Bài đăng nổi bật

Việc Cuba thả tù nhân không bao gồm những người chỉ trích

  Việc Cuba thả tù nhân không bao gồm những người chỉ trích. Chính phủ nên trả tự do vô điều kiện cho những người bị giam giữ vì bất đồng ch...

Thứ Ba, 1 tháng 12, 2020

Mục đích chiến dịch pháp lý “zombie” của Donald Trump

 

Mục đích chiến dịch pháp lý “zombie” của Donald Trump

Hoàng Việt

30-11-2020

Ngày 23/11 dường như đã khép lại những nỗ lực không mệt mỏi của Tổng thống Mỹ đương nhiệm Donald Trump trong việc tung ra các vụ kiện pháp lý nhằm thách thức kết quả bầu cử tổng thống Mỹ hôm 3/11, sau khi chính quyền liên bang thừa nhận ông Joe Biden là tổng thống đắc cử và Trump đã chấp nhận hợp tác trong quá trình chuyển giao quyền lực.

Tuy nhiên, trong một bài viết, hãng tin AP nhận định rằng chiến lược pháp lý này của Trump là nhằm giúp ông duy trì được nền tảng ủng hộ của mình cho đến năm bầu cử 2024.

Mặc dù vậy, ông Trump vẫn tung ra những tuyên bố vô căn cứ, cho rằng tồn tại một sự gian lận quy mô lớn đằng sau sự thất bại của ông. Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ 2020 đang trở thành một cuộc bầu cử “zombie” mà Trump kiên quyết không muốn là “thây ma”. Bất chấp hàng chục thất bại pháp lý và bị tòa án bác đơn kiện, đội ngũ tranh cử của Trump vẫn tiếp tục đệ những đơn kiện mới với những cáo buộc gian lận vô căn cứ mà không đem lại hy vọng thành công.

Nhưng đó là điểm cần lưu ý. Các đồng minh của Trump đều kín đáo thừa nhận rằng chiến lược của Trump không nhằm thay đổi kết quả bầu cử, song dựng lên những tuyên bố mờ ám về cuộc bầu cử tổng thống này nhằm reo giắc sự hoài nghi trong lòng dân chúng, đồng thời duy trì được nền tảng ủng hộ của mình ngay cả khi chiến thắng rõ ràng thuộc về Biden và không có bằng chứng nào về gian lận bỏ phiếu quy mô lớn.

Franita Tolson, Giáo sư Trường Luật tại Đại học Southern California bình luận: “Zombie là những thây ma chuyển động quanh người sống và cuộc chiến pháp lý này của Trump cũng giống như vậy. Tất cả những vụ kiện này về cơ bản là những thây ma đang đi lại”.

Nhiều nghị sĩ đảng Cộng hòa lại “vào hùa” với chiến lược kiện tụng nói trên của Trump, trong đó đáng chú ý nhất là lãnh đạo phe đa số tại Thượng viện Mitch McConnell. Lý do họ nương theo Trump với những vụ kiện tụng này là vì họ sẽ đối mặt với một thử thách duy trì quyền lực của mình tai hai cuộc bỏ phiếu bổ sung tại bang Georgia vào tháng 1/2021.

Thomas Mann, học giả cao cấp tại Viện nghiên cứu quản trị chính phủ thuộc Đại học California, nhận định: “Những gì đang diễn ra chẳng khác nào một cuộc đảo chính lịch sự. Cuộc đảo chính này có thể kết thúc sớm nếu phe Cộng hòa thừa nhận kết quả bầu cử”.

Theo Reuters, hiện chỉ có một số ít nghị sĩ Cộng hòa thừa nhận chiến thắng của Biden và tỏ thiện chí hợp tác với chính quyền mới của Biden. Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa Roy Blunt nới với Reuters: “Chúng tôi sẽ hợp tác với chính quyền Biden, một chính quyền có khả năng xảy ra, trong cả quá trình chuyển giao và cho đến khi nhận chức vì chúng tôi sẽ tiếp tục hướng về phía trước”.

Một ngày sau khi Trump tuyên bố chính quyền của ông sẽ bắt đầu làm việc với đội ngũ của Biden, đội ngũ tranh cử của Trump vẫn đệ thêm 3 đơn kiện nhằm cản trở 2 bang chiến địa chứng thực chiến thắng của Biden. Theo hãng tin Reuters, Trump còn tận dụng cuộc phỏng vấn với Fox News nhằm lập lại những cáo buộc về gian lận bầu cử không có căn cứ. Cho đến nay, đội ngũ pháp lý và tranh cử của Trump đã thất bại với hàng chục đơn kiện về kết quả bầu cử mà họ cho là có nhiều sai phạm. Reuters nhận định rằng Trump giờ đây mất phương hướng cho hành động của mình.

Trả lời hãng tin AP, Lisa Marshall Manheim, Giáo sư Trường Luật thuộc Đại học Washington bình luận: “Tiến trình pháp lý dường như đang diễn ra theo đúng cách, song đội ngũ tranh cử của Trump tỏ rõ mong muốn hủy hoại hệ thống pháp lý này bất cứ khi nào có thể”.

Reuters cho biết Trump tuyên bố ông sẽ không thay đổi quyết định kiện tụng của mình trong vòng 6 tháng tới. Trong khi đó, đội ngũ cố vấn của Trump cho biết ông đã thảo luận về việc khởi động một kênh truyền hình hoặc một công ty truyền thông xã hội để duy trì việc “đánh bóng” tên tuổi của ông cho đến trước khi diễn ra chiến dịch tranh cử 2024. Tin tức cho hay luật sư của Trump là Rudy Giuliani đã phát biểu trên kênh One America News Network rằng đội ngũ pháp lý của Trump vẫn đang tính toán xem có thể đưa vụ kiện nào lên Tòa án Tối cao.

Tuy nhiên, Giáo sư Jessica Levinson, thuộc Trường Luật Loyola tại Los Angeles, cho rằng Tòa án Tối cao Mỹ khó có thể làm thay đổi kết quả bầu cử theo chiều hướng mong muốn của Trump và rốt cục ông ấy dường như sẽ chấp nhận thực tế đó.

Reuters lưu ý rằng Trump vẫn tiếp tục những nỗ lực bất chấp Joe Biden đã lên danh sách cho những vị trí hàng đầu trong chính quyền mới của mình. Theo tờ Wall Street Journal hôm 29/11, Biden đã chọn thêm hai nhân vật đứng đầu đội ngũ cố vấn kinh tế của mình cùng với những vị trí chủ chốt trong đội ngũ truyền thông.

AFP cho rằng cho dù Trump thừa nhận thất bại hay không thì cử tri đoàn chắc chắn sẽ thông qua những bản đề nghị chính thức về việc xác nhận Biden là người đắc cử trong cuộc họp cử tri đoàn vào ngày 14/12 tới và Biden sẽ tuyên thệ nhậm chức vào ngày 20/1/2021.

Quan điểm về cải cách chính trị thông qua công cuộc phòng chống tham nhũng

 

Quan điểm về cải cách chính trị thông qua công cuộc phòng chống tham nhũng

Viet-studies

Lê Thân, Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng

29-11-2020

Tình trạng tham nhũng ở VN tính đến nay đã trở thành trung tâm sự chú ý của tất cả mọi người dân và cũng là mối bận tâm lớn nhất của Đảng và nhà nước. Tham nhũng đã trở thành quốc bệnh quan hệ đến tồn vong của chế độ thì chống tham nhũng đương nhiên cũng phải được coi là quốc sách hàng đầu, cần đến sự nỗ lực đồng bộ của toàn đảng, toàn dân. 

Từ 20 năm nay, nhiều luật lệ, chỉ thị về phòng chống tham nhũng đã được ban hành, cùng với biết bao tiếng nói đóng góp của các vị nhân sĩ trí thức, nhưng thực tế quốc bênh tham nhũng chẳng được đẩy lùi mà còn có biểu hiện ngày càng tăng năng đến mức vô phương cứu chửa.

Tình trạng các giải pháp đã đưa ra hoặc đã thực thi đều tỏ ra vô hiệu kể cả việc “đốt lò”, chúng tôi thiết tha mong muốn xã hội ổn định, nền kinh tế đất nước phát triển, nhân dân được hạnh phúc, xin nêu ra sau đây một số quan điểm và giải pháp phòng chống tham nhũng bằng một lộ trình hết sức thực tế và có tính khả thi.

Những ý kiến nêu ra trong bản kiến nghị này có khả năng gây tranh luận, nhưng chúng tôi vẫn mạnh dạn nêu lên để rộng đường tham khảo.

***

Tham nhũng ở nước ta đã trở thành quốc nạn là một thực tế hiển nhiên bất khả tranh luận mà ai ai cũng phải thừa nhận. Càng đáng ngại hơn khi kết quả của những nỗ lực chống tham nhũng do Đảng và Nhà nước phát động ít nhất từ gần nửa thế kỷ nay cho thấy rất hạn chế nếu chưa muốn nói hoàn toàn vô hiệu: tham nhũng chẳng những không giảm bớt mà còn có chiều hướng gia tăng về quy mô, tính chất và mức độ phổ biến, biểu hiện một cách tinh vi thiên hình vạn trạng vượt khỏi tầm kiểm soát của cả hệ thống chính trị, dẫn đến thực tế số cán bộ tham nhũng từ trung ương đến địa phương bị phát hiện vào tù ngày) đông đảo, không kể những trường hợp “chưa bị lộ”, đã khiến cho dân chúng ban đầu càng hi vọng bao nhiêu thì về sau lại càng thất vọng bấy nhiêu, kể cả chiến dịch “đốt lò” mô phỏng theo mô hình “đả hổ diệt ruồi” của Trung Quốc!

Ở nước ta cũng như tại một số nước Châu Á đang phát triển, ngoài “tham nhũng đất đai”, “tham nhũng dự án” rất phổ biến và nổi trội, với những mối lợi cực kỳ hấp dẫn, còn có nạn “tham nhũng quyền lực”, “tham nhũng chính trị”, mua quan bán chức, điều kiện để thiểu số nhóm lợi ích thủ đắc các quyền lợi vật chất béo bở, với những khối tài sản của chìm của nổi kếch xù và có cuộc sống còn hơn cả đế vương thời phong kiến. Tình trạng này đặc biệt đúng với trường hợp của Việt Nam và Trung Quốc, hai nước có thể chế chính trị gần giống hệt như nhau.

Trong thực tại Việt Nam, nhìn đâu cũng thấy có nạn tham nhũng, từ tham nhũng lớn đến tham nhũng vặt, “ăn không từ một thứ gì” (lời bà nguyên phó chủ tịch nước NTD). Tình trạng ác hóa đến nỗi, có lần cố Tổng bí thư Đỗ Mười phải than: “Như hiện nay, xin đi học, hay vào bệnh viện đều phải có… tí phong bì”. Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt nói về hiện tượng thoái hóa của một số cán bộ nhà nước: “Nếu có phát hiện thì… hi sinh đời bố, củng cố đời con!”… Cho nên có thể nói, tham nhũng đã và đang trở thành tập tính của toàn thể giới cán bộ đảng viên đang nắm giữ các chức quyền ở mọi ngành hoạt động trong bộ máy Đảng-Nhà nước, diễn ra khắp các cơ quan đoàn thể từ hành chính sự nghiệp đến công an, bộ đội, tư pháp, các ngành hoạt động tri thức về văn hóa-giáo dục-y tế-xuất bản, thâm nhập cả vào trong các hội từ thiện, các chốn chùa chiền, và không loại trừ kể cả những cơ quan trung ương chuyên biệt được đặt ra để phòng chống tham nhũng, … vì thế có khả năng lan tỏa sâu rộng vào quảng đại quần chúng trở thành một hiện tượng quen thuộc hầu như có thể gọi là tập tính của xã hội người Việt.

Tham nhũng tràn lan không chỉ làm mất lòng tin của dân chúng vào các nhà đương cuộc và chế độ chính trị, mà còn làm cho nhân dân điêu đứng, dân khí bại hoại, quốc lực hao mòn, bộ máy hành chính trở nên tê liệt, mất kiểm soát và bất lực, trên bảo dưới không nghe, mọi ý đồ tốt đẹp của quốc gia về kinh tế-xã hội đều bị phá sản, dẫn tới hậu quả tình trạng phân hóa giàu nghèo và bất công xã hội ngày càng trở nên sâu sắc, các tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự, lừa đảo cũng gia tăng theo; đạo đức xã hội suy thoái, quan hệ giữa người và người bớt lành mạnh đi, niềm tin vào tương lai cuộc sống của dân chúng bị xói mòn đến mức gần như cạn kiệt.

Với tình trạng quốc bênh tham nhũng trầm trọng và càng chống càng tăng như hiện nay, nước Việt Nam mà đại diện chịu trách nhiệm là bộ máy cầm quyền hiện hữu, đang giống hệt một con bệnh trầm kha tìm cách kéo dài sinh mệnh bằng thuốc để chờ ngày kết thúc sự sống khi thuốc uống đã không còn hiệu lực. Nói theo cách diễn đạt đông y, phải dùng cả thuốc “bổ” lẫn thuốc “tả”, và những vị thuốc trung tính: thuốc bổ là những lời động viên học tập theo lời dạy đạo đức của lãnh tụ tiền bối, đã tỏ ra hoàn toàn vô hiệu trước một cơ địa đã rệu rã không còn khả năng tiếp nhận; thuốc trung tính có thể ví như những đạo luật, nghị định, chỉ thị về phòng chống tham nhũng, kiểm kê tài sản hoặc những bộ quy tắc ứng xử dành cho cán bộ công nhân viên chức các cấp mà trên thực tế đã trở thành những mớ giấy lộn không thể áp dụng vì cũng không hợp cơ địa; thuốc “tả” có tính công phạt mạnh mang nhiều độc chất để cứu mạng bệnh nhân vào giờ chót, tương đương với biện pháp bắt bớ “đốt lò” trên diện rộng, nhưng lại là con dao hai lưỡi, có khả năng dẫn người bệnh càng đi nhanh đến chỗ tử vong.

Trong cơn thập tử nhất sinh, cả bệnh nhân lẫn thầy thuốc đều trở nên mất bình tĩnh, tối mắt không còn thấy con đường chữa trị hợp lý và có thể sẽ làm liều bằng cách cho thuốc ẩu, nếu so sánh với hành động chính quyền của nhà cầm quyền hiện tại thì đó chính là cách họ dùng lực lượng công an và hệ thống tòa án để trấn áp, cầm tù những người dân khiếu kiện nạn tham nhũng đất đai, như đã áp dụng trong trường hợp huy động lực lượng cả ngàn quân công an trấn áp và tiêu diệt công dân/ đảng viên 84 tuổi đời 56 tuổi đảng Lê Đình Kình trong vụ án Đồng Tâm hiện vẫn còn đang gây chấn động dư luận cả trong lẫn ngoài nước. Một cái cách thô bạo chà đạp dân chủ dân quyền, đứng trên luật pháp và công luận mà người ta cho rằng chính là biểu hiện cơn giãy chết của một chế độ chính trị đang suy tàn tự đào mộ chôn mình vì nó đã dám chống lại nhân dân trong nước cùng tất cả những người yêu chuộng công bằng trên toàn thế giới.

Trên thực tế hiện nay, “đốt lò” đã tỏ ra không hiệu quả, vì muốn đốt lò bắt buộc phải dùng các lực lượng công an, thanh tra, kiểm tra, viện kiểm sát, tòa án… trong khi chính những lực lượng này do Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) độc tài toàn trị chỉ đạo đứng trên luật pháp trong một nền tư pháp không độc lập lại là những ổ vi trùng tham nhũng đôi khi còn nặng hơn cả những đối tượng tham nhũng mà nó muốn tiêu diệt, biến công cuộc chống tham nhũng trở thành cái cớ hoặc để tự nâng cao uy tín cá nhân của người chỉ huy trước một đám quần chúng hãy còn hồn nhiên cả tin, hoặc để thanh trừng nội bộ trong cuộc tranh giành quyền lực quyết liệt hình thành cục diện chính trị quả đầu thu tóm quyền lực vào tay một số ít người hoặc nhóm người trong giới chóp bu để chia quyền tham nhũng, điều đặc biệt lộ rõ từ Đại hội XII ĐCSVN năm 2016 và nhất là trước thềm Đại hội XIII dự kiến sẽ diễn ra vào đầu năm sau, 2021.

Chống tham nhũng luôn vướng phải cái vòng luẩn quẩn: muốn làm được hiệu quả cần phải có một chính phủ trong sạch lành mạnh, trong khi chính phủ đó đã và đang bị nghiền nát do chính bệnh tham nhũng, trở nên mất kiểm soát và thụ động bất lực. Khá đông trong thành phần cán bộ đảng viên có chức có quyền thật ra họ chẳng muốn cho tình trạng hỗn loạn về luật pháp, hành chính sớm được chấm dứt, để đục nước béo cò, trong chừng mực cho phép là Đảng và chính phủ đó của họ vẫn chưa bị sụp đổ trước khi họ còn có thể kiếm chác được, như thực tế trong vài chục năm nay đã từng chứng tỏ. Chống tham nhũng rốt cuộc vì thế chỉ trở thành khẩu hiệu suông để tuyên truyền chính trị, vì thực tế từ khi “đổi mới” năm 1986 với Đại hội Đảng VI trở đi, tham nhũng trở thành đại dịch, năm sau cao hơn năm trước. Đến nay, theo sự xếp hạng của Tổ chức Minh bạch Quốc tế năm 2019, Việt Nam đạt vị trí số 2 trong 5 quốc gia tham nhũng nhất thế giới, chỉ đứng sau Ấn Độ.

Nguyên nhân chủ yếu của quốc nạn tham nhũng, người ta đã phân tích nhiều và ai cũng biết, đó là do lỗi hệ thống, trong điều kiện ĐCSVN độc quyền toàn trị, triệt tiêu dân chủ.

Vì không có dân chủ nên thực tế cho thấy, công an, tòa án, quốc hội, các ban thanh tra (Đảng, Chính phủ), nhà tù, … đều không chống được tham nhũng, do tất cả các định chế/ tổ chức này đều một giuộc như nhau, không ai độc lập với ai, và đều nằm dưới sự kiểm soát chỉ đạo của một đảng chính trị độc quyền: Tuy Điều 4 Hiến pháp 2013 có nêu rõ “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” nhưng thực tế Đảng lại đứng trên cả nhân dân và luật pháp, làm méo mó công lý, như hàng chục vụ xét xử tham nhũng lớn đã từng chứng tỏ.

Trước tình trạng bi thảm luẩn quẩn tiến thối lưỡng nan này của đất nước, rất nhiều người bức xúc nhưng bi quan cho rằng như thế thì đã hỏng bét tuyệt đối, chống tham nhũng là “kế bất khả thi”, chỉ còn cách duy nhất kiên nhẫn chịu đựng chờ cho Đảng CS toàn trị ở Việt Nam sụp đổ, và nếu cứ khư khư không chịu sửa đổi thì trước sau gì nó cũng sẽ sụp đổ, vấn đề chỉ còn là thời gian. Đây là một loại ý kiến rất đáng được chú ý, không thể bỏ qua, và dường như không ít đảng viên ĐCSVN cũng đã mường tượng ra cái kết quả bi thảm tương tự trong tương lai, nên họ nhắc nhở nhau phải đề cao cảnh giác nguy cơ, tìm cách cứu Đảng (viết ra trong các bài báo trên tạp chí Cộng Sản, tạp chí Xây Dựng Đảng…, hoặc nói chuyện trong các buổi sinh hoạt cán bộ chủ chốt…), và một số người trong họ khi có điều kiện cũng đã cho con em đi học nước ngoài (dặn ở luôn bên đó đừng về…), gởi tiền ngân hàng nước ngoài, mua nhà nước ngoài, mua quốc tịch nước ngoài…, dợm chân tháo chạy một khi Đảng CS thật sự sụp đổ.

Quan điểm của chúng tôi không phủ nhận hoàn toàn loại ý kiến như vừa nêu trên, nhưng có một hướng nghĩ và niềm tin khác. Căn cứ vào thực tế lịch sử, nền chính trị và thực tiễn xã hội đặc thù Việt Nam, chúng tôi cho rằng công cuộc chống tham nhũng để mở đường cho đất nước tiến lên là còn có tính khả thi và vẫn phải do ĐCSVN hiện tại thống nhất giềng mối chủ trì thực hiện, với hi vọng thành công rất lớn, và với điều kiện phải có một quyết tâm chính trị lớn tương đương, bằng con đường cải cách thể chế (gọi tắt “cải chế”) theo hướng dân chủ hóa đời sống xã hội.

Trong bản tuyên bố quan điểm này, chúng tôi thấy không cần mất thì giờ đưa ra những giải pháp chống tham nhũng cụ thể, vì những giải pháp như vậy đã được bàn thảo quá đầy đủ trên báo chí, trong bài viết của các vị nhân sĩ trí thức tâm huyết, trong các cuộc hội thảo ở các cơ quan báo chí, trường đại học, viện nghiên cứu, và nhất là tại diễn đàn Quốc hội, từ suốt mấy chục năm nay, mà các nội dung cơ bản cũng đã được thể hiện phần lớn trong Luật phòng chống tham nhũng 2018, trong các nghị quyết, nghị định, quyết định, chỉ thị liên quan vấn đề do Đảng-Nhà nước ban hành rồi. Vấn đề cốt lõi và có tính quyết định là làm sao phải thực hiện cho đúng những điều đã ghi trong các loại văn bản kể trên, mà chúng tôi dù có cố nghĩ thêm cũng không hơn được. Nếu cần, chúng ta có thể tham khảo thêm kinh nghiệm phòng chống tham nhũng có sẵn rất hiệu quả của Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore… là được, và tài liệu tham khảo thì có đầy, không phải mất công kiếm đâu xa.

Tựu trung và đại khái cũng chỉ là: Những người lãnh đạo đất nước phải trong sạch, gương mẫu, bởi một lẽ đơn giản gói gọn trong chân lý bất di bất dịch “Thượng bất chính, hạ tắc loạn”, “Thượng chính, hạ nghiêm”; thực hiện nguyên tắc công khai minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước; khi phát hiện các vụ việc tham nhũng phải tập trung xử lý và xử lý nghiêm khắc, trừng trị thích đáng kẻ tham nhũng; chống tham nhũng từ trên xuống, từ trong ra và không có vùng cấm.

Điều chúng tôi sắp trình bày thậm chí cũng không muốn lặp lại ngay cả những điều vừa ghi lại ở trên, đã quá nhàm, vì điều kiện tiên quyết thứ nhất (“Thượng chính, hạ nghiêm”) là đúng tuyệt đối, nhưng điều kiện tiên quyết này, chúng ta phải thừa nhận một thực tế cay đắng và đau lòng, là đất nước chúng ta, ít nhất cũng trong hiện tại, hầu như không còn có “Thượng chính” nữa rồi, sau 45 năm xây dựng CNXH kiểu như đã làm dưới chế độ độc đảng toàn trị dung túng cho các phần tử đặc quyền, vốn là căn nguyên của tham nhũng. Lý do: Các nhà lãnh đạo cấp cao phần lớn tay đều đã “nhúng chàm”, ở những mức độ khác nhau; kẻ liêm chính, ngay thẳng, nhiều lý tưởng ít thủ đoạn và có đủ tài đức nếu không chịu quy ẩn nghỉ hưu sớm thì cũng không thể nào trèo lên đến vị trí chỉ huy cao có đầy đủ thực quyền; thảng hoặc có vị nào liêm khiết được đưa vào các tổ chức chống tham nhũng thì trước sau cũng phải từ chức hoặc bị loại trừ… Một số người ban đầu rất lý tưởng muốn phục vụ nhân dân, nhưng khi tham gia lâu vào bộ máy độc quyền đạt địa vị cao thì cũng trở nên biến chất thành quan tham, thụ động hoặc tích cực. Đây là một thực tế hùng hồn sinh động, mà nếu không can đảm thừa nhận, mọi giải pháp đưa ra để phòng chống tham nhũng ở Việt Nam trong điều kiện độc đảng cầm quyền đều trở thành lý thuyết suông, vô vọng.

Điều nhận định như trên được nêu ra có nghĩa rằng, chúng ta tạm thời không đòi hỏi điều kiện lý tưởng phải có những nhà lãnh đạo cấp cao đều trong sạch, vì đây là điều không thể có được trong một bộ máy cầm quyền đã và đang bị thối nát gần như tột độ. Cũng có nghĩa rằng chúng ta tạm thời chấp nhận một số kẻ xấu cầm quyền không trong sạch đã được ăn no, giàu có lên nhờ tham nhũng trong hàng ngũ “tứ trụ” và trong một số cấp trung gian từ chức bộ trưởng trở xuống, miễn tất cả họ đồng loạt nhận thức ra được tình hình mới, rằng từ nay trở đi họ không chỉ phải dừng hành vi tham nhũng lại mà còn phải ra tay điều trị quốc bệnh tham nhũng, chẳng cần bằng sáng kiến gì mới mà chỉ cần bằng cách nghiêm minh thực thi những luật pháp do chính Đảng của họ đặt ra, bởi nếu không thì bản thân họ cũng sẽ bị nhân dân nguyền rủa lật đổ cùng với Đảng độc tài của họ. Người dân Việt Nam giờ đây đòi hỏi sự “cải chế” cũng do chính ĐCSVN hiện tại lãnh đạo, bằng con đường dân chủ hóa đời sống xã hội, thực thi đúng những điều Hiến pháp 2013 quy định cho phép, trong đó có: Điều 4 nêu rõ “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”; Điều 7: “Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ bỏ phiếu kín”; Điều 25: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”…

Một trong những giải pháp được đưa ra để chống tham nhũng từ lâu và hiện nay là kiểm kê tài sản cán bộ (mới nhất là Nghị định 130/2020/NĐ-CP ban hành ngày 30.10.2020), thì việc này, tuy không thể không làm, nhưng theo quan điểm của chúng tôi, cũng lại không khả thi và không thể được coi là giải pháp cơ bản. Bởi một lẽ đơn giản, trong điều kiện Đảng CS độc quyền lãnh đạo, bất cứ người đầy tớ nào của nhân dân trở nên giàu có cũng đều nhờ tham nhũng ít nhiều, chứ không bằng đồng lương, thể hiện dưới mọi hình thức từ tinh vi đến trắng trợn, nên bảo họ kê khai tài sản trung thực là điều hầu như không thể được. Cố Thủ tướng Phan Văn Khải đã từng phát biểu trước diễn đàn Quốc hội hồi tháng 12.2004: “Khi đề bạt cán bộ thì bắt khai tài sản, nhưng họ rất khôn khi để cho con đứng tên, vợ đứng tên… Thành ra đặt vấn đề thu hồi tài sản bất chính là rất khó”. Nguyên Phó thanh tra Chính phủ Vũ Phạm Quyết Thắng khi đó cũng nói: “Nếu bây giờ kê khai, nhiều công chức đang có sẽ hóa ra không có tài sản, vì họ đã ‘gửi’ cho cháu chắt hết rồi”.

Cho đến hiện nay, cả khi tội phạm tham nhũng bị phát hiện và đã bị đem ra xét xử trừng trị, người phạm tội bị phạt tù vài tháng hoặc vài năm, thì những quyền lợi mà dân chúng bị mất về hành vi tham nhũng do họ gây ra trên thực tế cũng không lấy lại được, nên chỉ còn lại chuyện ở tù trừ; hoặc một số cấp dưới liên quan vụ việc đứng ra ở tù đại diện cho cấp trên để chuẩn bị cho một chiến thuật hạ cánh an toàn tập thể trong một nền tư pháp thiếu hẳn sự độc lập trong các khâu điều tra, xét xử.

Với những tình trạng được miêu tả như trên, phải thẳng thắn nhận định rằng, nếu vẫn cứ tiếp tục bằng những biện pháp cũ truyền thống như học tập nghị quyết, cổ động nêu gương lãnh tụ, phê bình kiểm điểm, thanh tra kiểm tra, cảnh cáo kỷ luật, đình chỉ công tác, thậm chí bắt bớ bỏ tù…, nạn tham nhũng vẫn khó bị đẩy lùi, nếu như cái điều căn bản là toàn bộ hệ thống chính trị-kinh tế do đặc điểm và những khuyết tật bên trong của nó mà tệ nạn tham nhũng phát sinh, không được điều chỉnh một cách đúng mức cần thiết.

Về sự bất lực của hệ thống, rất nhiều quan chức hiện nay đã công khai thừa nhận, như chính cố Thủ tướng Phan Văn Khải trước đây khi vừa rời khỏi chính trường cũng có lần phát biểu trả lời phỏng vấn trước Quốc hội: “Rất nhiều lần tôi nói cả hệ thống chính trị chứ không chỉ hệ thống hành chính của chúng ta có vấn đề, cần phải cải cách, chấn chỉnh, nâng cao năng lực, hiệu quả, hiệu lực, chống cho được tham nhũng, tiêu cực, nhũng nhiễu…”.

Cùng một ý như trên nhưng TS Lê Đăng Doanh thì lại có lối nói thực tế dễ hiểu hơn: “Chỉ trừng phạt thôi thì người này đổ, người khác sẽ lên. Cơ chế nếu không thay đổi thì người mới lên sẽ… tệ không kém, thậm chí còn ‘cáo’ hơn anh trước”.

Xét bối cảnh lịch sử cụ thể Việt Nam, từ hoàn cảnh chiến tranh, bao cấp, ăn độn, thiếu thốn mọi bề trong một nền kinh tế khép kín nay chuyển sang kinh tế thị trường, vậy nên hiện tượng tham nhũng-đặc quyền lan rộng trong tầng lớp cán bộ (vốn cũng là những con người bằng xương bằng thịt và biết tham lam chứ chẳng phải thánh nhân) tuy thể không phê phán và tìm cách ngăn chận nhưng cũng cần được nhìn nhận lại một cách khoan dung, nhân bản, khách quan và chân thật hơn, như một tất yếu lịch sử, và như một hiện tượng mà thực tế sinh động của đời sống không cho phép tránh khỏi, phủ nhận, chứ không phải chỉ có một mặt tiêu cực như mọi người thường nghĩ. Nói cách khác, trong điều kiện lịch sử cụ thể Việt Nam thời cận-hiện đại, trải qua hai đợt chiến tranh, không xuất hiện quốc bệnh tham nhũng mới là chuyện lạ!

Theo cách nhìn nhận của chúng tôi, lịch sử “trùng trùng duyên khởi”, nhân này tạo ra quả nọ thành một chuỗi diễn biến liên tục và khách quan đôi khi vượt khỏi quyền kiểm soát của con người. Lũ “âm binh” được tạo ra lập được thành tích trong thời kỳ chiến tranh giờ đây được sống trong thời bình, chuyển sang kinh tế thị trường, họ đã biết đòi quyền được hưởng thụ các điều kiện vật chất, là một thực tế khách quan cận nhân tình, trong điều kiện quản lý lỏng lẻo của bộ máy nhà nước, vừa do thiếu tri thức khoa học lãnh đạo vừa có sự cố ý dung túng của ĐCSVN tập trung quyền lợi cho các đảng viên đồng chí của mình, vì thế họ khó thể không xâm phạm đến lợi ích của quần chúng nhân dân dưới dạng tham nhũng tham ô đủ kiểu. Tuy nhiên, xét cho cùng, vẫn có thể coi tài sản tích lũy do tham nhũng trong điều kiện chuyển đổi lịch sử khách quan như trên là gần giống với giai đoạn tích luỹ tư bản ban đầu bằng phương thức bóc lột của chủ nghĩa tư bản man rợ (capitalisme sauvage), tuy được chiếm hữu vô kỷ luật vì không tôn trọng khế ước chung xã hội nhưng khách quan nó sẽ trở thành đồng vốn được tái đầu tư vào trong xã hội, để phát triển kinh tế, mang lại lợi ích và công ăn việc làm cho người lao động. Thời gian bóc lột man rợ của tầng lớp đặc quyền “tư sản đỏ” này ở Việt Nam đã kéo dài ít nhất 45 năm, (từ 30.4.1975), tính ra đã đủ, và như có người đã nói, người CS của bên thắng cuộc “không thể cứ mài mãi lịch sử ra để mà sống”; họ phải biết khôn và biết chỗ dừng lại đúng lúc, nếu muốn được tồn tại yên ổn, được sự chấp nhận lâu dài của người dân. Kết quả là đến lúc này, tất cả những tài sản tích luỹ được không kể nguồn gốc của bất kỳ ai, của con cháu cán bộ nhà nước hay của nhà doanh nghiệp, đều tất nhiên sẽ được phân tán trở lại vào các công trình đầu tư hợp pháp được tổ chức lại trên những nền tảng hoàn toàn mới của thể chế kinh tế-chính trị sẽ được tái cấu trúc hợp lý hơn theo hướng tư nhân hóa các hoạt động kinh tế hầu có thể xoá dần tệ nạn tham nhũng một cách căn cơ và lâu dài.

Từ những thực tế sinh động và trên cơ sở nhận thức vấn đề một cách khách quan như trên, chúng tôi mạnh dạn đề nghị thực hiện các gợi ý như sau đây, chúng tôi xin thử nêu ra chỉ với tính cách tham khảo: Đối với một số người “lỡ” đang bị ngồi tù về tội tham nhũng, cần động viên gia đình họ nộp bớt lại một phần tài sản cho quốc gia dưới hình thức nhà cửa hoặc tiền mặt để chuộc tội và để được phóng thích. Số tài sản quốc gia nhận lại được sẽ được công khai minh bạch cho dân biết, rồi giao cho một ủy ban đặc trách của chính phủ quản lý, với người đứng đầu trong sạch, từ đó phân bổ ra để cung ứng cho các chương trình thuộc an sinh xã hội phục vụ người nghèo. Đối với một số “đại gia” giàu sụ nhờ tham nhũng mà vì lý do nào đó chưa bị xử án vào tù, cũng sẽ không truy tố mà áp dụng biện pháp động viên tương tự, tạo điều kiện để họ dùng tiền vào công việc từ thiện, cấp học bổng cho học sinh nghèo, hoặc tài trợ, đầu tư cho các công trình phúc lợi như xây cất bệnh viện, trường học, cầu cống, chùa chiền, trại nuôi trẻ mồ côi…. Các loại đối tượng này, mặc dù không truy tố nhưng vẫn phải nắm . hồ sơ lý lịch tham nhũng của họ; trong thời gian nhất định, cấm họ không được ra nước ngoài định cư để giữ lại nguồn tiền tiêu dùng và nguồn vốn đầu tư trong nước; nếu họ không “cải hóa tự tân” hướng thiện, tiếp tục vi phạm luật pháp để trục lợi bất chính, lúc đó sẽ ra tay trừng trị nặng theo đúng luật mới dành cho tội phạm tham nhũng, cũng chưa muộn.

Do hoàn cảnh đặc biệt riêng của mỗi nước, chúng ta nhất định không rập khuôn theo phương châm “đả hổ diệt ruồi” kiểu Trung Quốc, mà áp dụng chính sách nhân hậu “tiên lễ hậu binh”, trước thuyết phục sau cưỡng chế, trước động viên sau mới dùng tòa án, bỏ qua lỗi cũ và chỉ tính tội mới, chính là để ổn định nhân tâm và dung hòa lợi ích giữa các bên, trong đó người dân cũng được lợi theo, và ta sẽ lấy quyền lợi của nhân dân làm luật pháp tối thượng.

Vì công cuộc phòng chống quốc bệnh tham nhũng vốn không thể tách rời khỏi việc cải chế, nên cần thiết phải tính toán đến những bước đi ôn hòa, tiệm tiến và có tính hiện thực khả thi về mặt chính trị, tránh trường hợp có thể gây nên tình trạng động loạn mới, dẫn đến mất kiểm soát kiểu mới. Tại đây, xin được nhắc lại bằng cách tóm tắt ý chính một số đề nghị đã nêu trong bản tuyên bố quan điểm của câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng hồi cuối tháng 10.2020 vừa qua, đó là việc cần phải gấp rút cải chế về đất đai và về tư pháp.

Theo chúng tôi, một trong những nội dung cải chế có tính đột phá khẩu để ổn định tình hình chính trị hiện nay và phòng chống được tham nhũng là cần khởi đầu từ việc sửa đổi chính sách sở hữu về đất đai, vì đây là một trong những trung tâm điểm của những vụ tham nhũng phổ biến gây nên tình trạng động loạn xã hội uy hiếp sự tồn tại của chế độ từ trước tới nay. Quy định “Đất đai… là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” ghi trong Hiến pháp 2013 (Điều 53) và trong Luật Đất đai 2003 (Điều 5) cần được xem xét sửa chữa. Đây cũng là một ý quan trọng đã được Thủ tướng Chính phủ đề cập trong phiên họp Quốc hội ngày 10.11.2020 vừa qua, nói trúng vào thực chất vấn đề mà chúng tôi hết sức hoan nghênh ủng hộ.

Vấn đề cốt lõi thứ hai, đó là việc tiến hành cải cách tư pháp, bằng cách để cho tư pháp độc lập với chính quyền, vì hoạt động xét xử của tòa án phải công minh, đúng pháp luật, không có sự can thiệp tùy tiện của Đảng thì mới chống được nạn đặc quyền và trừ được quốc bệnh tham nhũng một cách hiệu quả. Với tình trạng thiếu tính độc lập của ngành tư pháp như trước nay, nạn tham nhũng chẳng những không bị trừng trị đích đáng theo đúng pháp luật mà còn phát triển ngày càng tăng nặng cả về số lượng lẫn quy mô vụ án. Trong khi chưa tiện nói đến đa nguyên đa đảng và tam quyền phân lập một cách rạch ròi, chúng tôi coi việc cải cách tư pháp theo hướng nêu trên như một động thái mở đầu tương đối nhẹ nhàng của quá trình cải chế, theo hướng đi từ cái cụ thể đến cái tổng quát, để l dần được mở rộng thêm.

Để đảm bảo cải cách tư pháp hiệu quả, cần phát động một phong trào toàn Đảng toàn dân thực thi hiến pháp, vì chỉ có thông qua con đường thực thi đúng các điều khoản đã ghi trong hiến pháp, quốc gia mới được trị yên theo pháp luật và nhờ thế các quyền công dân mới được bảo vệ, các giá trị dân chủ mới được nảy nở, điều kiện chủ yếu để khắc phục quốc bệnh tham nhũng thúc đẩy đất nước và xã hội tiến lên.

Công việc tiếp theo là phải tu chính hiến pháp, bầu lại Quốc hội theo thể thức thật sự dân chủ (không có nạn cơ cấu, hiệp thương… như một thể thức xếp đặt sẵn trước), sửa lại một số điều luật trong những luật sẵn có, soạn thêm một vài luật mới cho phù hợp với đường hướng cải chế, đổi mới CNXH, thực hiện cuộc cách mạng ôn hòa lần thứ hai cũng do ĐCSVN lãnh đạo.

Ngoài ra, để khống chế quốc bệnh tham nhũng, chúng tôi xin đề nghị thêm một số việc cần làm, cụ thể như sau:

– Thực hiện đầy đủ và trên thực chất các quyền tự do của công dân như Hiến pháp 2013 đã ghi, trong đó có tự do ngôn luận, tự do báo chí, biểu tình, lập hội… (Điều 25 Hiến pháp). Cho phép tư nhân ra báo và ra nhà xuất bản, hoạt động theo khuôn khổ của Luật Báo chí và Luật Xuất bản; đặc biệt coi báo chí là “đệ tứ quyền”, một công cụ hữu hiệu để phản biện, điều chỉnh các hành vi chính quyền, trong đó có việc phát hiện, tố cáo và bài trừ tham nhũng, như tất cả các nước văn minh đã làm rất thành công. Để cho báo chí thật sự được tự do, đề nghị sáp nhập Ban Tuyên giáo Trung ương vào Bộ Thông tin-Truyền thông, biên chế nhân sự của Ban Tuyên giáo cũng được gộp chung vào Bộ này, hình thành đội ngũ hùng hậu và chất lượng cao để tập trung lo phát triển các sự nghiệp đích thực về văn hóa (chứ không chỉ làm những việc tuyên truyền giả dối không còn ai tin như từ trước tới nay…).

– Về kinh tế, phải tiếp tục thực hiện quá trình phi quốc doanh hóa, tiến tới một nền kinh tế cơ bản là tư nhân, để mỗi tài sản đều có chủ hẳn hoi, hầu tránh được nạn ăn cắp và lãng phí.

– Giảm hẳn một số hạng mục dự án công trình thuộc loại chưa cấp bách (thà ít mà tốt!), trừ trường hợp đối với trường học, bệnh viện (đang thiếu). Trước mắt cấm tuyệt một số loại công trình vô ích như xây dựng các tượng đài, cổng chào… ở các địa phương tỉnh, huyện, xã… Việc làm này vừa để tránh nạn tham nhũng xen vào xà xẻo của công, vừa để tập trung vào quỹ lương nhằm tăng lương đáng kể cho đội ngũ cán bộ công chức từ nhân viên cấp phường xã đến chủ tịch nước…. Tăng lương là một trong những giải pháp cơ bản nhất mà mọi quốc gia văn minh đều đã áp dụng để nâng cao tinh thần trách nhiệm của người công chức nhà nước, góp phần hạn chế được nạn tham nhũng. Đối lại, hạn chế được quốc bệnh tham nhũng thì ngân sách nhà nước được bảo vệ, quỹ lương cũng sẽ được tăng lên, nhờ vậy mà việc tăng lương phổ biến cho cán bộ công nhân viên là có tính khả thi.

– Tùy theo tình hình thực tế cho phép, giải thể dần dưới hình thức bán lại cho tư nhân những tổ chức kinh doanh thuộc các cơ quan đơn vị của Bộ Quốc Phòng và Bộ Công An, để giữ được tính khách quan và bình đẳng giửa các thành phần kinh tế. Ngành Công an chỉ chuyên lo trật tự an ninh, ngành Quốc Phòng chỉ chuyên lo Bảo vệ tổ quốc.

– Mở các đợt sinh hoạt chính trị rộng rãi từ các cơ quan, trường học xuống tận tổ dân phố các phường xã trên toàn quốc về phòng chống tham nhũng.

Giảm bớt tối đa các khẩu hiệu /bích chương/ pano vô ích tốn kém, thay vào đó là khẩu hiệu “Toàn Đảng toàn dân kiên quyết phòng chống tham nhũng” ….dán các nơi công cộng, trong phòng làm việc thuộc các cơ quan Đảng, nhà nước.

Ngày 27 tháng 11 năm 2020

Trân trọng

Lê Thân

(Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng)

Bán tai ương cho người Đà Nẵng

 

Bán tai ương cho người Đà Nẵng

Trung Bảo

30-11-2020

Ảnh: internet

Dự án Marina Complex của công ty TNHH Bến Du Thuyền do bà Nguyễn Thị Như Loan làm chủ nằm im suốt một năm qua, thật ra vẫn đang rao bán trên trang facebook cùng tên với dự án. Bà Loan là chủ của công ty Quốc Cường Gia Lai. Trên trang facebook, dự án này được quảng cáo rất kêu: “Bất động sản hữu hạn để càng lâu càng mang lại giá trị vô hạn”.

Giá trị vô hạn dành cho chủ đầu tư có thể đúng bởi từ nay khó ai lấp được sông như bà Loan và Sun Group. Chịu khó nằm im cho dư luận quên lãng rồi mở bán thu về lợi nhuận tiền tỉ. Còn người dân Đà Nẵng, sống bao đời trên mảnh đất của tổ tiên mình, sẽ nhận được gì?

Ngày 7/5/2019, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc TP Đà Nẵng đã tổ chức một “hội nghị phản biện xã hội”, với một số các “chuyên gia” đến từ Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và cả người sở tại, để mạnh miệng khẳng định rằng, việc lấp sông Hàn chắc chắn không gây ngập lụt cho thành phố Đà Nẵng.

Câu trả lời cho các “chuyên gia” này đã có sau một năm. Cơn bão vừa qua đã cho thấy khi dòng sông Hàn bị lấp bên Đông sẽ lở loét bên Tây. Đoạn đường Như Nguyệt ven sông, đối diện với các dự án của bà Loan và Sun Group đã tan nát dù cơn bão vừa qua chưa phải vào trực tiếp Đà Nẵng. Các “chuyên gia” năm nào mở miệng bênh cho các dự án lấp sông nay có dám đối diện nhắc lại điều ấy với người dân Đà Nẵng không?

Một tuần sau cái hội thảo để chuẩn bị dư luận nói trên, ngày 14/5/2019, Phó Giám đốc Sở Xây dựng Đà Nẵng Thái Ngọc Trung cho biết, Sở Xây dựng đã có buổi làm việc với chủ đầu tư hai dự án ven sông Hàn và đi đến thống nhất một số nội dung:

– Toàn bộ nhà cao tầng trong quy hoạch của 2 dự án sẽ bị bỏ. Thành phố sẽ hoán đổi các vị trí đất khác mà thành phố đang quản lý, phù hợp với việc xây dựng nhà cao tầng cho các nhà đầu tư, với nguyên tắc ngang giá. Thay vào đó, phần đất ven sông Hàn sẽ chuyển đổi qua mô hình các công trình kết hợp giữa trung tâm thương mại và nhà ở thấp tầng.

– Dành 20m từ bờ sông Hàn trở vào để xây dựng lối đi cộng đồng, trồng cây xanh, công viên và bãi đỗ xe. Dự án Olalani Riverside Tower xóa quy hoạch 3 cầu tàu bến thuyền trên sông Hàn, bỏ quy hoạch tuyến đường giao thông cơ giới ven sông, thay bằng tuyến đường đi bộ kết hợp công viên cảnh quan.

Dự án Marina Complex điều chỉnh lùi các công trình thấp tầng vào sâu trong đất liền, nhường chỗ cho không gian công viên cảnh quan ra khu vực ven sông.

Đọc kỹ “thỏa thuận” giữa Sở Xây dựng Đà Nẵng và các chủ đầu tư, sẽ thấy nội dung chính về việc lấp sông đã bị lờ đi. Trong “thỏa thuận”, diện tích lấn sông/lấp sông vẫn giữ nguyên, trong khi đó nhà đầu tư lại còn được đền bù thêm đất để xây nhà cao tầng ở địa điểm khác.

Mấy “tuyến đường đi bộ cộng đồng” kia, sẽ chỉ phục vụ cho chủ nhân những nhà-ở-triệu-đô thuộc dự án, còn người dân Đà Nẵng sẽ chẳng mấy ai rảnh rỗi mà tới hưởng cái quyền lợi vờ vĩnh đó. Một ví dụ rất rõ là dự án lấp sông Euro Village của Sun Group ở dưới chân cầu Trần Thị Lý, những con đường mang danh “công cộng” nhưng chỉ dành riêng cho cư dân của dự án này.

Người dân Đà Nẵng chẳng hưởng được gì từ các công trình lấp sông ngoài sạt lở, ngập lụt hiển hiện sau một vài trận mưa bão. Chủ của Marina Complex, Olalani, Euro Village bán nhà thu về hàng triệu đô la và cũng bán luôn tai ương cho người Đà Nẵng.

Kiện, phương châm sống và kinh doanh của Donald Trump

 

Kiện, phương châm sống và kinh doanh của Donald Trump

Nhã Duy

29-11-2020

Hơn ba tuần trôi qua, kể từ khi kết quả cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ 2020 đã rõ ràng, Donald Trump cùng nhóm luật sư của ông vẫn tiếp tục dùng luật pháp để đệ các đơn kiện một cách vô vọng, vội vàng, bất kể chứng cứ cùng các yếu tố pháp lý căn bản.

Nhìn vào hồ sơ kiện của nữ luật sư Sidney Powell đại diện tổng thống với những lỗi chính tả, cách lập đơn cùng các cáo buộc đầy tính hoang đường, khi cho rằng việc gian lận bầu cử có liên quan đến tổng thống Hugo Chavez của Venezuela, người đã chết hồi 2013, là minh chứng cho điều nói trên.

Kết quả tất nhiên là, vài chục vụ kiện của Trump đã liên tục bị các tòa án tiểu bang và liên bang bác đơn đến nay. Cuối tuần qua, nhóm thẩm phán liên bang tòa thượng thẩm số ba, những vị đều do các tổng thống đảng Cộng Hòa và Trump bổ nhiệm, đã tuyên bố một cách xác đáng về kết quả bầu cử rằng, “Cử tri chứ không phải các luật sư bầu chọn tổng thống. Lá phiếu chứ không phải các vụ kiện quyết định kết quả bầu cử”. Cũng vậy, tòa tối cao Pennsylvania cũng bác đơn nhóm luật sư của Trump trong cuối tuần, xem như chấm dứt các vụ kiện tụng tại tiểu bang này. Dù vậy Donald Trump cùng nhóm luật sư của ông tuyên bố vẫn tiếp tục “chiến đấu”, sẽ tiếp tục kiện.

Tại sao Donald Trump lại ám ảnh với kiện tụng đầy vô vọng như vậy?

Nó có một lý do sâu xa và đã đẫm sâu vào tiềm thức Trump khi dùng kiện tụng như phương châm sống và kinh doanh cho đến việc điều hành quốc gia sau này, nếu soi rọi lại cả cuộc đời Trump.

Người ảnh hưởng và mang đến cho Donald Trump triết lý và nhân sinh quan trọn đời này là luật sư huyền thoại Roy Cohn. Roy Cohn là ai?

Sinh năm 1927 tại New York và là con một trong một gia đình gốc Do Thái có cha là một thẩm phán, Roy Cohn được xem là một nhân vật xuất chúng. Cohn tốt nghiệp luật sư đại học Columbia lúc chỉ vừa 20 tuổi, trở thành công tố viên văn phòng biện lý liên bang và đến năm 26 tuổi đã là chánh luật sư cho Thượng Nghị Sĩ Joe McCarthy thuộc đảng Cộng Hòa.

Những ai đọc về về giai đoạn và chủ nghĩa McCarthyism của những năm 50s thế kỷ trước ắt sẽ nhớ cái tên Roy Cohn, cánh tay mặt tàn bạo và đắc lực của McCarthy, là người lạm quyền để thanh trừng đối thủ qua các cáo buộc là cộng sản vô chứng cứ. Chủ nghĩa McCarthyism được nhắc lại trong thời gian gần đây khi Trump và các đồng minh của mình sử dụng các vu cáo bừa bãi “cộng sản, phản quốc” để tấn công các đối thủ chính trị hay những người bị cho là phản bội lại Trump.

Ảnh: Roy Cohn và Trump thập niên 1970. Ảnh trên mạng

Roy Cohn khét tiếng là tàn nhẫn, ác độc và xảo quyệt không thua kém tài năng của mình, đưa không biết bao nhiêu người lâm vào tù tội, thậm chí có người buộc phải tự vẫn vì không chịu được áp lực Cohn đè lên. Các luật sư và đối thủ khiếp đảm khi nghe đến danh tiếng hay phải đối đầu cùng Cohn. Bị thất bại trong một vụ cáo buộc vài sĩ quan Bộ Quốc Phòng là cộng sản cùng với sự thất thế của McCarthy, Cohn quay về lại New York để hành nghề tư nhân.

Đầu thập niên 70, Donald Trump đã bắt đầu thay cha để điều hành tập đoàn xây dựng và kinh doanh bất động sản tại New York. Khi gặp Roy Cohn, Trump lập tức nhận ra đó là người luật sư mà bất cứ giá nào mình phải chiêu mộ. Đây cũng là thời điểm cha con Trump vừa bị Bộ Tư Pháp kiện vì tội kỳ thị, vi phạm đạo luật gia cư. Gặp Cohn tại một hộp đêm, Cohn nhếch mép bảo, “Kêu chúng đi chết đi và ra đấu tại tòa, cứ để chúng chứng minh là anh kỳ thị” (Tell them go to hell and fight in court, let them prove you discriminated – Marie Brenner-Vanity Fair). Cohn chính thức về đầu quân cho Trump và kiện ngược lại Bộ Tư Pháp kể từ vụ này (Chú: Xin đọc thêm về vụ kiện này qua bài viết “Đừng nạp đạn cho kẻ khác bắn vào mình” của cùng tác giả).

Hơn Trump gần 20 tuổi và là người trí tuệ sắc bén, tài ba trong nghề nghiệp mà Trump không cách nào sánh bằng, nhưng Cohn và Trump lại vô cùng hợp nhau và là một cặp cộng sinh khét tiếng tại New York. Bởi họ có chung một tính cách gian hùng, vô luân để đạt được mục đích với bất cứ giá nào. Điều này đã được ký giả Bob Woodward của cuốn sách Rage kể lại qua lời Trump rằng, “hạp với những kẻ xấu chứ không phải người tốt” (I get along with these bad guys not the good guys).

Roy Cohn thân cận và giúp Trump trong hàng chục năm trời qua vô số các vụ kiện tụng, tranh cãi thuế vụ, phá sản…, giúp Trump xây dựng nên một đế chế Trump có phần tàn nhẫn hơn cả cha mình. Cohn cũng được xem là người thầy của Trump, tạo ảnh hưởng rất lớn đến con người cùng cách thức kinh doanh thông qua kiện tụng hay tận dụng kẻ hở luật pháp, thiếu vắng bóng dáng chiếc la bàn đạo đức.

Sử dụng nhóm luật sư tín cẩn và hùng mạnh, Donald Trump áp dụng nhuần nhuyễn chiến thuật của Roy Cohn để làm giàu. Trong vài thập niên kinh doanh, Donald Trump cùng tập đoàn của mình đã liên quan đến khoảng 3,500 vụ kiện lớn nhỏ cấp tiểu bang và liên bang. Trong đó Trump kiện khoảng gần 2,000 vụ và số còn lại là bị kiện.

Từ những vụ nhỏ như muốn trấn áp những nhân công khiếu nại bị đối xử bất công, Trump cho luật sư gởi giấy hăm dọa. Muốn quịt tiền của những nhà thầu nhỏ, Trump kiện họ không làm đúng giao kèo. Khi các chuyên viên tài chính phân tích các rủi ro phá sản của các sòng bài của Trump, Trump kiện họ tội phỉ báng dù cuối cùng Trump cũng phá sản. Bị các tòa thành phố, tiểu bang hay liên bang kiện, Trump cho kiện ngược để cuối cùng dàn xếp, bãi nại đôi bên. Trump kiện luôn cả những nhà đầu tư chung, những thuộc cấp thân tín của mình. Trump kiện ngay cả Ivana Trump, người vợ đầu và là mẹ của ba người con đầu của mình.

Phương châm nghề nghiệp vô song của Roy Cohn truyền dạy và được Trump nhuần nhuyễn thực hành gói gọn trong ba bí quyết. Thứ nhất là không bao giờ dàn xếp, thoả thuận và đầu hàng. Thứ nhì là phản công, kiện ngược tức thời. Và cuối cùng là bất kể điều gì xảy ra, bất kể ngay cả trong tình trạng vô phương thì cũng xem như mình đang chiến thắng và không thừa nhận thất bại”. Hãy lưu ý rằng, đây là điều tác giả Sam Roberts nhắc về Roy Cohn trong cuốn sách The Brother: The Untold Story of Rosenberg case xuất bản năm 2014, trước khi Trump thành tổng thống. Nên không ngạc nhiên gì khi Trump vẫn tiếp tục các vụ kiện liên quan đến bầu cử hiện nay.

Sự trùng hợp là cả hai luật sư, cùng là thuộc hạ tín cẩn lâu năm của Donald Trump là Roy Cohn và Michael Cohen, tác giả cuốn hồi ký Disloyal đều có chung một kết cục bi thảm và bị Trump hắt hủi. Cả hai đều bị tước bằng luật sư vì sự gian dối, thiếu đạo đức, lương tâm chức nghiệp.

Huyền thoại Roy Cohn táng gia bại sản và vướng bịnh AIDS vì cuộc đời trác táng, cuối đời chỉ xin được ở trong một căn chung cư tại cao ốc của Trump nhưng đã bị Trump làm ngơ. Roy Cohn chết trong cô đơn ở tuổi 59, chấm dứt một huyền thoại New York. Còn Michael Cohen thì bị truất bằng, tù tội và bị Trump xem như kẻ thù vì đã dám bất trung như đã biết.

Hãy nghĩ xem những kẻ đắc lực, thân cận lâu năm với Trump còn bị đối xử như vậy thì liệu có nghĩa lý gì với những kẻ xa lạ, khác chủng tộc màu da mà lại hết lòng ôm chân, tôn sùng Donald Trump?

“Born to sue” – sinh ra để kiện, nếu sau này có tác giả nào đó viết về Donald Trump lần nữa thì đó là cuốn sách cần viết và đề tựa. Nó sẽ là cuốn sách phô bày chân dung một con người vô luân, táng tận lương tâm với đầy sự bất nghĩa, bất nhân, bất tín và bất trung đã vô tình trở thành một tổng thống quyền lực trong định mệnh lịch sử của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Chỉ một điều may mắn cho nước Mỹ là Donald Trump không tài ba như Roy Cohn thầy mình, bằng không hệ lụy sẽ còn vô lường hơn nữa.

Cuộc bắt giữ kĩ sư thuỷ sản Nguyễn Ngọc Ánh khiến cảm xúc của tôi sôi sục hơn cả

 

Cuộc bắt giữ kĩ sư thuỷ sản Nguyễn Ngọc Ánh khiến cảm xúc của tôi sôi sục hơn cả

Nguyễn Trường Sơn

29-11-2020

Kĩ sư Nguyễn Ngọc Ánh. Ảnh: internet

Trong hàng trăm vụ bắt bớ mà tôi nghiên cứu trong những năm qua, cuộc bắt giữ kĩ sư thuỷ sản Nguyễn Ngọc Ánh khiến cảm xúc của tôi sôi sục hơn cả.

Hôm đó, cảnh sát địa phương lừa mời Nguyễn Ngọc Ánh lên trụ sở để giải quyết mâu thuẫn giữa gia đình anh và nhà hàng xóm. Vừa rời khỏi nhà được một đoạn thì anh bị bắt giữa đường, không một quyền công dân nào của anh được tôn trọng, cứ thế cảnh sát đưa anh thẳng về trụ sở và giam giữ ở đó.

Về phần gia đình anh, chỉ 30 phút sau khi Nguyễn Ngọc Ánh rời khỏi nhà, hàng trăm người (theo lời thuật của vợ Nguyễn Ngọc Ánh) bao gồm cảnh sát, dân quân, đại diện chính quyền xông vào nhà hùng hổ lục soát. Đứa con trai 3 tuổi của Nguyễn Ngọc Ánh sợ đến nỗi nín thở, mặt tím tái lại. Khi bị chất vấn là tại sao lại xông vào nhà người dân một cách vô pháp như vậy thì đại diện phía công an nói là “để tìm tài liệu phản động”, không một tờ lệnh nào được trưng ra.

Ở đồn công an, cảnh sát không ép buộc được Nguyễn Ngọc Ánh khai ra mật khẩu điện thoại, họ cho người về nhà anh, lừa gia đình rằng Nguyễn Ngọc Ánh muốn gặp con trai, tin lời chính quyền, vợ anh gửi gắm công an đứa con trai bé bỏng của mình để nó được đi gặp cha “lần cuối” trước khi cha con phải xa nhau, nhưng khi đưa đứa bé tới đồn, thay vì cho nó gặp cha, cảnh sát lại đứa nó vào phòng riêng và lừa nó mở điện thoại của bố để chơi game. Bằng cách này, công an truy cập được vào điện thoại của Nguyễn Ngọc Ánh, và lấy đi những dữ liệu mà họ sau này dùng để buộc tội anh. Hôm đó, anh không được gặp con trai của mình.

Khi viết bản báo cáo này, tôi đặt tên cho chương viết về điều 117 của bộ luật hình sự 2015-điều luật mà Nguyễn Ngọc Ánh bị khởi tố, là “chú công an bảo con mở điện thoại của bố”. Sau cùng, trong quá trình biên tập, cái tên đó được thay thế bằng chính nội dung của điều luật này để nói lên sự nực cười của nó: “làm, tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống nhà nước”.

Bản hiến pháp quan trọng, những con người thực thi nó cũng quan trọng không kém

 

Bản hiến pháp quan trọng, những con người thực thi nó cũng quan trọng không kém

Luật Khoa

Lê Nguyễn Duy Hậu

29-11-2020

Tổng thống Donald Trump đã gây được ảnh hưởng lớn tới Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ với việc bổ nhiệm ba thẩm phán mới chỉ trong vòng bốn năm. Ảnh: USA Today

Có một bản hiến pháp dân chủ thôi chưa đủ. Ta còn cần những con người dân chủ.

Tôi đã từng hy vọng có thể kết thúc loạt bài viết về Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ bằng một đánh giá cơ quan này ở thời kỳ hiện đại. Tuy nhiên, với việc chỉ trong một nhiệm kỳ tổng thống của Donald Trump có đến ba thẩm phán mới, trẻ trung và có người lại có ít kinh nghiệm tư pháp, đã khiến việc đánh giá trở nên khinh suất.

Trái lại, những gì đang diễn ra trên chính trường Mỹ sau bầu cử, cùng những cách hiểu sai lầm về Tối cao Pháp viện như một định chế chính trị và các thẩm phán như những thành viên của đảng phái, khiến cho tôi cảm thấy cần phải kết thúc loạt bài bằng việc đánh giá lại về vị trí của tòa án này trong bộ máy chính trị Mỹ. Tôi muốn cố gắng giải thích cho hai vấn đề lớn như sau.

Vấn đề 1: Tối cao Pháp viện sẽ ra phán quyết theo đúng tư tưởng đảng phái?

Chúng ta có thể bắt đầu bài viết hôm nay bằng một câu hỏi đã được bỏ ngỏ từ cuối kỳ trước: Nếu như Tối cao Pháp viện là một định chế chính trị và thẩm phán là những chính khách, vậy thì nguyên tắc tam quyền phân lập còn ý nghĩa gì nữa?

Những ngày này, nhiều người ủng hộ ông Trump đã lưu truyền một thông tin, một niềm hy vọng rằng kết quả bầu cử rồi sẽ được đưa lên cho Tối cao Pháp viện phân xử, và với một đa số 6 thẩm phán “bảo thủ”, ông Trump sẽ tái đắc cử. Họ cũng dẫn chứng vụ kiện Bush v. Gore một cách sai lệch như một cách để nuôi dưỡng niềm tin đó.

Như đã có dịp trình bày trước đây, nếu thật sự Tối cao Pháp viện là nơi sẽ phân định thắng thua trong một cuộc bầu cử, thì đó sẽ là một bước lùi lớn cho nền dân chủ Hoa Kỳ. Nhưng nếu Tối cao Pháp viện lại phân định thắng thua chỉ dựa trên quan điểm chính trị của thẩm phán, thì xem như nền tư pháp của Hoa Kỳ đã chết. Kịch bản như vậy không được phép xảy ra.

Nhìn lại lịch sử án lệ Hoa Kỳ, bản án Bush v. Gore năm 2000 là một trong những bản án tệ nhất của Tối cao Pháp viện. Nó gây tranh cãi đến mức mà một thẩm phán Tối cao Pháp viện lúc bấy giờ là David Souter đã nghĩ đến chuyện từ chức, và theo nhà báo Jeffrey Toobin thì ông chảy nước mắt mỗi lần nghĩ đến phán quyết đó.

Phán quyết Bush v. Gore còn gây tranh cãi khi chính người chắp bút cho bản án đó là Thẩm phán Sandra Day O’Connor đã phải thêm vào một câu rằng vì tính chất vô tiền khoáng hậu của tình huống mà những lý lẽ pháp lý trong Bush v. Gore chỉ được áp dụng một lần. Điều này có nghĩa là bản án Bush v. Gore được chính tác giả của nó khuyến cáo không tái sử dụng như một loại án lệ hiến pháp thông thường.

Nói như vậy để thấy rằng một thẩm phán có tự trọng đúng nghĩa, trừ khi có một luận cứ pháp lý rõ ràng với những bằng chứng không thể chối cãi, sẽ không cho phép bản thân đem tư tưởng chính trị vào trong bản án. Trên thực tế thì tuy báo giới thường nói Tối cao Pháp viện có phe “cấp tiến” và “bảo thủ”, phần lớn các bản án của tòa này có kết quả đồng thuận, hoặc tuyệt đại đa số tán thành. Chỉ khi nào một vấn đề pháp lý quá gây tranh cãi thì người ta mới thấy được sự chia rẽ về quan điểm. Nhưng ngay cả như vậy, không có gì đảm bảo là thẩm phán “bảo thủ” sẽ luôn bỏ phiếu cho phe Cộng hòa và thẩm phán “cấp tiến” sẽ luôn bỏ phiếu cho phe Dân chủ.

Những bản án gần đây cho thấy điều đó. Đơn cử như các bản án liên quan đến Obamacare – hay Đạo luật Chăm sóc Sức khỏe Hợp túi tiền của Tổng thống Barack Obama. Theo đó, rất nhiều lần các thẩm phán phe “cấp tiến” đồng tình với các thẩm phán phe “bảo thủ”, và ngược lại. Lần tranh tụng gần đây nhất trong vụ California v. Texas, giới quan sát cho rằng hai thẩm phán “bảo thủ” là Chánh án John Roberts và Thẩm phán Kavanaugh có thể sẽ cùng chia sẻ ý kiến với ba thẩm phán “cấp tiến” để giúp cho Obamacare tồn tại. Có phải vì Roberts và Kavanaugh đồng tình về mặt chính trị với Obamacare không? Không phải. Đơn giản vì họ không muốn thay Quốc hội xoá bỏ một đạo luật, không thông qua con đường dân chủ.

Chính những bản án như vậy sẽ lại tái khẳng định vai trò độc lập của Tối cao Pháp viện, bất chấp việc các thẩm phán có thể sẽ trở thành kẻ thù của phe này hay phe kia. Cho nên mới có chuyện Thẩm phán Matthew W. Brann, một thẩm phán tòa liên bang tuy do Obama bổ nhiệm nhưng lại cực kỳ bảo thủ, đã thẳng tay loại bỏ đơn kiện của ủy ban tranh cử của Trump vì lý do thiếu chứng cứ. Và tương tự là cách bộ ba thẩm phán của Tòa Phúc thẩm số Ba, trong đó một người được chính Trump bổ nhiệm và hai người do Tổng thống G. W. Bush bổ nhiệm, cũng thẳng tay từ chối đơn kháng cáo của Trump và mạnh dạn tuyên bố rằng “cử tri chứ không phải luật sư mới có quyền quyết định kết quả bầu cử”.

Để chốt lại vấn đề này, có thể sử dụng lại một đoạn trong phiên điều trần của Thẩm phán Amy Coney Barrett. Khi được hỏi rằng bà có thể để cho quan điểm tôn giáo hoặc chính trị của mình chi phối phán quyết không, bà Barrett trả lời rằng nếu thẩm phán luôn thích các phán quyết của mình, điều đó có nghĩa là họ đang để cho thiên kiến chính trị chi phối. Tất nhiên, thực tế thế nào thì chúng ta còn phải chờ đợi, nhưng ít nhất đó là điều mà một thẩm phán cần phải tâm niệm trong lòng.

Chánh án John Roberts (trái) cùng các thẩm phán Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ tham dự phiên báo cáo Thông điệp Liên bang của Tổng thống Donald Trump tại Quốc hội ngày 4/2/2020. Ảnh: AP.
Chánh án John Roberts (trái) cùng các thẩm phán Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ tham dự phiên báo cáo Thông điệp Liên bang của Tổng thống Donald Trump tại Quốc hội ngày 4/2/2020. Ảnh: AP.

Vấn đề 2: Tối cao Pháp viện sẽ vô dụng nếu không có được sự tôn trọng của các nhánh quyền lực khác?

Một sinh viên luật Việt Nam có quan tâm đến chính trị nước ngoài sẽ mạnh dạn nói rằng nước Mỹ mạnh mẽ là nhờ tam quyền phân lập, nhờ bản hiến pháp rõ ràng trao quyền cho Tối cao Pháp viện để kiềm chế hai nhánh quyền lực còn lại. Tuy nhiên, đó là một quan sát đầy lý tưởng nhưng lại thiếu thực tế.

Đã nhiều lần chúng ta thảo luận với nhau và thấy rằng Alexander Hamilton đã đúng khi nói trong Bài số 78 của Federalist: “Tòa án chẳng có ảnh hưởng gì lên thanh gươm hoặc túi tiền, lên QUYỀN LỰC hoặc Ý CHÍ, mà chỉ đơn thuần có trong tay những phán quyết” (“no influence over either the sword or the purse,… neither FORCE nor WILL, but merely judgment.”).

Tam quyền phân lập chỉ là một khẩu hiệu và phán quyết của tòa chỉ là một tờ giấy nếu như nó không được các thiết chế khác tôn trọng và tự nguyện thi hành. Ngay cả khi Marshall khéo léo xác quyết được quyền tài phán hiến pháp sau vụ Marbury v. Madison, một tổng thống tham vọng hoàn toàn có thể tước bỏ nó bằng cách ngó lơ phán quyết của tòa. Vậy thì điều gì đã giữ cho vị thế bấp bênh đó của Tối cao Pháp viện tồn tại cho đến ngày nay?

Rất có thể, sức mạnh của Hiến pháp Mỹ nằm ở chỗ nó thừa hưởng một nền văn hoá dân chủ, coi trọng những thứ luật lệ bất thành văn – chẳng hạn như tôn trọng phán quyết của tòa, khiêm nhường, kiềm chế, phân định rõ chính trị và pháp lý. Hãy thử lắng nghe một câu chuyện sau đây về hai nhân vật ta đã quen thuộc từ kỳ trước là Chánh án Warren và Tổng thống Eisenhower.

Trong một cuộc phỏng vấn sau khi hết nhiệm kỳ, Eisenhower từng chia sẻ rằng ông hối tiếc nhất là việc đã bổ nhiệm “tên chó đẻ Warren” vào ghế chánh án Tối cao Pháp viện, khiến cho những bản án cấp tiến nở rộ và gây mất lòng cho phe bảo thủ. Tuy nhiên, nếu như thật sự Eisenhower chán ghét các bản án của Warren, thì đó lại càng minh chứng cho nhận xét Eisenhower là một tổng thống đàng hoàng, dân chủ. Mặc dù không hài lòng với phán quyết Brown, Eisenhower vẫn chấp nhận tuân thủ bản án đó và tham gia đưa quân đội xuống Arkansas để thực thi bản án, bất chấp việc các cử tri bảo thủ ở đây sẽ bực tức với ông.

Cũng tương tự như vậy, chưa bao giờ Eisenhower bất tuân một bản án nào của Tối cao Pháp viện, và chưa bao giờ Eisenhower lớn tiếng bình luận về một bản án nào trong giai đoạn ông là tổng thống. Điểm đặc biệt của Eisenhower chính là việc ông cũng sẵn sàng bổ nhiệm một thẩm phán cấp tiến là Brennan, dù biết rằng quan điểm của Brennan sẽ trái ngược với ông. Không luật lệ nào bắt ép Eisenhower làm vậy, cũng như không có gì cấm các thẩm phán có thiên kiến chính trị ngoài sự kiềm chế của văn hoá và lòng tự trọng.

Trên cơ sở đó, Chánh án John Roberts đã từng rất tức giận khi Tổng thống Trump công khai gọi một nửa Tối cao Pháp viện là các “thẩm phán của Obama”. Ông xem đó như một sự xúc phạm không chỉ cho sự độc lập của tòa án, mà còn cho nền văn hoá dân chủ, làm việc cùng nhau của nước Mỹ. Cố Thẩm phán Antonin Scalia là một người bảo thủ đến tận xương tủy, nhưng mỗi dịp năm mới, ông đều khiêu vũ với một thẩm phán mà ông xem là người bạn thân. Đó không phải là Clarence Thomas hay Amy Coney Barrett, mà là cố Thẩm phán Ruth Bader Ginsburg – vị thẩm phán cấp tiến đến tận máu thịt.

Đó chính là nét đẹp của văn hóa dân chủ Hoa Kỳ và là thứ thúc đẩy đất nước này tiến lên. Nước Mỹ sẽ thất bại nếu một tổng thống chọn phớt lờ truyền thống chính trị và văn hoá dân chủ, xem tòa án như một công cụ chính trị, xem thẩm phán là những đảng viên và cùng nhau cấu kết. Thật may mắn là cho đến nay điều đó vẫn chưa xảy ra.

Hai thẩm phán Tối cao Pháp viện Ruth Bader Ginsburg và Antonin Scalia cùng xuất hiện trên sân khấu một nhà hát năm 2009. Ảnh: Getty Images.
Hai thẩm phán Tối cao Pháp viện Ruth Bader Ginsburg và Antonin Scalia cùng xuất hiện trên sân khấu một nhà hát năm 2009. Ảnh: Getty Images.

Từ Tối cao Pháp viện, nghĩ về một bản hiến pháp dân chủ và quá trình dân chủ hoá

Khi tôi bắt đầu viết loạt bài này, ngoài việc cung cấp những thông tin mà mình biết cho độc giả về một cơ quan thú vị tại nước Mỹ, tôi cũng nuôi một tham vọng rằng độc giả sẽ rút ra được một bài học nào đó cho tiến trình dân chủ hóa trong tương lai của Việt Nam.

Với bản thân tôi, điều mà tôi cho là quý báu nhất từ việc theo dõi sự phát triển và những thăng trầm của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ chính là việc tôi đã nhìn tòa án này không phải như một thiết chế vô tri vô giác được Hiến pháp Mỹ minh định, mà là một tập hợp của những con người lịch sử.

Hiến pháp Mỹ đã không cho Marshall một câu trả lời thỏa đáng khi ông phán xử Marbury. Taney đã gửi gắm rất nhiều hy vọng trong phán quyết Dred Scott. Owen Roberts có lẽ đã mất ngủ rất nhiều đêm khi ông quyết định đổi phe nhằm cứu lấy bộ chín trong thời kỳ Lochner. Warren kiên quyết với lý tưởng của ông, nhưng cũng phải thầm cảm ơn sự chính trực của Eisenhower. Souter cuối cùng đã không từ chức vì hiểu rằng pháp luật không phải là chìa khóa vạn năng và thẩm phán không phải là thánh nhân. John Roberts tức giận với vị tổng thống thứ 45. Scalia tranh đấu với Ginsburg trên tòa, nhưng lại khiêu vũ với bà khi năm mới đến.

Tất cả, tuy có những quan điểm chính trị khác nhau, chia sẻ một mục tiêu rằng thông qua việc phán xử của mình, pháp luật sẽ sáng tỏ và xã hội sẽ tốt lên. Một tòa án phục vụ cho nền dân chủ hiệu quả nhất là một tòa án có những thẩm phán đúng nghĩa (chứ không để vai trò hoặc niềm tin chính trị chi phối) và một văn hoá pháp lý coi trọng sự tự kiềm chế quyền lực của bản thân.

Trong con đường dân chủ hóa đất nước, một bản hiến pháp và thể chế rập khuôn sẽ không có ý nghĩa gì nếu không có những con người như vậy. Đó là những con người không chỉ tuyên xưng dân chủ, xem dân chủ như một cái mác, mà còn phải thống nhất trong tư tưởng và hành động của mình nhằm hướng đến dân chủ, cho dù họ có thể sai lầm, cho dù họ có thể bị lung lay bởi những cám dỗ chính trị.

Chỉ khi nào có những con người như vậy thì một xã hội mới thực sự trở nên dân chủ.

_____

Tham Khảo:

Kỳ 1: Quyền tài phán tư pháp và quyết định của Chánh án Marshall
— Kỳ 2: Phán quyết Dred Scott – trang sử buồn của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ — Kỳ 3: Thời đại Lochner, “chính phủ ông tòa” và khi Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ (lại) là “kẻ xấu” — Kỳ 4: Tối cao Pháp viện và vai trò người thúc đẩy quyền tự do.