nước; nếu cứ in thêm tiền để giải quyết vấn đề căng thẳng về tài chính tất yếu sẽ dẫn tới nạn lạm phát cao, khiến cho hết nạn nọ tới nạn kia.
4. Đất đai của nông dân bị cưỡng bức thu hồi, có nơi đã để xảy ra chết người. Nhiều đất đai thu hồi nhưng không thực hiện dự án, đất đai bỏ hoang trong khi nông dân không có đất để sản xuất sinh nhai; luật đất đai tuy có sửa đổi nhưng chưa đi vào điểm cơ bản, chưa giải quyết thỏa đáng một cách đạo lý công bằng đối với quyền lợi người dân bị mất đất; rất nhiều trường hợp tiền đền bù không mua nổi đất để làm nhà che mưa nắng, người dân khó khăn lại càng khó khăn hơn. Từ đây, những vụ khiếu kiện về đất đai đã không dừng lại mà còn đang ngày càng gia tăng ngày càng kéo dài không hy vọng chấm dứt.
5. Cuộc chiến chống tham nhũng (còn gọi là đốt lò) tuy có đạt được thành tích qua việc xét xử được một số vụ cụ thể có tác dụng răn đe nhưng nhìn chung về cơ bản vẫn tỏ ra bất lực. Các thủ đoạn câu kết tinh vi có hệ thống, âm mưu quỷ kế biến hóa thiên hình vạn trạng, lại có sự bao che từ những cấp có thẩm quyền rất cao, dính líu đến quyền lợi của nhiều người nhiều cấp trong các mối quan hệ dọc ngang trên dưới chằng chịt, vướng mắc đủ bề, trở thành khó xử một cách triệt để. Đặc biệt, trong điều kiện chạy chức, chạy quyền, chạy án đã trở thành tập tục phổ biến từ lâu của các giới công quyền thì phương châm đưa ra được lập đi lập lại “chống tham nhũng không có vùng cấm”, không có vùng tránh, không loại trừ cấp nào cũng khó làm đến cùng.
Việc kê khai tài sản cán bộ để kiểm soát tham nhũng tuy đã có rất nhiều văn bản quy định từ phía Đảng và Chính phủ nhưng trên thực tế từ rất lâu cho thấy là không thi hành được. Những điều đảng viên không được làm thì họ đều làm một cách lén lút, mà giải pháp kêu gọi sự chấn chỉnh đạo đức, nêu gương lãnh tụ, học tập nghị quyết … đã tỏ ra không hiệu quả.
Chính người đứng đầu Đảng đã có lần than thở như một lời thú nhận: Vì sao chống tham nhũng mạnh mẽ như thế, xử lý nghiêm nhiều hành vi vi phạm như thế nhưng tham nhũng tiêu cực vẫn cứ trơ. Sai phạm xảy ra ngay trong quá trình kiểm tra.
Liệu có ai là chỗ dựa, có ai chống lưng cho hành vi pham nhũng tiêu cực hay không? Tình trạng hư hỏng, thoái hóa, biến chất cán bộ từ cơ sở đến trung ương đã được công khai hóa qua nhiều vụ khởi tố bắt tạm giam cụ thể mà người dân được biết, cho thấy ở mỗi dự án, mỗi công trình xây dựng lớn nhỏ đều có tham nhũng xen vào, và đi liền sau đó là hàng loạt cán bộ dắt nhau vào tù không sao kể xiết.
6. Về kinh tế có phát triển hơn nhưng tư tưởng tất cả chạy theo tiền và quyền đã thành phổ biến, đạo đức xã hội quan hệ con người con người suy thoái xuống cấp trầm trọng. Đời sống tinh thần đạo lý xã hội truyền thống ngàn đời của dân tộc gần như bỏ ngỏ.
Đất nước chưa bao giờ lâm vào tình trạng nguy hiểm cực độ như trên, người dân tự hỏi tại sao?
ll. Nguyên nhân
1. Từ một nền kinh tế XHCN chuyển qua nền kinh tế thị trường, sản xuất hàng hóa phát triển vượt bực lẽ ra phải áp dụng cơ chế chính sách quản lý theo đúng kiểu kinh tế thị trường sản xuất, hàng hóa chịu sự điều tiết tự nhiên của luật cung cầu đi cùng với nó là nền pháp trị vững mạnh, giới lãnh đạo không nắm bắt vấn đề cốt lõi này để chuyển biến kịp thời theo tình hình mới mà vẫn cố bám theo mô hình quản lý cũ, chủ yếu dùng mệnh lịnh hành chính để chỉ huy kinh tế.
Phải nói Nghị Quyết Đại hội 6 năm 1986 là một cuộc cách mạng thật sự thay đổi vận mệnh đất nước. Hơn 30 năm sau, Nghị quyết Đại hội 6 VN đã trở thành một nền kinh tế đặc biệt duy nhất trên thế giới nền kinh tế “không chịu phát triển”. Phát triển phải đi liền với nó là thể chế chính trị phù hợp, chính trị không đi theo kịp sự phát triển của đất nước.
2. Việc bố trí nhân sự, sử dụng con người đưa vào bộ máy tổ chức chủ yếu theo nguyên tắc quy hoạch, cơ cấu dựa trên quan hệ thân quen phục tùng tuyệt đối làm tiêu chuẩn quyết định, dẫn đến bao che sai lầm khuyết điểm dung túng lẫn nhau, thủ tiêu mọi đấu tranh lành mạnh trong nội bộ.
Có hiện tượng hết sức bi hài là khi phát hiện các trường hợp vi phạm để xử lý thì tất cả các cá nhân hay đơn vị vi phạm ấy trước đó đều đã có đầy đủ bằng khen, giấy khen, lao động tiên tiến xuất sắc, huân huy chương lao động cá nhân và đơn vị. Việc khen thưởng, mà phần lớn trở thành trò đùa, dối trên, lừa dưới, vụ Công ty Việt Á nhận huân chương Lao động hạng nhì, Học viện quân y nhận Bằng khen cho cá nhân đơn vị là sự kiện điển hình.
3. Tình trạng mua quan bán chức, bằng thật học giả, bằng giả học giả, chưa tốt nghiệp phổ thông lại có bằng tốt nghiệp đại học xảy ra phổ biến. Một số tiến sĩ được đào tạo không giúp gì cho công việc, chỉ có giá trị lên lương lên chức (như tiến sĩ cầu lông, áo ngực …), tình trạng suy đồi của bằng cấp cũng như việc phong chức hàm giáo sư, phó giáo sư rất khó khắc phục, nhờ có tiếp tay của không ít trường đại học (như đại học Đông Đô….) kể cả Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội (mà người đứng đầu và đồng bọn vừa bị xử lý kỷ luật).
Năng lực của cán bộ quản lý các cấp vì thế ngày càng tệ hại, không xứng tầm nhiệm vụ được giao. Trong khi người tài giỏi có tư cách đạo đức và lòng tự trọng tìm cách ra đi, kẻ bất tài vô dụng tìm đủ cách bám trụ để thu lợi bất chính mà người xưa gọi là tiểu nhân đương đạo (bọn tiểu nhân cầm quyền).
4. Sự chậm trễ sửa đổi các chính sách phục vụ cho nền kinh tế thị trường, các nhánh quyền lực không chủ động sáng tạo phát huy được nội lực. Cơ chế toàn trị ngày càng gia tăng độc đoán, nhằm bảo vệ quyền lực, đã đẩy bộ máy cầm quyền ngày càng xơ cứng mất hết sự năng động cần thiết cho xã hội phát triển.
lll. Con đường nào cho Việt Nam?
Tình hình kinh tế – chính trị – xã hội như mô tả ở trên đang đặt đất nước trước những nguy cơ đe dọa từ bên trong lẫn bên ngoài, không thể xem thường.
Nhằm mục đích củng cố đưa đất nước vượt qua khó khan, cần phải xem xét phân tích lại toàn diện tình hình, trong đó có 2 vấn đề cốt lõi: một là đường lối chính sách cơ bản, và hai là tổ chức thực hiện đường lối.
Đề ra đường lối chính sách tổ chức phù hợp phải là thay đổi thật sự, mang tính bước ngoặt, đưa đất nước bước qua giai đoạn mới như trước đây đã ra đời nghị quyết Đại hội 6 năm 1986, từ bỏ kinh tế quan liêu bao cấp, xây dựng nền kinh tế thị trường.
Xu hướng chi phối thế giới hiện nay là dân chủ tự do với một nền pháp trị vững mạnh, xu hướng này lấy phát triển trí tuệ làm chủ đạo thay thế cho sức mạnh cơ bắp. Từ sau những năm 1990, khi Khối XHCN tan rã, các nước chọn đi theo con đường thế giới dân chủ tự do với nền pháp trị vững chắc, đều phát triển giàu mạnh. Cùng một tình trạng như VN có Nam – Bắc Triều Tiên, Đông Đức – Tây Đức. Hiện nay, Bắc Triều Tiên phát triển trong nghèo đói, còn đi ăn xin, thì Hàn Quốc rất mạnh về kinh tế, làm chủ khoa học công nghệ, đời sống nhân dân ấm no và quốc phòng vững mạnh còn xuất bán cả vũ khí hiện đại, xe tăng máy bay…
Nước Đức, trước đây so với các nước XHCN thì Đông Đức giàu và phát triển nhưng so với Tây Đức thì nghèo và lạc hậu. Từ ngày thống nhất đến nay, nước Đức thành đầu tầu của châu Âu và người Đức phía Đông cũng đoạn tuyệt quá khứ, chẳng còn ai muốn trở lại thời Đông Đức.
Thế giới có rất nhiều bài học, Đảng và Nhà nước Việt Nam chọn con đường nào để nhanh chóng đưa đất nước tiến kịp với thời đại, đáp ứng lòng mong đợi của nhân dân Việt Nam.
Gần đây chính phủ Trung Quốc đã có động thái nới lỏng “bất ngờ” về chính sách COVID-19, họ dự định sẽ mở cửa lại cho người Trung Quốc đi du lịch khắp thế giới từ ngày 8 tháng 1 năm 2023, và tương tự cũng sẽ có nhiều thay đổi nới lỏng cho người nước khác đi du lịch, làm việc và học tập ở nước họ.
Trước thông tin này thì phản ứng của nhiều nước trên thế giới là “SỢ”! Hành động của các nước như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Ấn Độ, Ý, Đài Loan là yêu cầu người đến từ Trung Quốc phải có kết quả test COVID-19 âm tính, mặc dù quy định này đã được bỏ từ khoảng giữa năm 2022 cho tất cả người du lịch từ các nước. Cụ thể, CDC của Mỹ đã vừa ra thông báo rằng:
– Bắt đầu từ ngày 5 tháng 1, tất cả hành khách đi máy bay từ hai tuổi trở lên đến từ Trung Quốc, sẽ được yêu cầu làm xét nghiệm (xét nghiệm PCR hoặc xét nghiệm kháng nguyên) không quá 2 ngày trước khi họ rời khỏi Trung Quốc, Hồng Kông hoặc Ma Cao, và xuất trình kết quả xét nghiệm âm tính cho hãng hàng không trước khi khởi hành.
– Yêu cầu xét nghiệm này áp dụng cho tất cả các hành khách đến từ Trung Quốc, không phân biệt quốc tịch hoặc tình trạng vaccine. Điều này cũng áp dụng cho những hành khách đến Mỹ trên những chuyến bay quá cảnh ở Trung Quốc.
– Hành khách có kết quả xét nghiệm dương tính hơn 10 ngày trước chuyến bay có thể cung cấp hồ sơ chứng minh việc đã khỏi bệnh COVID-19.
Nhờ vào vaccine và miễn dịch cộng đồng đã được hình thành trong thời gian qua, tình hình dịch COVID-19 có vẻ đã “tạm ổn” trên thế giới. Vậy câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao những nước trên thế giới lại “hết hồn” khi Trung Quốc “bất ngờ” mở cửa lại sau 3 năm đóng kín? Theo mình thấy thì đây là một “phản xạ tự nhiên” như khi người ta sợ những thứ người ta không biết rõ. Những nước trên thế giới tỏ ra sợ trước động thái mở cửa của Trung Quốc vì:
– Mặc dù chính sách “Zero-COVID” được áp dụng nhưng hiện tại Trung Quốc đang có đợt bùng dịch COVID-19 mạnh.
– Các thông tin khoa học, trình tự giải mã gene các chủng virus lưu hành ở Trung Quốc không đầy đủ và rất hạn chế. Do vậy, cho đến nay các nhà khoa học không rõ chủng nào hiện nay đang là nguyên nhân chính gây đợt bùng phát hiện tại ở Trung Quốc.
– Nếu chủng đang lưu hành hiện tại ở Trung Quốc là một chủng mới và nguy hiểm thì sẽ có thể làm một đợt bùng dịch mới nguy hiểm trên thế giới.
Ở góc độ là một người làm nghiên cứu, mình thấy rằng những lo sợ này là chính đáng và các nước cần có những “động thái” đề phòng. Tuy hiện nay chúng ta phần nào đã “kiểm soát” được dịch COVID-19 nhưng virus SARS-CoV-2 vẫn còn đó và tiếp tục những biến đổi để “manh nha vượt rào”. Những nghiên cứu về virus này vẫn cần được tiếp tục để biết chúng biến đổi đến đâu và có phản ứng phù hợp.
Trong trường hợp Trung Quốc bất ngờ mở cửa sau 3 năm đóng kín làm mọi người lo lắng vì những thông tin về sự biến đổi của virus ở trong cộng đồng kín này không được biết rõ. Nếu đây là một loại biến chủng đặc biệt, mới hình thành trong cộng đồng kín này và không lưu hành trên thế giới trong 1 thời gian dài thì có thể sẽ khác xa với các chủng mà chúng ta đang biết hiện nay. Điều này có thể sẽ gây khó khăn cho hệ miễn dịch của chúng ta khi nhận biết chủng mới này và có thể bị bệnh nặng hơn. Do vậy, việc “đề phòng” là một động thái không thừa trong tình hình này đối với “người đến từ Trung Quốc”.
Động thái “mở cửa bất ngờ” này của Trung Quốc làm mình khá lo! Dù mình biết rằng chính sách “Zero-COVID” không có cửa nào thành công như các phân tích ở các bài viết trước và việc mở cửa chỉ là điều sớm hay muộn. Tuy nhiên, chính phủ Trung Quốc lại chọn thời điểm trong nước bùng dịch mạnh và ngay trước Tết Nguyên Đán (mùng 1 Tết năm Quý Mão vào ngày 22 tháng 1 năm 2023) để mở cửa thì thật đáng lo.
Chúng ta đừng quên rằng, đại dịch COVID-19 bùng phát mạnh có liên quan trực tiếp đến việc nhà cầm quyền Trung Quốc đã “do dự” việc kiểm dịch khi để người dân tự do đi lại ngay trước kỳ nghỉ Tết Nguyên đán năm 2020 (mùng 1 Tết năm Canh Tý vào ngày 25 tháng 1 năm 2020). Ở kỳ nghỉ này, người dân Trung Quốc ước tính thực hiện gần 3 tỷ chuyến đi trong khoảng 40 ngày. Lúc đó có khoảng 5 triệu người đã rời Vũ Hán, tâm điểm của dịch COVID -19, trước khi bắt đầu lệnh cấm du lịch vào ngày 23 tháng 1 năm 2020. Khoảng một phần ba trong số đó đã đi đến các địa điểm bên ngoài tỉnh Hồ Bắc.
Mong rằng, chính phủ Việt Nam cũng sớm có động thái “phù hợp” để đối phó với nguy cơ này.
Năm 2021, Chính quyền Cộng Sản đặt mục tiêu cho tăng trưởng kinh tế năm 2022 là từ 6-6,5%. Tuy nhiên, kết quả mới đây cho biết kinh tế Việt Nam tăng trưởng đến 8,02% trong năm nay. Như vậy là nền kinh tế Việt Nam đã phát triển thần kỳ, có thật như vậy không?
Được biết, từ cuối tháng Năm (đang quý II) các ngân hàng thương mại Việt Nam đã báo động về nguy cơ cạn room tín dụng. Cho đến tháng Tám hầu như các ngân hàng không thể cho vay được nữa. Bắt đầu từ cuối quý II, các ngân hàng thương mại hạn chế cho vay dần. Tuy nhiên, theo thống kê thì quý III là quý mà nền kinh tế phát triển mạnh nhất (quý I tăng 5,05%; quý II tăng 7,83%; quý III tăng 13,71%; quý IV tăng 5,92%). Thậm chí suốt cả quý IV nền kinh tế cạn tiền mà vẫn tăng trưởng hơn quý I khi mà room tín dụng còn rất dồi dào.
Doanh nghiệp có thể huy động vốn qua ngân hàng hoặc qua thị trường chứng khoán. Ngân hàng thì sớm cạn room, thị trường trái phiếu thì vắng bóng hẳn các doanh nghiệp mới chào bán từ khi ông Đỗ Anh Dũng bị bắt hồi tháng Tư, thị trường cổ phiếu cũng ít doanh nghiệp IPO khi Trịnh Văn Quyết bị bắt hồi cuối tháng Ba. Các vòi tưới vốn tưới cho doanh nghiệp bị nghẽn nên ngay cả ông Phạm Nhật Vượng cũng phải lập ra VMI để gọi vốn, Nguyễn Tử Quảng – CEO của Bkav cũng lên mạng gọi vốn trực tiếp từ Fan.
Nguồn cấp vốn cho doanh nghiệp như là cơ quan hô hấp cho nền kinh tế. Nếu nói ngân hàng là lỗ mũi thì thị trường chứng khoán là miệng. Nếu mũi bị nghẹt thì thở bằng miệng, mà miệng bị ngạt nữa thì cơ thể nền kinh tế thiếu oxy nghiêm trọng. Mà theo con số thống kê thì cơ thể nền kinh tế Việt Nam vẫn “khỏe re như con ngựa kéo xe”, thật là khó tin. Trong tình hình như vậy mà tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2022 lên đến 8,02% thì nghe “có gì đó sai sai”! Con số tăng trưởng này so với những khó khăn trên thị trường vốn là không khớp nhau. Càng đói vốn càng phát triển là sao?
Năm ngoái, khối ngoại FDI chiếm 70% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, trong khi đó năm 2022 thì tỷ trọng của FDI đã tăng lên thành 73,9%. Như vậy, khối ngoại thì càng ngày càng vững (lên cơ) mà khối nội thì càng ngày càng yếu (teo cơ). Nguyên nhân là do đâu? Do các các vòi cấp vốn cho doanh nghiệp (ngân hàng thương mại và thị trường chứng khoán) bị nghẽn, cho nên khối nội bị “teo cơ” là đúng. Sức khỏe của khối nội phản ánh đúng theo biến động của thị trường vốn của Việt Nam trong năm qua. Khối FDI không phụ thuộc nhiều vào thị trường vốn trong nước nên họ “lên cơ” cũng là điều hợp lý.
Không tiền thì làm sao “chuyển đổi xanh”? Mà không chuyển đổi xanh thì các nước châu Âu và Nhật Bản không cho nhập, thế là đói đơn hàng nên doanh nghiệp sa thải công nhân hàng loạt. Năm nay rất nhiều doanh nghiệp Việt phải đóng cửa nhà xưởng cho công nhân “ăn tết sớm”, thậm chí có doanh nghiệp tính chuyện này từ tháng Chín. Đó là thực tế đã được các báo đăng tin. Tình hình thế mà tăng trưởng kinh tế đến 8,02% thì cũng khó hiểu thật.
Mới đây, thống kê cho thấy ngành du lịch Việt Nam trong năm 2022 thất bại thảm hại, chỉ có thể đón được khoảng 3,5 triệu lượt khách quốc tế, thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu đón được 5 triệu lượt khách để tạo nguồn thu khoảng 4,5 tỉ USD. Trong khi Thái Lan, Indonesia, Singapore đã vượt qua chỉ tiêu về du khách quốc tế mà họ đặt ra thì Việt Nam đứng cuối bảng xếp hạng Chỉ số phục hồi du lịch châu Á sau COVID-19. Tuy nhiên, các nước này sẽ khó mà “với tới” được con số tăng rưởng 8,02% của Việt Nam.
Chính quyền thông báo con số thế nào là chuyện của chính quyền, còn doanh nghiệp và người dân thì cảm nhận rõ nét nhất về sự ngột ngạt mà kinh tế đang tác động lên đời sống của họ. Năm nay là năm đại hạn của giới đại gia. Đỗ Anh Dũng, Trịnh Văn Quyết và Trương Mỹ Lan thì coi như xong, còn Phạm Nhật Vượng vầ Bùi Thành Nhơn v.v… thì đang vật lộn để tồn tại. Các đại gia đã không cắn được miếng nào từ con số 8,02% vậy thì người nghèo có “cạp” được gì trong 8,02% không? Chắc chắn là không. Cả giàu và nghèo đều không cạp được thì rõ ràng đấy là con số ảo.
Vì sao ngoại giao không thèm bận tâm đến… nội giao?
Trích đoạn email của Đại sứ quán Việt Nam tại Đức vừa gửi chị… nào đó và anh… nào đó. (Hình: Trích xuất từ trang Facebook của đại sứ Vu Quang Minh)
Ông Vũ Quang Minh – Đại sứ Việt Nam tại Đức mới đưa lên trang facebook của ông một email của Đại sứ quán Việt Nam tại Đức vừa gửi chị… nào đó và anh… nào đó để cám ơn về… “cuộc trao đổi thẳng thắn, chân thành ngày hôm nay”.
Ông Vũ Quang Minh – Đại sứ Việt Nam tại Đức mới đưa lên trang facebook của ông một email của Đại sứ quán Việt Nam tại Đức vừa gửi chị… nào đó và anh… nào đó để cám ơn về… “cuộc trao đổi thẳng thắn, chân thành ngày hôm nay”. Theo đó… Đại sứ quán đã tiến hành kiểm tra nội bộ. Chúng tôi được biết nhân viên xử lý đã có những ứng xử không phù hợp, đặc biệt trong buổi lễ đăng ký kết hôn là giây phút thiêng liêng và trang trọng đối với mỗi vợ chồng. Tuy có những hoàn cảnh cá nhân đặc biệt do được tin người thân mắc bệnh hiểm nghèo khiến tâm trạng nóng nảy, bất an nhưng cũng không thể biện minh cho việc không tuân thủ quy tắc ứng xử trong giao tiếp với người dân. Đại sứ quán xin gửi lời xin lỗi chân thành tới anh chị và gia đình và sẽ tiến hành các biện pháp xử lý nội bộ nghiêm khắc để không xảy ra các vụ việc tương tự trong thời gian tới...
Ngoài email của Đại sứ quán Việt Nam tại Đức, status mà ông Minh mới đưa lên trang facebook của ông còn đính kèm email của… người trong cuộc – chị… nào đó và anh… nào đó nhấn mạnh… tất cả quá trình trao đổi giữa chúng tôi và Đại sứ quán Việt Nam tại Đức chỉ bằng hình thức trực tiếp qua điện thoại và email. Chúng tôi không làm việc với bất kỳ bên thứ ba nào khác về nội dung này để bảo đảm chất lượng khiếu nại và sự tôn trọng trách nhiệm của Đại sứ quán Việt Nam tại Đức trong việc giải quyết khiếu nại của công dân, đồng thời bày tỏ rằng… lời hứa về việc sẽ tiến hành kiểm điểm nghiêm khắc cán bộ làm sai quy định đã củng cố niềm tin của chúng tôi về sự minh bạch của Đại sứ quán Việt Nam tại Đức, nơi đại diện bảo vệ quyền lợi của công dân Việt Nam tại CHLB Đức và… việc cán bộ giải quyết không chủ động, thiện chí giải thích chi tiết các chi phí dịch vụ phát sinh và có những cư xử không đúng chuẩn mực đã khiến chúng tôi bức xúc, gây ra những vấn đề không đáng có vừa qua nhưng… là công dân Việt Nam, chúng tôi hoàn toàn không mong muốn và gây ra hiểu lầm không đáng có về hình ảnh nói chung của Đại sứ quán(1).
Nếu chỉ đọc status của ông Minh người ta sẽ không biết chuyện gì đã xảy ra và không hiểu tại sao lại thế nhưng nếu chịu khó theo dõi group “Tôi và sứ quán” trên facebook được lập ra như một chỗ để người Việt xa xứ than phiền, cũng như chỉ dẫn nhau cách đối phó với tệ nạn nhũng nhiễu, thái độ “mục hạ vô nhân” của những nhân viên ngoại giao và các cơ quan ngoại giao của Việt Nam ở ngoại quốc thì sẽ tìm ra câu trả lời… Cách nay vài ngày, rất nhiều người trong số gần 50.000 thành viên của “Tôi và sứ quán” sôi lên sùng sục khi nghe một đồng bào cũng xa xứ như họ dùng nickname là Marquina Sergio cùng vị hôn thê lên Đại sứ quán Việt Nam tại Đức để nhận hôn thú mà hồ sơ đăng ký kết hôn đã được gửi trước đó ba tuần và đã được xác nhận là đầy đủ, hợp lệ nên phải cùng hiện diện theo hẹn để ký vào Giấy chứng nhận Đăng ký kết hôn (GCN ĐKKH)…
Tại đó, sau khi in GCN ĐKKH và bảo cả hai cùng ký, một “chú” nhân viên ngoại giao bảo đôi vợ chồng trẻ trả 300 Euros vì chi phí đăng ký là 180 Euros và 100 Euros cho hai bản dịch. Bởi đó là “mức lạm thu tỉ lệ lũy thừa” nên cặp vợ chồng trẻ mới thắc mắc tại sao lệ phí vượt nhiều lần mức quy định… Sau khi ấp a ấp úng viện dẫn đủ loại lý do nhưng cặp vợ chồng trẻ không… thông, đã vậy lại còn đòi biên lai ghi đủ số tiền mà “chú” đòi, “chú” xé vụn hai tờ GCN ĐKKH rồi đuổi cả hai về… Bởi cần GCN ĐKKH, cuối cùng đôi vợ chồng trẻ chấp nhận trả 300 Euros nhưng biên lai chỉ ghi đã thu 63 Euros, chấp nhận khuyến mãi cho khoản thu bỏ ngoài biên lai là vài tờ trích lục GCN ĐKKH đã được dịch và xác nhận… Status của ông Đại sứ Việt Nam tại Đức xuất hiện khi câu chuyện vừa kể trở thành sự kiện khuấy động dư luận trong group “Tôi và sứ quán”: Hàng loạt cán bộ trong ngành ngoại giao đã bị bắt vì lợi dụng dịch bệnh để kiếm ăn. Những tưởng các cán bộ trong ngành ngoại giao phải lấy đó làm bài học. Thế nhưng không, ngựa quen đường cũ, họ vẫn tiếp tục lợi dụng chức vụ của mình để tiếp tục gây phiền hà, sách nhiễu, kiếm ăn trên chính đồng loại của mình… và nạn nhân đột nhiên đục bỏ tự sự của anh ta (2).
***
Van Bu Bi Phan – một trong những thành viên của “Tôi và sứ quán” tham gia bình luận về sự kiện này – nhận định: Có lẽ nhiều người thắc mắc vì sao phí lãnh sự ở các sứ quán Việt Nam ở nước ngoài bị làm giá cao hơn rất nhiều so với mức quy định, ví dụ như miễn thị thực có giá $10 thì được làm với giá $70, $80, $90…Passport lẽ ra $70 thì được thổi lên giá $300, $400, $500 thậm chí hơn $1.000. Nếu công dân thắc mắc tại sao phí cao như vậy thì sẽ bị hành cho lên bờ xuống ruộng, nào là gửi về Việt Nam xác minh, nào là thiếu hồ sơ, nào là hình chụp không đúng,… để rồi vài tháng sau cũng chưa nhận được Passport, miễn thị thựchay các loại giấy tờ khác. Tuy nhiên liên hệ qua dịch vụ, ngoan ngoãn trả giá trên trời thì thủ tục gì cũng nhanh, gọn… Phải làm giá như vậy, phải kiếm tiền bằng mọi giá như vậy thì các đại sứ mới có khả năng đi lại bằng vé hạng thương gia giành cho cả gia đình. Ngay cả pet cưng của cựu Thứ trưởng Ngoại giao, Đại sứ Vũ Quang Minh, cũng được ngồi ghế hạng thương gia từ Việt Nam sang Đức trên chuyến bay của hãng Bamboo Airline vào ngày 11/03/2022(3)…
Không chỉ bình, Van Bu Bi Phan còn cung cấp đường dẫn đến những status mà ông Vũ Quang Minh từng đưa lên trang facebook của ông. Ít nhất cũng có hai status ông Minh khoe con trai và con… mèo có tên là Tenet cùng ngự chung với ông trong khoang thương gia khi đến Đức nhận nhiệm sở. Thậm chí, sau status đầu tiên (4), khi có một số người thắc mắc tại sao ông Minh lại có thể đưa thú cưng của ông vào khoang hành khách trên phi cơ, ông Minh còn viết thêm một status khác, dài hơn có tựa là “Ghen với Tenet, hờn cả bầu trời”, kể rằng Tenet của ông từng là… “Hầu tước xử lý chuột” tại Đại sứ quán ta ở London (2011-2014) và nay… xuất ngoại nhận nhiệm vụ mới tại Đức sau khi ông đã dụng công, dụng lực để có thể đưa Tenet sang Đức. Theo ông Minh, bởi chuyện đi lại hồi tháng 3/2022 vẫn còn nhiều trở ngai do các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh nên… có ai ghen tỵ với Tenet cũng là dễ hiểu vì chính ông cũng… rất ghen tị khi thấy các cô chiêu đãi viên rất chuyên nghiệp, xinh đẹp, dễ thương đi qua lại cúi xuống, ngồi cạnh âu yếm Tenet, khen sao mắt đẹp thế, lông mượt thế, mềm mại và bay ngoan thế(5)…
Sau khi đọc status “Ghen với Tenet, hờn cả bầu trời”, một facebooker tên là Trần Quang Long đã để lại thắc mắc thế này: Kính gửi ông Đại sứ. Chắc chắn phải tốn chi phí để vận chuyển “Tenet”. Xin hỏi, chi phí vận chuyển có phải từ tiền cá nhân hay từ tiền của nhà nước? Cám ơn! Ông Vũ Quang Minh lập tức hồi đáp cho Trần Quang Long: Bạn thân mến, theo bạn thì kế toán nào dám thanh toán từ ngân sách nhà nước việc này ạ? Và nếu bạn muốn tỏ ra quan tâm minh bạch thì bản thân cũng nên đàng hoàng minh bạch face của mình… Tính đến tối 30/12/2022 theo giờ Việt Nam, những status về Tenet trên trang facebook của ông Minh vẫn còn nguyên. Ông Minh chẳng ngại gì khi khẳng định chính ông tự trả cho mèo cưng xuất ngoại nhận nhiệm vụ mới tại Đức. Ai cũng biết thu nhập chính thức của một cán bộ ngoại giao là bao nhiêu nhưng ông Minh không hề ngại khoe ông giàu và tất nhiên Tenet của ông phải hơn hơn xa vô số đồng bào của ông. Vì sao? Câu trả lời nằm ở chỗ chắc chắn đảng ta, nhà nước ta không bận tâm chuyện ông Minh giàu. Chuyện đảng ta, nhà nước ta đã và đang xử lý hàng loạt cán bộ ngoại giao trong thời gian gần đây rõ ràng không phải vì họ giàu bất thường, vì có nhiều tố cáo, thắc mắc mà vì… lý do khác. Ngoại giao luôn liên quan mật thiết đến nội trị mà!
Đây là nhầm lẫn của Mác và Lênin trong học thuyết của các ông. Những nhầm lẫn ấy được truyền bá ra khắp thế giới.
Cơ bản của CNML có ba nội dung chính.1- Triết học Mác – Lê gồm Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử (có tài liệu còn thêm phép biện chứng duy vật). 2- Kinh tế chính trị học Mác – Lê. 3- Chủ nghĩa xã hội khoa học.
Các nội dung ấy được dạy khắp nơi, nhiều cấp. Người dạy, phần nhiều cứ dạy theo tài liệu mà không dám tin chắc vào bài giảng của mình. Tôi từng hỏi vài thầy dạy Mác – Lê, rằng thầy có thật hiểu và thật tin điều mình giảng hay không, thì thường không nhận được trả lời hoặc nói vòng vo. Người học cứ học theo bài giảng, chỉ được thảo luận để nhận thức, không được phản biện. Làm bài thi hoặc kiểm tra phải theo sát từng chữ của tài liệu, nếu thêm hay bớt đi một vài chữ, dù không làm thay đổi nội dung thì vẫn bị điểm kém.
Không phải toàn bộ ba nội dung của CNML đều nhầm lẫn, mà trong mỗi nội dung có những chỗ nhầm hoặc sai, còn phần lớn là chấp nhận được.
Sai cơ bản nhất là phần duy vật trong “Duy vật biện chứng”. Triết học duy vật Mác cho rằng cơ bản của vũ trụ là vật chất, nó có trước và vận động không ngừng. Ý thức, có sau, là sản phẩm bậc cao của vật chất, sinh ra trong não con người. Hiểu như vậy là chưa đúng vì Vũ trụ còn chứa Thông tin, nó không phải là vật chất, cũng không phải do vật chất sinh ra và nhiều nhà khoa học còn cho rằng Thông tin mới là phần cơ bản của vũ trụ.
Rồi những vấn đề liên quan đến ý thức. Nó được sinh ra như thế nào, nhân loại chưa biết, và thực tế thấy rằng có nhiều việc rõ ràng ý thức có trước hành động.
Nhưng sự hiểu biết đúng hay sai về mặt triết học ít quan trọng trong đời sống nhân loại. Điều rất quan trọng và nguy hiểm là khi vận dụng nó vào các đường lối, chính sách trong lãnh đạo và quản trị xã hội. Đó là những việc sau.
Trước hết là việc quá đề cao vật chất, chạy theo, tranh giành quyền lợi vật chất, (Quốc tế ca: Bao nhiêu lợi quyền ắt qua tay mình). Cuộc sống Con Người có nhu cầu vật chất và tinh thần. Nhu cầu vật chất là cần thiết, nhưng nó liên quan tới phần Con nhiều hơn là đến phần Người. Đấu tranh của Mác cho vô sản trước hết là tranh đoạt vật chất để sống (Đấu tranh này là trận cuối cùng – Quyết phen này sống chết mà thôi).
Tiếp theo, duy vật chủ trương vô thần, vô tôn giáo. Điều này làm cho người ta ít quan tâm đến đạo đức, không lo sợ, không chùn tay khi làm việc phi nghĩa, độc ác để kiếm lợi, nghĩ rằng có thể che giấu mọi người, tránh được luật pháp. Mác không biết rằng tôn giáo là một trong những nhu cầu tinh thần của nhân loại, là điều kiện để giúp con người trở thành lương thiện, để giữ gìn và giáo dục đạo đức.
Về khoa học, Mác tin vào thuyết tiến hóa Darwin. Hiện nay thuyết này đang bị đánh đổ (Nhiều ý kiến cho rằng nó đã bị đánh đổ hoàn toàn) (*). Mọi sinh vật được sinh ra từ giống (hạt giống), phát triển nhờ môi trường. Vậy môi trường là rất quan trọng, nhưng quyết định là ở giống. Thế nhưng, Mác đã đề cao môi trường, vì thế mới cho rằng: “Bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội”. Cho như thế không sai, nhưng rất thiếu sót, dẫn đến những kết luận sai lạc về vai trò của các tầng lớp người trong các quan hệ xã hội. CNML cho rằng, công nhân là đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, là giai cấp lãnh đạo. Điều này không đúng với thực tế, là bịa đặt.
Stalin lại quá đề cao vai trò của môi trường theo học thuyết của Missurin-Lưxencô và chống đối học thuyết Mendel về giống (gene), vì cho rằng đó là học thuyết phản động của tư bản. Thực ra Mendel (1822-1884), người phát hiện ra các định luật về di truyền, là cha đẻ của khoa sinh học hiện đại. Stalin đã hãm hại, tù đày nhiều nhà khoa học của Liên Xô vì họ nghiên cứu và truyền bá thuyết Mendel, việc này làm cho khoa sinh học của Liên Xô lạc hậu so với thế giới hàng trăm năm.
Mác cho rằng đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội loài người, phóng đại và khoét sâu lòng hận thù của vô sản đối với người giàu, cho rằng nghèo khổ của vô sản là do bọn nhà giàu gây ra. Trong thực tế hình như chưa bao giờ tư bản xem công nhân là kẻ thù và rất ít cá thể vô sản xem tư bản, địa chủ là kẻ thù cần tiêu diệt, cần đào mồ để chôn, mà chỉ có cộng sản kêu gọi, xúi giục công nhân, bần cố nông làm việc trái đạo Trời như vậy.
Phần lớn tình trạng nghèo truyền đời qua vài thế hệ. Tôi chưa tìm thấy có chỗ nào Mác chỉ ra nguyên nhân cơ bản đầu tiên của tình trạng đó, trong khi ban đầu, ở các bộ lạc nguyên thủy, mọi người bình đẳng trong lao động và thụ hưởng kết quả. Phải chăng ngoài một số ít do tai nạn, rủi ro, còn tuyệt đại đa số trở thành vô sản là do bản thể của họ kém năng lực lao động, trí tuệ phát triển chậm, do lười nhác, thích ăn chơi, từ đó dẫn đến không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động, mà bán rẻ vì chỉ là lao động giản đơn. Có một thời gian dài nhiều người tự hào về xuất thân nghèo hèn, những người ở tầng lớp trên bị bắt buộc phải tôn trọng bần cố nông, chịu để họ làm lãnh đạo. Không có sự kém trí tuệ nào bằng.
Về duy vật lịch sử, Mác cho rằng lịch sử nhân loại cơ bản là sự thay đổi các phương thức sản xuất với khẳng định rằng sau phương thức tư bản là phương thức cộng sản (Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu). Trước đó cần trải qua quá độ Xã Hội Chủ Nghĩa. Đây thực ra là một dự đoán theo lối “ngoại suy”. Từ dự đoán đến khẳng định phải qua kiểm nghiệm chặt chẽ, nghiêm túc. Thế nhưng Mác không thể kiểm nghiệm và những người marxit, đáng ra phải làm kiểm nghiệm thì không làm mà khẳng định luôn. Người có trí tuệ không hành động như thế. Dự đoán đó đã sụp đổ, nhưng những người tin mù quáng vẫn cố bào chữa, níu kéo một cách đần độn.
Một số người quá tin vào Mác, cho rằng ông đã phát hiện ra rằng “Quan hệ sản xuất phải phù hợp với lực lượng sản xuất” và cho đó là một quy luật quan trọng. Vì lực lượng phát triển nhanh nên đến một lúc sự phù hợp bị phá vỡ. Con người phải can thiệp để tạo ra sự phù hợp mới.
Tôi đoán, hình như Mác đưa ra ý kiến trên nhằm tạo cớ để làm cách mạng vô sản, nhằm xóa bỏ phương thức tư bản. Sau khi Mác chết thì người ta mới thêu dệt điều đó thành quy luật. Tôi chưa đủ chứng cứ để đánh đổ toàn bộ ý kiến của Mác và những người theo ông, chỉ xin nêu vài nghi ngờ.
Lực lượng sản xuất thuộc lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật. Quan hệ sản xuất thuộc ý chí con người. Sự phù hợp giữa hai yếu tố này xảy ra như thế nào hình như chưa được bàn đến. Tại sao cần phù hợp chưa được giải thích. Từ PHẢI trong cụm “Phải phù hợp” hoặc “Phải thống nhất” là khách quan hay là do ý chí con người. a) Nếu là do khách quan thì mới có thể nói là quy luật và chúng phải tự động biến đổi để giữ sự phù hợp. b) Nếu do ý chí con người, cần có sự can thiệp thì đó không phải là quy luật.
Nên chăng sửa lại như sau: Khi quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất thì sản xuất phát triển, còn khi không phù hợp thì xảy ra trì trệ.
Tôi nghi ngờ sự phù hợp này do Mác bất chợt nghĩ ra, chưa được suy xét kỹ. Tôi cho rằng với một lực lượng giống nhau có thể chấp nhận các quan hệ khác nhau, đồng thời một quan hệ có thể ứng với các lực lượng. Hơn nữa, đây không phải là một phát hiện do tìm tòi, khảo sát nghiêm chỉnh mà cũng mới chỉ là dự đoán mà thôi. Không phải Mác phát hiện ra, mà là Mác đoán như thế. Trong lịch sử cũng đã có những dự đoán (tiên tri) được kiểm chứng, còn dự đoán của Mác chỉ mới dừng lại ở mức đoán mò.
Việc Mác tìm ra “Giá trị thặng dư” để giải thích tư bản bóc lột công nhân như thế nào là một ngụy biện đã được nhiều nhà nghiên cứu vạch ra, đó là Mác mới chỉ dùng một phần của chi phí, đã bỏ qua một phần khác là công sức của nhà tư bản trong tổ chức, điều hành, quản lý, công sức của các nhà sáng chế, phát minh, và còn có sự lớn lên của đồng tiền trong quá trình vận động.
Có thể thông cảm khi Mác không thấy phần còn lại, vì ông là nhà lý thuyết suông, chủ yếu đọc tài liệu trong thư viện. Đáng phê phán, chỉ trích nếu ông biết mà bỏ qua.
Lênin đã nói về vai trò nhà nước của giai cấp: “Nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy trấn áp của một giai cấp này đối với giai cấp khác”.
Quan niệm như vậy khác xa với rất nhiều nhà nước đã và đang tồn tại. Khi học CNML, người ta vẫn dạy và học như thế nhưng trong thực tế hình như việc trấn áp chỉ xảy ra đối với một số cá nhân, còn nhà nước phải làm nhiều việc về kinh tế, văn hóa, giáo dục, công ích, điều hòa quyền lợi giữa các tầng lớp, làm đối ngoại, gìn giữ biên cương v.v… Nhà nước giai cấp của Lênin là một quái thai không nên có.
CNML cho rằng trong tương lai, chế độ vô sản chuyên chính sẽ tạo lập ra được phương thức sản xuất cộng sản “Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”. Đó chỉ là một lời đoán, một mơ ước hão huyền, chứ không phải là lời tiên tri. Những người Marxit ca ngợi Mác là tiên tri thiên tài, nhưng có nhiều khả năng ông chỉ là một người hoang tưởng, rằng phương thức sản xuất và chế độ cộng sản chỉ là cái bánh vẽ để nhìn ngắm từ xa.
7. Lời cuối
Những nhầm lẫn về CS và Mác Lê có rất nhiều vì rất đông người đã bị tẩy não, bị nhồi sọ từ rất bé, lúc chưa có trí khôn, lúc chưa biết suy nghĩ. Lúc còn quá bé, hễ nghe được cái gì từ người hướng dẫn là nhận rằng đúng và ghi nhớ suốt đời. Phải là những người có bản lĩnh cao, khi lớn lên mới đủ trí tuệ và nghị lực xem xét lại những nhận thức từ bé và mạnh dạn từ bỏ những giáo điều sai lầm. Đây là điều mà hình như các nhà tâm lý học phục vụ cho Hitler phát hiện ra và ứng dụng rất có hiệu quả, đã tạo được những đội quân tuyệt đối trung thành với thủ lĩnh. Tuyên truyền của Liên Xô học được từ người Đức và dạy cho người Việt. Tuyên giáo Việt đã vận dụng khá thành công.
Rất nhiều người Việt bị nhầm từ rất bé. Lớn lên một số không nhỏ nhận ra sự khác biệt giữa thực tế và những điều đã được học, nhưng lại được tuyên giáo của đảng bày cho cách suy nghĩ lạc hướng, cho rằng chủ nghĩa đúng, đường lối vẫn đúng, chỉ vì người thực hiện thoái hóa, biến chất, tự diễn biến, tự chuyên hóa nên làm sai mà thôi.
Rất khó có thể kể ra hết các nhầm lẫn và dối trá trong cách mạng vô sản, trong chuyên chính vô sản. Tôi chỉ nhặt ra vài điều để chứng tỏ rằng một số sai lầm từ gốc rễ và lời bào chữa cho rằng chủ nghĩa và đường lối vẫn đúng, chỉ có cán bộ làm sai là một ngụy biện nguy hiểm.
Trước đây tôi hoạt động, nghiên cứu và giảng dạy trong lĩnh vực Kết cấu Xây dựng. Chỉ mới quan tâm lĩnh vực chính trị trong khoảng hai chục năm gần đây. Vì vậy, sự hiểu biết có thể chưa thật đầy đủ. Rất mong nhận được sự chỉ giáo của các vị phản biện, đặc biệt các vị có hiểu biết sâu sắc.
Để kết thúc xin kể chuyện vui về NGÀY MAI: Quán phở treo thông báo, ghi rõ: NGÀY MAI ĂN PHỞ KHÔNG CẦN TRẢ TIỀN. Hôm sau nhiều người đến ăn, ai cũng bị đòi tiền. Khách chỉ vào thông báo. Chủ giải thích rằng hôm nay ăn vẫn phải trả tiền vì chưa phải ngày mai.
Ngày mai, tưởng là hôm sau, rất gần, nhưng không bao giờ đến được.
_______
(*) Ghi chú của Tiếng Dân: Ngược lại với ý kiến của tác giả, trên thực tế, thuyết tiến hóa Darwin đã được cộng đồng khoa học công nhận rộng rãi bởi nó được chứng minh từ quan sát thực tế, từ sự không hoàn hảo trong các sinh vật ghi lại nguồn gốc chung trong lịch sử (những thay đổi được quan sát thấy ở các sinh vật qua các thế hệ kế tiếp, đối với nguồn gốc của chúng từ một tổ tiên chung và ở cấp độ kỹ thuật đối với sự thay đổi tần số gien theo thời gian)…
Các nhà khoa học chấp nhận thuyết tiến hóa khi trên thực tế có nhiều bằng chứng về sự tiến hóa đã được khám phá khi nó đang diễn ra trong tự nhiên, chẳng hạn như sự xuất hiện các loài côn trùng mới có thể kháng thuốc trừ sâu; hay như như việc sinh ra các biến thể mới của các loại virus; cũng như sự khám phá ra gien di truyền của ngành di truyền học…
Dù sao ‘phê phán dân sự hóa quân đội’ cũng có vài điểm… ‘đúng’
Năm nay, nhân dịp kỷ niệm 78 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2022), tờ QĐND tiếp tục “phê phán quan điểm đòi ‘dân sự hóa’ QĐND Việt Nam” (1) vì… ý tưởng “dân sự hóa” quân đội là thủ đoạn tinh vi của các thế lực thù địch khiến không ít người nhẹ dạ, cả tin tán thành và do vậy phải… nhận diện kịp thời, phê phán sự phi lý, phản động của quan điểm này để bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng.
Theo QĐND thì những ý tưởng như… quân đội không có bản chất giai cấp, phải ‘trung lập về chính trị’ và phải được ‘dân sự hóa’ triệt để là một… thủ đoạn nham hiểm nhằm tạo ra sự dao động về tư tưởng, mất phương hướng chính trị, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, vô hiệu hóa quân đội của các quốc gia XHCN và tại Việt Nam, ý tưởng cũng như sự tán thành những ý tưởng này nhằm xóa bỏ quyền lãnh đạo của đảng đối với QĐND Việt Nam.
Tờ QĐND nhấn mạnh, những suy nghĩ, bàn luận quanh việc… một số nhà nước tư sản luậthóa chuyện ‘dân sự quản lý quân sự’, táchquân đội khỏi sự ảnh hưởng, chi phối của đảng phái là hoàn toàn không đúng trong thực tế. Tờ QĐND đã lấy quân đội Mỹ để minh họa cho điều mà cả đảng CSVN lẫn đội ngũ QĐND Việt Nam đang cố giữ lấy, đó là… Bất cứ quân đội nào trong lịch sử cũng mang bản chất giai cấp sâu sắc. Giai cấp thống trị nàocũng nhắm tới việc duy trì sự vững mạnh về chính trị của quân đội, bảo đảm phương hướng phát triển và hoạt động của quân đội phù hợp với lợi ích của giai cấp đó bằng cáchtruyền bá hệ tư tưởng của nó cho quân đội qua hệ thống giáo dục có tính chất áp đặt về tư tưởng cho binh lính, thực hiện triệt để đường lối tổ chức, phương hướng hoạt động và kiểm soát mọi hoạt động của quân đội vànhững điều này đã được ghi nhận trong điều lệnh quân đội Mỹ, quân đội Mỹ duy trì cả một bộ máy tuyên truyền gọi là “cơ quan thông tin và giáo dục quân đội” để tiến hành công tác tư tưởng.
Chuyện tiếp tục “phê phán dân sự hóa quân đội” của tờ QĐND theo kiểu như vừa lược thuật có một điểm… “đúng”: Đó là giới lãnh đạo QĐND Việt Nam nói riêng và giới lãnh đạo đảng CSVN nói chung vẫn tiếp tục… bịa đặt, nói lấy được để gạt đồng chí, đồng đội, đồng bào. Quân đội Mỹ đã, đang và sẽ còn “tiến hành công tác tư tưởng” để lực lượng này phục vụ “giai cấp thống trị”? Điều lệnh của quân đội Mỹ thật sự nhắm tới việc áp đặt về tư tưởng này?
Tạm dùng dẫn chứng tiêu biểu nhất, ngắn gọn nhất, chứng minh QĐND ngoa ngôn là một chỉ thị trên website của Bộ Quốc phòng Mỹ hồi tháng 9/2020 – ba tháng trước khi dân chúng Mỹ bỏ phiếu chọn Tổng thống Mỹ của nhiệm kỳ này và chọn một số đại diện dân cử cả trong Thượng viện lẫn Hạ viện của liên bang, các tiểu bang, quận hạt,… Trong tin vừa đề cập, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ lúc đó nhắc lại qui định của luật pháp Mỹ và yêu cầu tất cả quân nhân cũng như nhân viên dân sự làm việc cho Bộ Quốc phòng Mỹ phải lưu ý: Trước hết các quân nhân Mỹ và nhân viên dân sự của Bộ Quốc phòng Mỹ nên cố gắng thực hiện quyền của họ – tự chọn người đại diện cho chính họ. Tuy nhiên các thành viên hiện dịch phải nhớ họ không được tham gia vào bất kỳ hoạt động nào để bày tỏ sự ủng hộ hay vận động ủng hộ bất kỳ đảng nào. Đạo luật có tên The Hatch Act ban hành năm 1939 vẫn còn hiệu lực không chỉ trên các thành viên Bộ Quốc phòng Mỹ mà còn chi phối cả nhân viên trong bộ máy công quyền liên bang(2).
Nếu từ luật pháp đến thực tế đều không có thì tờ QĐND tìm ở đâu ra những thứ giúp cơ quan ngôn luận của Quân ủy Trung ương mạnh miệng, lớn tiếng khẳng định: Quân đội Mỹ cũng chỉ phục vụ “giai cấp thống trị” như QĐND Việt Nam? Có cật lực đào xới trên văn bản hoặc Internet để tìm thông tin phục vụ cho lối biện luận – quân đội luôn luôn là lực lượng của “giai cấp thống trị”, phục vụ “giai cấp thống trị” và quân đội Mỹ cũng thế – chắc chắn sẽ chỉ thấy một số scandal về chuyện có quân nhân hay cựu quân nhân nào đó dại dột mặc quân phục đến tham dự các cuộc vận động tranh cử và bị “xử lý nghiêm khắc” bởi vi phạm luật pháp liên bang và quân đội. Hay chuyện dân chúng thắc mắc tại sao lại chọn tướng James N. Mattis làm Bộ trưởng Quốc phòng khi thời hạn nghỉ hưu (2013) chưa tròn bảy năm, cũng vì vậy Quốc hội Mỹ phải bỏ phiếu để miễn trừ giới hạn này. Trong bảy thập niên, Quốc hội Mỹ chỉ chấp nhận miễn trừ giới hạn như vừa kể hai lần. Lần trước là 1950 – bỏ phiếu miễn trừ cho tướng George C. Marshall (3)…
***
Ngoài chuyện “đúng” là… bịa đặt, nói lấy được để gạt đồng chí, đồng đội, đồng bào, khi biện luận nhằm “phê phán dân sự hóa quân đội” kiểu như… về bản chất, QĐND Việt Nam là quân đội kiểu mới, công cụ bạo lực vũ trang của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, tờ QĐND – cơ quan ngôn luận của Quân ủy Trung ương – còn “đúng” ở một điểm khác: Khẳng định QĐND Việt Nam chỉ và sẽ luôn phục vụ giai cấp thống trị, bảo vệ giai cấp thống trị. Về lý thuyết, giai cấp thống trị là liên minh giữa công nhân và nông dân nhưng trên thực tế công nhân và nông dân thê thảm ra sao thì ai cũng biết bất kể hai giai cấp này luôn được sử dụng làm bung xung cho đảng CSVN – “giai cấp” thực sự giữ vai trò “thống trị”. Công nhân nào, nông dân nào muốn “phong tướng” đại trà để “anh em” khỏi… “tâm tư” (4)mà “giai cấp thống trị” vẫn đáp ứng, thậm chí còn làm ngơ, tạo điều kiện cho “anh em” thi nhau mang đủ thứ ra bán để bảo kê cho “giai cấp thống trị”?