Bài đăng nổi bật

Bức tường Berlin (Phần 1): Nước Đức chia cắt

  Bức tường Berlin (Phần 1): Nước Đức chia cắt 12/08/2021 Nguyễn Thọ 12-8-2021 Vào ngày này cách đây 60 năm, đêm 12, rạng sáng ngày 13.08.19...

Chủ Nhật, 31 tháng 1, 2021

Đại hội XIII: Ngày làm việc hôm nay có gì mới?

 

Đại hội XIII: Ngày làm việc hôm nay có gì mới?

BTV Tiếng Dân

Đại hội 13 bước sang ngày làm việc thứ 6 và cũng là ngày làm việc gay cấn. Báo Thanh Niên đưa tin: Đại hội XIII rút ngắn 1 ngày, hôm nay bầu Ban Chấp hành T.Ư khóa XIII. Lãnh đạo Trung tâm báo chí Đại hội 13 thông báo, chương trình làm việc đã được biểu quyết, rút ngắn 1 ngày so với dự kiến, nghĩa là đại hội sẽ kết thúc vào ngày 1/2/2021, thay vì ngày 2/2 như đã thông báo trước.

Lại có diễn biến bất thường, có bài báo trên VnExpress cung cấp thông tin tương tự đã bị gỡ. Lúc 12h30’ trưa nay, kết quả tìm kiếm trên Google với từ khóa “rút ngắn Đại hội XIII” cho thấy, VnExpress đưa tin: “Đại hội XIII rút ngắn thời gian làm việc”, như ảnh chụp màn hình dưới đây:   

Nhưng khi nhấp vào đường link bài báo của VnExpress thì kết quả cho thấy bài không còn:

Vào lúc 5h30’ chiều nay, bài báo bị gỡ nói trên đã được VnExpress thay bằng bài: Quy trình nhân sự Đại hội XIII được tiến hành chặt chẽ. Nhưng bài trên báo Thanh Niên có nội dung tương tự vẫn con. Và bài này trên báo Pháp Luật TP HCM hiện vẫn còn có thể truy cập bình thường: Rút ngắn thời gian làm việc Đại hội XIII. Nhưng một số báo “lề đảng” như Tuổi Trẻ, Người Lao Động, VietNamNet không đưa tin về vụ rút ngắn thời gian Đại hội.

Tin trên báo Pháp Luật TP HCM cho biết, đầu giờ sáng nay, “thay vì làm việc tại đoàn, các đại biểu đã tới Hội trường lớn nơi tổ chức phiên họp toàn thể để biểu quyết rút ngắn thời gian làm việc của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII”. Sau biểu quyết, có 2 đại biểu xác nhận với báo Pháp Luật TP HCM về thông tin rút ngắn thời gian Đại hội.

RFI có bài: Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ kết thúc sớm hơn một ngày. Khả năng vụ kết thúc Đại hội sớm không phải do dàn xếp, “tác động” mà vì yếu tố bất ngờ là vụ dịch Covid-19 bùng phát với quy mô lớn ở sát thủ đô.

Tác giả nhận định: “Các báo trong nước không giải thích lý do vì sao Đại hội phải kết thúc sớm hơn một ngày, nhưng thông tin này được đưa ra vào lúc dịch Covid-19 đang bùng phát trở lại ở Việt Nam. Từ hai tỉnh Hải Dương và Quảng Ninh, dịch đã lan sang một số tỉnh thành khác, kể cả Hà Nội, nơi đang diễn ra Đại hội Đảng”.

***

Về nội dung chính trong phiên làm việc hôm nay (30-1), Đại hội XIII của Đảng tiến hành quy trình bầu Ban Chấp hành Trung ương, báo Hà Nội Mới đưa tin. Theo đó, trên cơ sở kết quả công tác chuẩn bị nhân sự tại ba kỳ Hội nghị TƯ lần cuối 13-15, Ban Chấp hành TƯ khóa 12 đã xem xét “thận trọng, kỹ lưỡng và thống nhất cao” danh sách nhân sự đề cử để trình Đại hội 13 của Đảng xem xét, bầu cử theo quy định. Lưu ý, Hội nghị TƯ 14 và 15 đều bị rút ngắn thời gian so với dự kiến, chiến thuật của người đứng đầu, nhằm “phủ đầu” các phe nhóm khác.

Trong phiên làm việc chiều nay, các đại biểu đã tiến hành bỏ phiếu bầu 200 Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, báo Dân Trí đưa tin. Trong số 200 người này, có 180 Ủy viên chính thức và 20 Ủy viên dự khuyết. Đoàn Chủ tịch đã xem xét các trường hợp xin rút khỏi danh sách ứng cử, đề cử. Các đại biểu tiến hành bỏ phiếu về việc cho rút hay không cho rút tên, biểu quyết thông qua danh sách bầu cử BCH TƯ khóa 13.

“Tam trụ” dẫn đầu đoàn lãnh đạo đảng, nhà nước bỏ phiếu bầu Ban chấp hành TƯ khóa 13. Ảnh: Quốc Chính/DT

Báo Người Lao Động có bài phỏng vấn ông Nguyễn Thanh Bình: Phó Ban Tổ chức Trung ương nói về nhân sự Đại hội XIII của Đảng. Ông Bình nói về trường hợp “đặc biệt” được giới thiệu tái cử BCH TƯ, Bộ Chính trị khóa 13:

“Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã cân nhắc thận trọng, xem xét tổng thể, thực hiện quy trình chặt chẽ, kỹ lưỡng, khách quan và đã thống nhất cao lựa chọn một số đồng chí thuộc trường hợp ‘đặc biệt’ cả với nhân sự tái, ứng cử và lần đầu tham gia để trình Đại hội XIII của Đảng và Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII xem xét, lựa chọn bầu Bộ Chính trị, Ban Bí thư Khóa XIII”.

Về khả năng thay đổi danh sách ứng cử, đề cử trong BCH Trung ương của Đại hội 13: Đề cử, giới thiệu ứng viên, cơ hội ‘rất nhỏ’, theo BBC. Đằng sau màn kịch biểu quyết, bỏ phiếu là cơ cấu quyền lực đã được các bên dàn xếp: “Dù quy định cho phép đề cử, giới thiệu bổ sung nhân sự tại Đại hội, nhưng cơ hội cho những người này dường như rất nhỏ”.

Tin cho biết, dù ngày mai là Chủ Nhật, Đại hội 13 vẫn làm việc: “Ban chấp hành Trung ương khóa XIII sẽ họp Hội nghị lần thứ nhất, bầu Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII”.

Vụ ông Trọng làm thêm một nhiệm kỳ TBT thì không ai cản được, chỉ có phương án đưa ông Nguyễn Xuân Phúc rời vị trí Thủ tướng để ông Phạm Minh Chính vào thay thì rất dễ gặp trục trặc, trong tình hình cụm ổ dịch Quảng Ninh – Hải Dương vẫn diễn biến phức tạp.

RFA có bài của TS. Phạm Quý Thọ bàn về Đại hội 13: “Bệnh thành tích” không chỉ trong tuyên truyền mà cả tư duy chính sách. “Bệnh thành tích” vốn đã là vấn nạn hiện diện ở mọi mặt trong đời sống văn hóa, xã hội VN dưới chế độ đảng trị, thì đến Đại hội 13 càng trở nên trầm trọng hơn. Các “thành tích” chống tham nhũng, phát triển kinh tế và ngăn chặn đại dịch được tận dụng triệt để nhằm tô hồng cho chế độ, dù thực tế cả 3 “thành tích” đều không thành công nhiều như bộ máy tuyên truyền.

Riêng vụ “chống dịch” rõ ràng vẫn có lỗ hổng, vì ổ dịch ở Hải Dương được phát hiện là do có nữ công nhân ở đây khi sang Nhật làm việc đã được phía Nhật phát hiện dương tính với Covid-19, rồi báo cho phía VN. Cho đến nay, bộ máy “chống dịch” ở VN vẫn không truy ra được nguồn lây cho cô này, cũng như với các ổ dịch trên toàn tỉnh, đến từ đâu.

BBC có bài của TS Lê Trung Tĩnh ở Anh: Nhân Đại hội 13 nghĩ về tập trung dân chủ và bầu cử tự do. Bài viết bàn về hoạt động “Bầu cử Lãnh đạo nước Việt Nam Dân chủ” diễn ra trên không gian mạng, trong đó những người tham gia bầu cử không hề mặn mà với chế độ đảng trị: “Đảng Cộng sản chiếm một vị trí rất khiêm tốn. Một nửa số ứng cử viên của họ đã bị thay thế bởi những người bên ngoài do người thăm dò đề cử”.

Mời đọc thêm: Đại hội XIII rút ngắn thời gian làm việc, hôm nay bầu BCH Trung ương(DT). – Đại hội XIII của Đảng sẽ bế mạc vào ngày thứ Hai 1/2/2021 (TTXVN). – Ngày 30/1 – Ngày thứ 3 liên tiếp Đại hội XIII xem xét về công tác nhân sự (GDVN). – Đại hội XIII: Bỏ phiếu kín việc rút khỏi danh sách đề cử(PLTP). – Đại hội XIII: Lựa chọn những đảng viên ưu tú nhất vào Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII (TG&VN).

– Việt Nam: Tư tưởng ‘‘phản Đổi Mới’’ chiến thắng tại Đại hội 13? (RFI). – Bỏ phiếu bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII (Tin Tức). – Hơn 1.500 đại biểu bỏ phiếu bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII (Zing). – Sẽ bắn pháo hoa chào mừng thành công Đại hội lần thứ XIII của Đảng (KTĐT).

Cả Trọng và giấc mơ Tổng Bí thư kỳ 3

 

Cả Trọng và giấc mơ Tổng Bí thư kỳ 3

Nguyễn Tiến Dân

30-1-2021

Trong cái Đảng Cộng sản Việt Nam, tham quyền – cố vị và lì lợm, chưa ai sánh ngang Phú Trọng. Khi cái vòng luẩn quẩn, mà mọi thứ dân cần biết, đều được đóng dấu “tối mật”, “tuyệt mật”, thực tài của chàng, “ai mà biết, chuyện ma ăn cỗ”.

Tuy thế, chàng vẫn ngồi “vững như bàn thạch” ở ngôi Tổng Bí thư trong 2 nhiệm kỳ liên tiếp. Suốt thời gian này, ngoài những thành tích trời ơi đất hỡi và không được kiểm chứng. Còn lại, ai cũng thấy, chàng rất chăm báo ân – báo oán và chổng mông đi dọn những bãi cứt, do chính mình đùn ra.

Tháng ngày hối hả, ngoảnh lại, đã thấy sức cùng – lực kiệt và đã đến lúc “hết đát”. Tuy vậy, dòng máu bá vương vẫn dần dật chảy trong huyết quản của chàng. Từ đó, vẫn muốn “đội đá – vá trời” và sẵn sàng gọt luôn cả cái Điều lệ đồ sộ của Đảng, chỉ để đút cho vừa với đôi giày đã rách tã của mình. “Tam khoanh – tứ đốm”, cũng chỉ nhằm đến mục đích đê hèn: Ôm cái ghế Tổng Bí thư, thêm một đận nữa.

Chàng muốn thế và Thiên triều, chúng càng muốn thế. Cho nên, trong giai đoạn nước rút, chúng tranh thủ tìm mọi cách để tô son – trát phấn cho chàng: Biển Đông yên bình, Kinh tế không đổ và cúm Vũ Hán hoành hành ở đâu không biết, riêng Việt Nam, nó lại chừa ra (!). Tưởng rằng, với một mớ thành tích vĩ đại về điều hành vĩ mô như thế, chàng phải được tôn làm Thánh sống và thế của chàng, nó phải ở đâu đó trên tận chín tầng mây.

Ai dè, nước sông cũng có lúc chảy ngược. Không phải Việt tân, không phải “các thế lực thù địch và phản động”, mà chính các đàn em của chàng, chúng mới là những người nôn nóng nhất trong việc loại chàng ra khỏi cuộc chơi quyền lực lần này. Đơn giản, “ghế có một, mà đít thì nhiều”. Chàng ngồi lù lù như đống rạ ở đó, lâu la, chúng đặt đít vào đâu? Bởi thế, yêu chàng đến đâu, chúng cũng phải tìm cách liên kết với nhau, để lật đổ chàng.

Đầu tiên, chúng tổ chức “thăm dò” ý kiến trong Ban Chấp hành Trung ương. Nghe nói, chúng dùng máy đếm phiếu dởm. Kết quả, chàng đội sổ tín nhiệm trong số các ứng viên cho vị trí Tứ trụ triều đình.

Tiếp đó, chúng đùn Hầu A Lềnh ra trước các phương tiện thông tin đại chúng. Tại đây, chàng trai người dân tộc này ngô nghê phát biểu về trường hợp “đặc biệt” của Phú Trọng. Lềnh chửa khép miệng, ngay trước mũi chàng, chúng công khai biên tập lời Lềnh. Dĩ nhiên, theo hướng ngược lại.

Tất cả những chỉ dấu đó, đều có mẫu số chung: “Phú Trọng đã núng thế và ông ta đã như trái chuối chín nẫu trên cây”.

Cay cú và lo sợ trước thực trạng này, Trung Cộng trở mặt còn nhanh hơn Tập Tổng Tịch khép đít khi đi ị. Một tuần, sau khi Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XII bế mạc, chúng liền “khuấy đục ngầu Biển Đông”.

Chúng điên cuồng cho phép Hải cảnh Trung Cộng được nổ súng vào các tàu thuyền nước ngoài ở đó. Động thái này, chắc chắn, không nhằm vào Hoa Kỳ, không nhằm vào Nhật Bản và cũng không nhằm vào Phi Luật Tân. Đơn giản, Mỹ đã công khai tuyên bố, sẽ bảo vệ đồng minh Phi ở Biển Đông. Không nói, ai cũng biết, bia của Hải cảnh Trung Cộng, là ngư dân của nước nào.

Tiếp đó, tình trạng yên bình về dịch bệnh chấm dứt. Việt Nam phải đối đầu với đợt bùng phát dữ dội của cúm Vũ Hán chủng mới, ngay trước thềm Đại hội lần thứ 13 và chẳng có dấu hiệu nào cho thấy, nó sẽ ngừng lại.

Còn nguy cơ thứ 3, con đê Kinh tế Việt Nam sẽ bị nhấn chìm hoàn toàn, ngay sau khi Tổng Trọng thực sự thất thế.

Tất cả những sức ép này, đặt ra một phép thử rất lớn đến tính Độc lập của Đảng Cộng sản Việt Nam và đặt lên vai những Đại biểu dự Đại hội lần thứ 13 một trọng trách nặng nề: Họ có dám buông xuôi, để “tự diễn biến, tự chuyển hóa” và coi Đảng CS Việt Nam quang vinh của mình chỉ ngang bằng với những băng đảng thổ phỉ có tổ chức lỏng lẻo và coi Điều lệ Đảng chỉ giống như một miếng giẻ rách, mà đảng trưởng “thích thì thay”.

Xem thế mới biết, Tập tiên sinh là một yếu nhân, nhưng không phải là đỉnh của đỉnh. Tập mà phục thiện, Dân già sẽ chỉ cho y một cách đơn giản mà hiệu quả hơn nhiều. Đó là, “Vì dịch cúm Vũ Hán đang lan rộng, chúng ta cần hạn chế tụ tập đông người. Do đó, tạm ngưng tổ chức Đại hội Đảng các cấp”. Ngưng 2 năm, Cả Trọng ở lại thêm nửa nhiệm kỳ. Ngưng 5 năm, Cả Trọng ngồi ngôi thêm một nhiệm kỳ nữa. Trong mọi trường hợp, chẳng ai dám ho vào háng của chàng. Vẫn biết, đó là cái lý của người Mèo và là cái lý do củ chuối.

Tuy vậy, đóng cửa chuồng vịt, vẫn hiệu quả gấp vạn lần so với “thả vịt ra rồi đi đuổi”.

Địa ngục xanh Việt Nam – Phần 12: “Helgoland” – “Con tàu của hy vọng”

 

Địa ngục xanh Việt Nam – Phần 12: “Helgoland” – “Con tàu của hy vọng”

Tác giả: Helmut P. Müller

Dịch giả: Phan Ba

19-1-2021

Tiếp theo Phần 1 — Phần 2 — Phần 3 — Phần 4 — Phần 5 — Phần 6 — Phần 7 —  Phần 8 — Phần 9 — Phần 10 và Phần 11

“Đất nước này đau ốm vì hoàn cảnh sống, không chỉ vì chiến tranh.” Người bác sĩ 38 tuổi, Tiến sĩ Gerhard Freilinger từ Wien, buồn bã nói. Từ khi ông ở Việt Nam – hai tháng nay – như là bác sĩ, ông đã “nhìn và trải nghiệm nhiều hơn là với công việc nhiều năm trời tại Bệnh viện Phẫu thuật Đại học II ở Wien”.

Freilinger, bác sĩ chuyên về phẫu thuật thẩm mỹ, là một trong số ít những người tình nguyện sang Việt Nam sau khi nghe được rằng chuyên viên y khoa đang rất cần ở đó – đặc biệt là những người mà tài nghệ bác sĩ của họ rất cần cho những nạn nhân đáng thương nhất của cuộc chiến này: những người đàn ông, đàn bà, trẻ con vô danh mà gương mặt họ đã bị chiến tranh tàn phá, đốt cháy, làm tan biến nét người. Ông bác sĩ từ Wien biết những gì chờ đợi mình ở Việt Nam. Nhưng hiện thực tồi tệ hơn rất nhiều. “Nó vượt quá mọi khả năng tưởng tượng.”

Freilinger làm việc tại hai bệnh viện, ở bệnh viện quân đội Cộng Hòa cũng như tại bệnh viện dân sự Chợ Rẫy. Hằng ngày, ông nhìn thấy những gương mặt không còn là gương mặt nữa. Ông ấy cần phải chữa lại những dấu vết thật khủng khiếp của cuộc chiến này, những cái nội trong vài giây đồng hồ đã biến dạng những con người lành mạnh nhiều đến mức không còn có thể nhận ra được nữa. “Sáng hôm nay họ mang đến cho tôi một cậu bé mười tuổi”, người bác sĩ nói. “Chiếc xe buýt mà cậu bé đi ở trên đó đã chạy qua một trái mìn.

Cậu bé bị mất một nửa gương mặt bên trái và quai hàm. Hầu như không thể phẩu thuật cho cậu bé ấy được nữa.” Đầu tiên thì thiếu những loại thuốc cần thiết. Rồi trong lúc mổ, người ta còn đẩy vào phòng mổ hai ca còn nặng hơn thế nữa. Sau đó, máy điều hòa bị hỏng. Và do vậy mà ruồi bay vào. “Cả bầy ruồi lao vào gương mặt của cậu bé”, Freilinger nhớ lại, “chúng đẻ trứng ngay vào giữa vết thương còn mới, và điều tồi tệ nhất trong lúc đó là người ta không thể ngăn chặn được điều ấy. Thêm vào đó là cái nóng nực. Tất cả những điều ấy khiến cho ngưởi ta tuyệt vọng…”

Người bác sĩ từ Wien tiến hành phẩu thuật bốn giờ liền cho cậu bé bị trọng thương, rồi em được mang sang một phòng bệnh kế cận trên một cái cáng. “Nhưng phòng bệnh ở Việt Nam ra làm sao kia chứ”, Tiến sĩ Freilinger nói. “Cậu bé ấy phải chia sẻ giường của mình với một người bị thương khác. Và rồi người thân ngồi xung quanh đó: Họ sắp xếp đồ đạc ở lại trong bệnh viện để chăm sóc cho người bệnh của họ. Và không có khả năng nào để ngăn chận điều đó. Họ nấu nướng ở đó, họ ăn và họ nằm xuống ngủ quanh những chiếc giường bệnh trên sàn nhà. Tôi có còn phải nhấn mạnh rằng sự dơ bẩn không thể tưởng nào đã tụ lại ở đó không? Nhưng tình trạng ấy là không thể thay đổi – vệ sinh là từ ngữ xa lạ ít được biết đến nhất trong những từ ngữ xa lạ.”

Cả sự chăm sóc tiếp theo sau đó cho bệnh nhân – dưới con mắt của một người Âu – cũng thiếu thốn. “Bác sĩ trong các bệnh viện nhận tiền lương tháng 240 Mark. Đó có là bao nhiêu trong một đất nước mà vòng xoáy lạm phát quay tít? Họ khám bệnh thêm ở phòng mạch tư nhân. Cuối cùng thì không còn nhiều thời gian cho công việc ở bệnh viện…”

Y tá thì không thể khám tư để qua đó tự bảo đảm cho mình có một thu nhập cần thiết cho cuộc sống. Tức là họ tìm đường khác. “Khômg hiếm lần tôi nhận thấy rằng bệnh nhân hoàn toàn không nhận được những loại thuốc hậu phẩu thuật theo quy định.” Tiến sĩ Freilinger phẩy tay tỏ vẻ cam chịu. “Vào lúc đầu tôi đã la lối om sòm – nhưng không lâu sau đó tôi đã chịu thua, vì không ai quan tâm đến điều đó cả. Một phần thuốc men được liên tục bán ra chợ đen, và thật ra thì còn một cách để cho thuốc có thể đến được với bệnh nhân: người ta phải kê ra toa liều lượng gấp đôi. Một phần cho chợ đen, phần kia cho bệnh nhân. Người ta phải tính trước điều đó…”

Tình trạng ở đằng sau lưng của cuộc chiến là những cái gây chán nản. Sự suy sụp của đạo đức, hệ quả tất yếu của sự vô vọng: Cuộc chiến này không có kết thúc – tức là người ta phải sống chung với chiến tranh – bằng cách nào cũng được. Người này thì đánh cắp hàng hóa của Mỹ, người kia bán chúng. Người thứ ba lừa đảo lúc đổi tiền lậu, người thứ tư buôn lậu thuốc chữa bệnh và người thứ năm trở nên giàu có bởi những cô gái sống trên vũng bùn của chiến tranh như những con chuột trên đống rác…

13.000 quán bar ở Sài Gòn là nơi chuyển đổi tình yêu, cơn say và đồng dollar. Ai được phép rời khỏi địa ngục vài ngày thì không cảm thấy đó là phiền toái khi bị lột sạch tiền. Ở Sài Gòn, anh ta có thể quên đi – đánh đổi bằng đồng dollar cứng và cho những khoảnh khắc ngắn ngủi. Ở đây, rừng rậm được mạ crôm và có một gương mặt bằng đèn neon. Rồi tình yêu, nhục dục và thói xấu tự trần trụi phơi bày trước những ánh mắt thèm khát, thiếu thốn…

“Hôm qua tôi có gặp một hạ sĩ quan Mỹ”, Tiến sĩ Freilinger nói, “anh ta tiêu tiền dollar theo kiểu vứt ra cửa sổ. Sau khi rượu Whisky làm mềm lưỡi của anh ta, anh ta tiết lộ công thức của mình: ‘Anh phải cưới một cô gái Việt, bác sĩ ạ’, anh ta nói lè nhè, ‘rồi thì tiền tự nó đến thôi.’ Người ta phải làm như thế nào? Hết sức đơn giản: Người ta trở thành một ông chủ quán bar qua hôn nhân. Người Mỹ bị cấm đầu tư như vậy, vì chỉ có người Việt là có thể đầu tư thôi – nhưng ai mà kiểm tra kia chứ. Thế là người hạ sĩ cưới một cô gái Việt, người mở một quán bar với tiền của anh ta. Tiền bắt đầu bay vào từ lúc đó. Một ngày nào đó, người ta sẽ gởi anh ta trở về Mỹ. “Rồi thì sao, hạ sĩ’, tôi hỏi anh ta. ‘Đơn giản lắm’, anh ta trả lời tôi, “tiền thì tôi mang theo, còn con búp bê thì để lại đây. Tôi nghĩ rằng đó là một cuộc kinh doanh tốt cho cả đôi bên…”

Không chỉ người bác sĩ Áo – không, nhiều nhà quan sát cho rằng những vết thương tồi tệ nhất ở Việt Nam là những vết thương lở loét ra ở hậu phương: Sự suy tàn của trật tự, của tinh thần trách nhiện, của sự bình đẳng xã hội, của nhận thức đạo đức. “Ngay cả sự giúp đỡ có ý tốt nhất cũng chỉ còn là sự việc đơn lẻ dưới những khía cạnh đó”, tiến sĩ Freilinger nói. “Điều mà người dân ở đây thiếu, đó là nhận thức rằng họ phải tự giúp mình – vượt ra khỏi tính thụ động nguy hiểm và sự lười nhác, những cái đã để cho các phần còn lại cuối cùng của tinh thần trách nhiệm cũng lụi tàn đi.”

“Những chiến dịch giúp đỡ có hiệu lực nhất trước sau vẫn là những chiến dịch mà sự thành công của nó phụ thuộc trực tiếp vào sự cộng tác của người Việt”, một viên đại tá giải thích trong Bộ Tổng Chỉ huy Quân đội Mỹ. “Trong đất nước bị bùa mê này, giúp đỡ chỉ có ý nghĩa khi nó đòi hỏi tự mình phải nổ lực. Đó là nguyên tắc chung, và ở đó chỉ có một vài trường hợp ngoại lệ.”

Một trong số đó, viên đại tá nói, là chiếc tàu bệnh viện “Helgoland” – ở đó “người ta làm việc rất tốt”. Chỉ có một điều là viên đại tá không hiểu cho lắm. “Thỉnh thoảng người ta nghe được rằng ở Đức có nhiều sóng gió vì con tàu đó – thật ra thì tại sao kia chứ? Tôi đã không hiểu được vì chiếc ‘Helgoland’ – trước mọi ánh mắt – đã tự chứng tỏ mình một cách xuất sắc. Mọi người đều hưởng lợi từ con tàu ấy – phía bên này cũng như phía bên kia. Cuối cùng thì đó là một truyền thống trên khắp thế giới. Ai mang huy hiệu của Hồng Thập Tự đều không phải là người lính mà là người giúp đỡ – anh ta đứng giữa các chiến tuyến. Điều này cũng đúng ở Việt Nam. Tất nhiên là đã có những khó khăn nào đó”, viên đại tá thừa nhận, “nhưng thứ nhất là: ở đâu mà không có khó khăn? và thứ hai là: một vài mâu thuẫn cá nhân có nghĩ lý gì khi so với những thành tựu đạt được?”

Đây cũng là ý kiến của một luật sư ở Sài Gòn, người mà người Mỹ không thích lắm vì ông ta có đường dây liên lạc với Việt Cộng. “Chiếc tàu ấy là một việc tốt”, ông luật sư nhấn mạnh. “Khi một người đáng thương với một cánh tay bị bắn nát đến đấy thì anh ta có thể chắc chắn rằng sẽ được giúp đỡ – và không hề có những câu hỏi gây bối rối được đặt ra. Tôi nghĩ là điều này cũng đã lan truyền nhanh chóng ở bên Việt Cộng.” Mặc dù vậy, ông luật sư vẫn chỉ ra: “Rất đáng tiếc, ở tại Sài Gòn là con tàu nằm không đúng chỗ. Lẽ ra nó phải ở nơi cuộc chiến gây tác hại nhiều nhất cho người dân – ở cạnh khu phi quân sự, ở gần Đà Nẵng hay Huế. Trong số hơn 34 000 người bị thương trong năm vừa qua, có hơn hai phần ba sống trong vùng này. Một chiếc tàu như thế thuộc về nơi đó, chứ không phải ở Sài Gòn, nơi những người hưởng lợi từ chiến tranh đang tự vỗ béo mình…”

Những khó khăn đầu tiên với con tàu “Helgoland” bắt đầu ngay từ trước khi con tàu nguyên là một con tàu chở khách du lịch tắm biển khởi hành chuyến đi đến Việt Nam cho tổ chức Hồng Thập Tự: Trong giới chính phủ ở Bonn (Hồng Thập Tự Đức trong trường hợp này thì chỉ là cơ quan tiến hành của chính phủ liên bang) người ta ủng hộ quan điểm – “giúp đỡ vật chất vâng – nhưng không gửi người sang Việt Nam!” Nỗi lo sợ, rằng bác sĩ và y tá với huy hiệu Hồng Thập Tự trên tay áo khoác có thể bị nhẩm lẫn với những người tham gia chiến tranh(!), đã làm tê liệt sức lực quyết định của những người có trách nhiệm cả một thời gian dài.

Mãi đến khi Hội Hồng Thập Tự Đức thúc giục ngày càng mạnh mẽ hơn, người ta mới gởi – một ủy quan nghiên cứu sang Việt Nam. Các thám thính viên của Quốc Hội tìm hiểu về điều mà hẳn là không cần đến cả một ủy ban: “Không có sự lo ngại nào về việc gửi một con tàu bệnh viện Đức!” Cuối cùng, đèn xanh được bật lên. Vào ngày 14 tháng 9 năm 1967, chiếc tàu 3000 tấn tổng trọng tải đăng ký được cải tạo thành bệnh viện đã thả neo ở “Quai de Belgique”, nơi đẹp nhất và đắt tiền nhất ở Cảng Sài Gòn…

Cũng hoàn toàn không phải là mọi cánh cửa đều mở rộng. Còn ngược lại: Những con người đến để giúp đỡ, ít được giảng giải trước về tính cách của người Việt, chẳng bao lâu sau đó đã vấp phải những cạm bẫy và khó khăn hoàn toàn không tương xứng với nhiệm vụ có ý tốt của họ và thật khó hiểu đối với họ cả một thời gian dài. Niềm vui của họ về nơi neo tàu có giá rẻ – họ sớm nhận ra điều ấy – cũng không được tất cả mọi người cùng chia sẻ: Trước hết, dường như quan điểm về con tàu “Helgoland” rất khác nhau trong một phần giới lãnh đạo của Nam Việt Nam. Và điều ấy có những lý do rất thực tế, không có liên quan gì đến Hội Hồng Thập Tự lẫn người Đức…

Ở Sài Gòn, ai cũng biết rằng cái bệnh dịch tồi tệ nhất chính là bệnh dịch của các thu nhập thêm. Người ta nói với nhau rằng ở hậu phương lúc nào cũng có thể hưởng lợi từ chiến tranh – người ta chỉ cần ngồi đúng ghế và có những mối quen biết sinh lợi. Rồi thì người ta nhanh chóng có phần từ cái nguồn thu nhập mà ở Việt Nam được gọi là “thuế”. Ai muốn sống an toàn trong chiến tranh đều sẵn lỏng trả tiền cho sự bảo đảm an ninh này. Vì vậy mà không chỉ khách sạn, siêu thị mua sắm, quán bar và cửa hàng mua bán – mà cả cảng Sài Gòn cũng thuộc vào các nguồn béo bở của những người có quyền lực và ảnh hưởng. Vì mỗi một chiếc tàu neo ở đây một mặt thì muốn nhà chức trách để yên cho mình – mặt khác thì cũng không muốn bị gài mìn đánh bom. Người ta trả tiền bên này cho điều thứ nhất, trả tiền bên kia cho điều thứ hai. Cũng vì vậy mà Việt Cộng cũng biết đánh giá cao Cảng Sài Gòn.

Tất nhiên là chiếc Helgoland không trả “thuế”. Cuối cùng thì chính Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ là người đã để cho “Con tàu Hy vọng” – như chiếc Helgoland được gọi ngay từ đầu – sử dụng “Quai de Belgique” như là một món quà chào mửng. Thế nhưng tiếng nói quyền lực của ông ấy lại làm giảm đáng kể thu nhập của một người ở cận kề ông ta: người phó của ông ta, Tổng trưởng Quốc phòng Nguyễn Hữu Có, không còn thu lợi – như tới nay – từ những lệ phí bất hợp pháp ấy cho nơi neo đậu sáng giá nhất Sài Gòn.

Không ai ngạc nhiên khi ông Tổng trưởng Quốc phòng tức giận và trút nỗi bực dọc của mình lên những người thực sự không hề biết gì về các tập tục tham nhũng của Sài Gòn: lên các thành viên của đội ngũ tàu Helgoland. Lời chào mừng của người dân thường tại Sài Gòn nồng ấm cho tới đâu thì sự lạnh lùng vào lúc ban đầu từ một số cơ quan nhất định dành cho đội ngũ giúp đỡ nhân đạo của người Đức hẳn phải có tác động đè nặng tới chừng ấy.

“Một số người đã nghĩ rằng sự việc ở đây dễ dàng hơn”, bác sĩ trưởng, Tiến sĩ Heimfried Nonnemann, nhớ lại công việc làm trong những tháng đầu tiên, “nhưng chúng tôi thường gặp phải những khó khăn không thể hiểu được. Thật là chỉ có thể khen ngợi các thành viên trong đội ngũ, rằng mặc dù vậy nhưng họ vẫn cương quyết tiến hành nhiệm vụ của chúng tôi. Những tháng đầu tiên ấy thật là rất khó khăn.”

Mọi việc chỉ tốt lên khi Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ hành động mạnh mẽ: Vào ngày 25 tháng 1 năm 1967, ông thông báo bằng điện tín cho người phó của ông đang trên đường đi công tác ở Đài Loan, rằng ông ta sẽ bị đưa ra xử trước một tòa án quân sự vì tội tham nhũng. Bắt đầu từ đó không còn có cạm bẫy cho “Helgoland” nữa, những cạm bẫy mà đã được đặt xuống trong khu rừng rậm đen tối và không thể hiểu thấu được của những cuộc kinh doanh bẩn thỉu…

“Dù vậy, nhiệm vụ của chúng tôi có vẻ như khó thể hoàn thành được”, Tiến sĩ Nonnemann nhớ lại. “Chúng tôi có tối đa 150 giường bệnh. Điều có có nghĩa lý gì cho thành phố triệu dân Sài Gòn? Trong những tuần đầu tiên,sáng nào cũng có hàng ngàn người bệnh tìm đến tàu. Đó thật sự là một cuộc bao vậy. Người dân đơn giản tin rằng: Chiếc tàu này với chữ thập đỏ – đó là sự cứu vớt cho chúng ta.”

Chậm nhất là đến thời điểm này thì có thể thấy rằng một con tàu bệnh viện ở Việt Nam còn không thể là một giọt nước trên hòn đá nóng – thiếu thốn chăm sóc y tế cho hàng triệu người đã và vẫn là một vấn đề lớn cho tới mức 150 giường bệnh hoàn toàn không có một trọng lượng nào cả. Không ít người đã viện cớ điều này để phê phán “việc làm vô nghĩa của ‘Helgoland'”.

Phải nói rõ với những người phê phán này: Con tàu “Helgoland” đến Việt Nam không phải để giải quyết một vấn đề và thay đổi tình cảnh chỉ qua một đêm – nó đã và vẫn chỉ là biểu tượng cho một hành động nhân đạo và hẳn là đã được người Việt hiểu và bày tỏ lòng kính trọng cũng như đánh giá cao. Ai nghĩ như thế thì đối với người đó sẽ không có ý nghĩ rằng liệu chi phí tài chánh có tương xứng với lợi ích hay không. Những gì mà các bác sĩ, nam nữ y tá và thủy thủ đoàn của “Helgoland” đã đạt được thì không thể mang 7,5 triệu DM chi phí cho con tàu năm 1966 ra để mà cân đo được…

“Vào ngày đầu tiên bắt đầu hoạt động ngay giữa Sài Gòn, chúng tôi đã thành lập một trạm khám”, một trong số tám bác sĩ của con tàu bệnh viện nói. Chỉ qua đó, chúng tôi mới có thể bảo đảm điều trị nội trú cho bất cứ ai thật sự cần đến. Không ai được nhận lên tàu ‘Helgoland’ mà không được khám trước ở trạm khám và rồi được chuyển từ đó vào – ngoại trừ trường hợp khẩn cấp. Hằng ngày chúng tôi khám bệnh cho khoảng 150 bệnh nhân trong trạm khám này. Sau đó mới quyết định ai được nhận lên tàu đề điều trị nội trú.”

Nhờ vậy, sau gần một năm hoạt động, con tàu “Helgoland” đã có thể công bố một tổng kết đáng kể: Cho tới ngày 15 tháng 9 năm 1967 tổng cộng có 27.300 bệnh nhân được điều trị, trong đó là 1620 ca điều trị nội trú. Mỗi tháng một lần, những chiếc giường trong gian phòng khách lớn của con tàu chở khách du lịch ngày xưa có bệnh nhân mới. Gần 40% những bệnh nhân được chuyển vào là những người bị thương vì tai nạn, những người còn lại chủ yếu là người mắc bệnh lao và bệnh nhân với những dấu hiệu tê liệt. “Chúng tôi có đặc biệt nhiều ca mưng mủ xương, được gọi là viêm tủy xương”, bác sĩ trưởng Tiến sĩ Nonnemann tường thuật.

“Căn bệnh này hầu như không được biết đến ở bên chúng ta, nhưng ở Việt Nam thì lại phổ biến, vì nhiều vết thương không lành lại và người dân thường sống với một chế độ ăn uống nằm ở dưới mức cần thiết nhất. Đối với chúng tôi, những bệnh nhân này là một gánh nặng: điều trị cho họ phải cần nhiều tháng, qua đó mà nhiều giường bệnh không trống được, Nhưng – lẽ nào chúng tôi lại từ chối những con người đáng thương không được ai giúp đỡ đó?”

Gần 20% bệnh nhân của tàu “Helgoland” là trẻ em – và không hiếm khi các em bị chiến tranh đánh dấu mãi mãi. “Là bác sĩ thì người ta đã quen với nhiều thứ – nhưng khi nhìn thấy những đứa bé ấy với những vết thương khủng khiếp do mảnh đạn gây ra thì hầu như khi6ng thể chịu đựng được. Có một mảnh đạn bé tí có trọng lượng chừng 1 gram đã rạch tung hết cả vùng bụng của một đứa bé. Có đôi lúc chúng tôi đứng gần như bất lực trước những vết thương như vậy…”

Tiến sĩ Nonnemann, người bác sĩ trưởng 32 tuổi, người được khen ngợi nhiều ở Sài Gòn vì con tàu “Helgoland” được cho là bệnh viện tốt nhất và sạch sẽ nhất của cả nước, nói thêm, không phải là không tự hào: “Nhưng cho đến nay thì chúng tôi đã có thể chữa trị cho tất cả những em đó. Tuy vậy, có đôi lúc người ta phải tự hỏi như là một con người: có phải là tốt hơn không, khi cái chết giải thoát cho các em – những đứa trẻ không có làng mạc, không có quê hương, không có gia đình đó?”

Chỉ cần nghĩ đến em gái Su Chan. Ngày nào đó, một chiếc xe cứu thương mang em đến tàu Helgoland. Phải cần đến ba lần mổ mới có thể khiến cho thân thể bị mảnh đạn tàn phá ấy có khả năng sống tiếp. Cuối cùng, cô bé ấy còn phải chịu đựng một ca phẩu thuật gương mặt kéo dài bốn giờ đồng hồ: một trong các mảnh đạn đã giật đi một phần quai hàm. Không một tiếng ta thán và với sự kiên nhẫn đặc trưng của người Á châu, cô bé Su Chan đã chịu đựng mọi đau đớn. Cô bé đã vui mừng vô bờ bến trong lúc mong chờ trở về nhà…

Nhưng rồi một ngày nào đó chiếc xe cứu thương lại đến. Nó mang đến hai đứa bé đạp phải mìn lúc chơi đùa. “Anh làm ơn”, một trong các bác sĩ nói và chỉ tay vào cô bé Su Chan, “mang cô bé này về gia đình của em ấy đi.” Người tài xế bước tới cô bé và hỏi tên ngôi làng của cô. Su Chan tươi tắn trả lời. Ông tài xế người Việt suy nghĩ trong khoảnh khắc rồi kéo người bác sĩ ra nói riêng: “Xin lỗi, thưa ông”, ông ấy nói, “nhưng tốt nhất là ông nên giữ cô bé ấy lại đây. Không ai trong gia đình em còn sống sót hết. Không còn ai sống ở đó nữa – cả ngôi làng đã bị phá hủy rồi. Chỉ còn là đất hoang thôi.”

“Những trường hợp như vậy hay xảy ra” – Tiến sĩ Nonnemann nói những lời này vớ vẻ gần như là cam chịu. “Đôi lúc chúng tôi nỗ lực nhiều tuần liền vì sinh mạng của một đứa bé để rồi cuối cùng mới biết rằng không còn ai nhận đứa bé về nữa.”

Không hiếm lúc các bác sĩ của tàu “Helgoland” nhận thư từ Đức mà trong đó người gửi viết rằng: “Hãy gửi cho chúng tôi một đứa bé như vậy – chúng tôi chịu toàn bộ chi phí và sẽ nuôi nấng cháu như con ruột của chúng tôi.” Dù cử chỉ nhân đạo này thật đáng ngưỡng mộ – cho tới nay Tiến sĩ Nonnemann đều luôn khuyên không nên làm như thế. “Anh xem đấy – những đứa bé ấy được đặt vào một thế giới hoàn toàn xa lạ với hoàn cảnh sống và khí hậu của các em, đến mức người ta phải lo ngại những gì xấu nhất. Các cháu chỉ có một cơ hội thật sự, khi người ta nhận nuôi các cháu ở đây.

Điều tốt nhất là xây dựng những trại mồ côi hiện đại và ảo đảm cho cuộc sống tiếp tục qua học bổng…” Áp lực mà các bác sĩ, trợ tá, nam nữ y tá phải chịu đựng trong lúc làm việc ở Việt Nam lớn cho tới mức hợp đồng chỉ có hạn sáu tháng. Có thể gia hạn, nhưng chậm nhất là sau một năm thì các thành viên của Hội Hồng Thập Tự sẽ được thay thế. Vì vậy mà vào ngày 1 tháng 7 năm 1967, một bác sĩ trưởng mới đã tiếp nhận con tàu – tiến sĩ Jäger 67 tuổi.

Nhưng một giai đoạn thử thách mới cũng bắt đầu cho chiếc “Helgoland”: Đi đường vòng qua Singapore, nơi con tàu được tu bổ và cung cấp các vật liệu và thuốc chữa bệnh cần thiết nhất, vào đầu tháng Mười nó đã bắt đầu con đường đi đến một trong những điểm nóng của cuộc chiến. Trong tương lai, “Helgoland” sẽ thả neo ở cảng Đà Nẵng, cách Sài Gòn 900 kilômét về phía Bắc. Như thế, nó nằm trong vùng mà chăm sóc y tế còn tệ hơn cả xấu nữa – một bệnh viện cho 800.000 người!

“Chúng tôi rất vui mừng về lần chuyển đổi này”, như Tiến sĩ Jäger nói, “lần đầu tiên, chiếc ‘Helgoland’ được chỉ định đến nơi đang cần nó nhất – tức là trong vùng có chiến tranh. Chúng tôi biết rõ rằng qua đó sẽ có những nhiệm vụ mới, có thể là khó khăn hơn, sẽ đến với chúng tôi. Vì bắt đầu từ bây giờ, chúng tôi sẽ tiếp nhận đặc biệt nhiều người bị thương nặng. Nhưng tuy vậy: Hoạt động của chiếc ‘Helgoland’ sẽ luôn tương xứng với biểu tượng của Hội Hồng Thập Tự – con tàu này không biết bạn hay thù, nó rộng mở cho tất cả những ai cần sự giúp đỡ của chúng tôi…”

“Toàn bộ những biện pháp giúp đỡ ấy, hàng trăm kế hoạch, cuộc chiến tranh tâm lý được vực dậy – cứ tin tôi đi, tất cả đều là vô nghĩa”, Thiếu tá Charles D. Gordon, chỉ huy Tiểu đoàn Hàng không Chiến đấu 13 (13th Combat Aviation Battalion) ở đồng bằng Cửu Long rên lên. “Cho tới khi nào mà những chương trình đó không được mang về một mẫu số chung thì chúng đều vô hiệu quả, bởi vì thường là vẫn còn chưa có tiêu chí cho cả sự giúp đỡ mang ý tốt nhất nữa.

Những gì chúng tôi cần là hệ thống hóa, một cơ quan trung tâm điều phối tất cả – các hoạt động quân sự, chương trình giúp đỡ, công cuộc tái xây dựng và trước hết là quá trình hướng dẫn chậm chạp đưa người dân ở đây đi đến trách nhiệm và tự lập. Chúng tôi vẫn còn chưa hiểu rằng ở đây chúng tôi đang gặp phải một cuộc chiến tổng lực không để cho người ta phân chia nó ra thành những thành phần mà rồi từ đó mỗi phần tiến hành cuộc chiến tranh của nó.”

Charly, như những người lính Mỹ gọi viên chỉ huy chỉ cao 1 m 67, được tặng thưởng huy chương mười bốn lần của họ, không đơn độc với quan điểm của ông ấy. Tại những tâm điểm mặt trận của Nam Việt Nam, những người lính không càu nhàu về chiến đấu và chiến tranh – “giờ đây thì chúng tôi đã tham gia vào cuộc chiến”, như một tướng lãnh Thủy quân Lục chiến nói, “mẹ kiếp, bởi vậy mà chúng tôi cũng phải mang việc này đi đến kết thúc” – không, những gì làm cho họ bực dọc là cái mớ rối rắm của sự lộn xộn thường không có kế hoạch ấy, một bộ máy quản lý cồng kềnh mà cả những người thám thính tài giỏi nhất cũng không còn biết lối đi nữa. Nơi người ta mày mò và mò mẫm hằng ngày – và rất đáng tiếc là thường hay thừa thãi.

“Một ngày nào đó, một ngôi làng trong tỉnh của tôi bị lôi vào vòng”, một đại tá hầm hừ nói. “Tại một thành phố nhỏ ở Arkansas, người ta tổ chức một Tuần Viện Nam. Kết quả là có hai mươi con heo nái giống được quyên tặng và được chở máy bay sang Việt Nam với chi phí rất lớn. Bây giờ thì tôi có nhiệm vụ mang những con vật ấy đến trao cho ngôi làng. Anh nghĩ xem có bao nhiêu sự rùm beng quanh đó chứ: báo chí, truyền hình, quan chức. Vâng, rồi vào sáng ngày hôm sau – những con vật ấy biến mất, 20 con heo nái ấy. Việt Cộng bắt đi 14 con, còn dân làng thì ăn 4 con còn lại. Sau vài ngày, ông trưởng làng đến và than thở: Rất đáng tiếc là VC đã bắt đi 14 con heo nái giống đẹp và béo ấy, và bây giờ thì họ hỏi là khi nào thì có nữa. Chúng tôi chắc chắn là có rất nhiều…”

Không, viên đại tá và nhiều người khác ở Việt Nam có một tưởng tượng khác về giúp đỡ và chương trình hành động: “Mọi biện pháp phải được thắt chặt, điều phối và mang về một mẫu số hiệu quả. Dân sự và quân sự phải cùng chung một khẩu hiệu: Chúng ta phải hành động có hệ thống hơn. Nếu không thì chỉ làm lợi cho Việt Cộng,” Và đó là bóng ma bí mật đáng sợ của người Mỹ: rằng từ việc đánh giá sai lầm tâm tính người Việt mà sẽ đi từ sai lầm thứ một trăm đến sai lầm thứ một ngàn, mặc dù có ý định tốt đẹp. Họ không đau buồn vì cuộc chiến – họ khổ sở với tình trạng nội bộ phức tạp của đất nước hết sức rối rắm này, đất nước mà về cơ bản là vẫn xa lạ đối với họ. Xa lạ cho tới mức họ đầu tư hàng triệu cho tâm lý và tuyên truyền, những thứ thường tắt tiếng dần trong rừng rậm trong khi người cộng sản bị kết tội nói dối rẻ tiền, trắng trợn và mặc dù vậy vẫn tận dụng được nó. Ý muốn nói ở đây là người anh hùng Việt Cộng Nguyễn Văn Bé đang trên đường đạt đến danh tiếng vĩnh cửu ở Việt Nam…

Dân biết cả đấy – thưa ông

 

Dân biết cả đấy – thưa ông

Blog VOA

JB Nguyễn Hữu Vinh

29-1-2021

Có lẽ một trong ít câu nói của Nguyễn Phú Trọng mà tôi đồng ý, đó là câu “Dân biết cả đấy” khi ông ta nói về công tác cán bộ. Rằng cán bộ phải thế nọ, phải thế kia đừng thế này, đừng thế khác… vì “dân biết cả đấy”.

Đã từ rất lâu, trước khi Đại hội 13 ĐCSVN tiến hành, thì khắp nơi mọi chốn vấn đề nóng nhất vẫn là kết quả cuộc xổ số có tính chất quốc gia: Nhân sự sau đại hội đảng.

Vấn đề được gọi cho hoa văn, cho mỹ miều là “nhân sự” thực chất là việc chia chác ghế bàn trong bàn cờ chính trị Việt Nam sẽ ra sao, sau một đợt chia chác lại bằng cái gọi là “Đại hội đảng”. Những chiếc ghế quyền lực nào được giao vào ai, người nào sẽ ngồi lên ghế đó và phe nhóm nào sẽ thắng thế trong cuộc đấu âm thầm nhưng khốc liệt này…

Thật ra, những lời bàn luận, những tranh cãi, những lưu ý của cộng đồng mạng hay dư luận xã hội, chỉ là sự tò mò của nhiều người lắm khi rỗi việc mà thôi. Còn nếu nói người dân quan tâm đến những con người đó, những chiếc ghế đó để hy vọng điều gì tốt hơn, thì chỉ là sự hão huyền và ảo tưởng.

Bởi dù là ai, là nhân vật nào, dù có tài giỏi hay tốt đẹp đến đâu, ngồi vào những chiếc ghế quyền lực trong hệ thống này, khi hệ thống tư tưởng chưa hề thay đổi, thể chế cộng sản vẫn còn, thì tất cả đều như nhau và đều… đểu.  Chẳng ai hy vọng gì một sự đột phá hay cách mạng. Chiếc vòng kim cô Mác – Lenin, sự bạo tàn và thói ích kỷ, kiêu ngạo của người cộng sản bủa vây quanh họ, không để cho họ bất cứ một lối thoát nào ra khỏi thể chế độc tài đó.

Thế nhưng, không phải vì thế mà những thông tin gọi là dư luận, là vỉa hè kia là không đúng, không chính xác. Nhiều khi, những thông tin đó còn đúng hơn cả thông tin chính thống. Thậm chí, nhiều khi những thông tin từ dư luận đã buộc hệ thống chính trị lúng túng mà thay đổi luôn cả nội dung chính những kịch bản đã được soạn sẵn cho những vấn đề đã xảy ra.

Trước khi đại hội 13 của ĐCSVN khai mạc, nhiều thông tin về những cuộc đấu đá dữ dội trong nội bộ đảng CSVN được đưa ra dư luận bằng nhiều cách, nhiều ngõ ngách đã cho thấy rằng: Khi sự độc tài đến đỉnh điểm, thì mọi điều đều có thể xảy ra mà không gây bất ngờ cho bất cứ ai.

Những cuộc mặc cả, đấu đá, loại bỏ lẫn nhau bằng nhiều phương pháp, bằng nhiều cách, đặc biệt sử dụng chiêu “Chống tham nhũng”, “đốt lò”… đã có tác dụng và hiệu quả cho phe thắng thế trong đảng.

Và những tiềm năng, những cơ hội của “phe củi” đã vị vặt đến mức tối đa. Hàng loạt quan chức được đưa lên thần tốc, làm mưa làm gió thời Nguyễn Tấn Dũng bị đưa vào lò bất kể “củi tươi hay củi khô”. Kể cả những kẻ có chiếc “Kim bài miễn tử” mang tên Ủy viên trung ương, thậm chí Ủy viên Bộ chính trị cũng không thoát khỏi cuộc thanh trừng nội bộ.

Điều đó khá rõ ràng, bởi điều ai ai cũng biết, dưới thời Nguyễn Tấn Dũng, vai trò của Đảng bị Dũng coi nhẹ và Dũng đã hoành hành như chốn không người, coi đảng chẳng ra gì. Và đó là cái tội lớn nhất của Dũng mà Nguyễn Phú Trọng không thể tha thứ ngay cả khi đã tuyên bố “về làm người tử tế”.

Tương tự, những trường hợp, kể cả là tội phạm của “phe lò” được che chắn lỹ lưỡng và đưa ra mặc cả sát sạt. Nhiều nhân vật thuộc “phe lò” bị báo chí nhắc đến, bị người dân chỉ mặt, vạch tên rõ ràng bởi không chỉ vi phạm mà là tội phạm hẳn hoi như Vũ Kim Cự, người trực tiếp có trách nhiệm vụ đưa Formosa và đầu độc biển Hà Tĩnh hay nhiều nhân vật khác đều “bị hạ cánh an toàn”.

Thế nhưng, phe này bại thì nhóm khác lại nổi lên, chỉ vì đơn giản là chưa bao giờ trong nội bộ đảng hết những sự lục đục và những chiếc ghế quyền lực vẫn có sức hấp dẫn rất lớn.

Và điều đơn giản nhất, đó là trong đám chóp bu kia, đều dạng “cá mè một lứa” chẳng con nào nhỉnh hơn con nào để có thể chọn lựa chắc chắn.

Có thể nói, không có cuộc đấu nào là đơn giản trong đảng, thế nhưng, cuộc đấu ở Đại hội 13 này là cuộc đấu khốc liệt và kết quả của nó là gì?

Trước tình hình người dân đọc vanh cách các nội dung của những “hội nghị trung ương” mà ở đó, tỷ lệ phiếu bầu bao nhiêu, uy tín từng cá nhân trong chóp bu đảng như thế nào… dù đảng giấu kín như đám xã hội đen bàn việc cướp, thì dân vẫn biết và mạng xã hội cũng kịp thời đưa lên để người dân rõ, nhà cầm quyền phải đưa ra cái gọi là “danh sách những tài liệu mật” nhằm ngăn chặn.

Điều mà những người trong đảng không đặt ra câu hỏi: Những thông tin vỉa hè, nhưng chính xác kia từ đâu ra, nếu không phải chính ở nội bộ đảng đang lục đục đến mức chẳng ai tin ai? Chính vì thế nhóm này, phe kia đã tung ra những điều đằng sau mà đảng muốn giấu kín, để cho cái gọi là sự đoàn kết nhất trí cao trong đảng như có thật.

Và rồi những thông tin được xì ra cho biết: Vấn đề của đảng không nằm ở phương hướng, đường lối phát triển hoặc những vấn đề có tính đột phá nhằm giúp đảng bước ra khỏi vũng lầy khủng hoảng từ lâu ở mọi mặt từ tư tưởng, đường lối, lý luận và nhân sự đảng.

Điều mà các cuộc họp hành, bàn bạc kín kín hở hở kia, chỉ là sự chia chác những chiếc ghế quyền lực trong đảng và trong hệ thống chính trị Việt Nam.

Nguyễn Phú Trọng, người đã từng tự nhận rằng: Tuổi cao, sức yếu, trình độ, năng lực hạn chế đã bỏ hết mọi việc liên quan, chỉ nhằm cho việc chia chác ghế bàn trong khóa tới, nhằm cài cắm chắc chắn nhất cho đám đàn em, để bảo vệ cái gọi là “sự lãnh đạo tuyệt đối” của đảng, thắt chặt hơn nữa chiếc gông cùm, vòng kim cô lên đầu lên cổ nhân dân.

Nguyễn Phú Trọng giữ tiểu ban nhân sự của Đại hội, và qua đó, chọn lọc, đưa ra những mưu mẹo, những quy định… nhằm loại bỏ tất cả đối thủ cho phe nhóm của mình.

Thế nhưng, sự đời đâu có một chiều như mong muốn. Những màn đấu đá kịch liệt trong đảng, những gương mặt được đưa lên để mặc cả, chia chác đã không đạt được ý đồ của mỗi bên.

Và cuối cùng, thì Nguyễn Phú Trọng lại muối mặt thò ra mục đích cuối. Đó là việc ông ta ngồi lỳ lại trên chiếc ghế quyền lực của mình. Chiếc ghế mà chỉ qua hai nhiệm kỳ vừa qua, đã là một gánh nặng quá mức với sức khỏe và trình độ, năng lực của Nguyễn Phú Trọng, nhưng là chiếc ghế đem lại nhiều nhất những quyền lực và bổng lộc mà ai trong đảng cũng mơ ước.

Khi những thông tin này được đưa ra ngoài, cả xã hội ngỡ ngàng.

Người ta ngỡ ngàng không vì sự nhiệt tình của đảng viên Nguyễn Phú Trọng trong việc “chấp hành sự phân công của đảng” như lời ông ta nói. Mà người ta ngỡ ngàng vì chẳng lẽ trên cương vị một quan chức ở cấp cao nhất, khi mà tứ phía có “tai mắt nhân dân”, có đồng chí, đồng đội cùng với những lời hô hào, quyết tâm của Nguyễn Phú Trọng rằng: “Kiên quyết loại ra khỏi Trung ương những kẻ có tham vọng quyền lực, có mưu đồ cá nhân” thì Nguyễn Phú Trọng lại ngang nhiên liếm lại bãi nước bọt đã nhổ ra của mình?

Và người ta hỏi nhau: Vậy cái ghế Tổng bí thư kia, nó không có quyền lực gì sao? Còn kẻ cố bám vào chiếc ghế đó, là người không tham vọng quyền lực thì tham vọng điều gì?

Vậy cả cái đảng với mấy triệu đảng viên vốn được tự ca ngợi là tinh hoa của dân tộc, khoa học của khoa học, là những người ưu tú nhất kia chẳng thể tìm ra được một kẻ nào xứng đáng hơn một ông già đã bại liệt ngay cả việc sinh hoạt cá nhân còn không tự lo nổi, còn đầu óc thì cả nước đã tặng cho danh hiệu “lú lẫn” từ lâu?

Rõ ràng điều này: Khi Nguyễn Phú Trọng cứ cố thủ ở lại trên chiếc ghế TBT, nghĩa là điều 17 trong Điều lệ Đảng CSVN bị vô hiệu hóa khi đã quy định rằng không ai được ngồi chiếc ghế này quá 2 nhiệm kỳ.

Và cái đảng kia, một đảng được tự xưng là tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh là sức mạnh của mình, tại sao lại để một mình cá nhân Nguyễn Phú Trọng có thể thao túng và khi cần thì bất chấp mọi điều lệ, quy định để cố thủ cái ghế của mình. Như vậy, cái Điều lệ đảng, vốn được coi như là cẩm nang, nguyên tắc, còn được coi trong hơn người Mỹ giữ Hiến pháp và còn quyền lực hơn cả súng đạn hoặc bom nguyên tử đã vì quyền lực cá nhân mà Nguyễn Phú Trọng cho vào sọt rác?

Nhưng, điều người dân ngạc nhiên hơn, không chỉ là việc cả cái đảng kia với mấy triệu đảng viên đã nhu nhược câm lặng cho anh lú diễn hề, không chỉ là việc gần 100 triệu dân Việt Nam vốn rất hăng hái tranh cãi đến chia rẽ vì cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ, mà chẳng mấy ai quan tâm đến cuộc bầu bán, chia chác ngay trên đầu, trên cổ mình.

Mà điều người ta ngạc nhiên nhất, ở đây lại chính là Nguyễn Phú Trọng với những lời lẽ đao to, búa lớn và sự ngô nghê lừa đảo cả đất nước, cả thế giới như trò diễn “Tôi hết sức ngạc nhiên được bầu lại chức vụ này dù tôi đã từ chối vì tuổi cao, sức yếu và khả năng, năng lực có hạn”.

Bởi người ta thấy rõ, những ngày qua, những lời của Nguyễn Phú Trọng về nhân sự đảng đều là những từ ngữ sáng choang, rạng ngời tư cách và liêm sỉ… Rằng thì là “Công tác nhân sự phải được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, khoa học, nhất quán, bảo đảm thật sự công tâm, thật sự công bằng, trong sáng, khách quan. Đặc biệt là phải có con mắt tinh đời trong việc giới thiệu, đánh giá, lựa chọn cán bộ”.

Phải chăng, cái khoa học, công tâm, công bằng, trong sáng và khách quan, tinh đời ở đây mới chọn ra được chính ông ta?

Việc Nguyễn Phú Trọng hô hào rằng: “phải đặt sự nghiệp chung của Đảng, của dân tộc lên trên hết, trước hết; kiên quyết chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, chạy chức, chạy quyền…”thì chỉ riêng việc xé bỏ điều lệ đảng, chỉ riêng việc tập trung mọi mưu đồ, thời gian và công sức cũng như bằng mọi cách, kể cả vô liêm sỉ nhất để đoạt lấy và chiếm giữ ngai vàng quyền lực, thì chẳng cần nói, ai cũng biết thực chất đằng sau câu nói đó là gì.

Và có một điều Nguyễn Phú Trọng hình như không biết. Đó là ông ta tưởng với những lời lẽ hào nhoáng, với hệ thống tuyên truyền hùng hậu, dàn báo chí xu nịnh và hệ thống cán bộ nhu nhược chỉ biết cúi mặt nhẫn nhục cho ông ta diễn hề thì người dân không biết những gì thật sự đang diễn ra trong nội bộ đảng và hệ thống chính trị?

Xin thưa là không.

“Dân biết cả đấy”. Vấn đề là họ có nói hoặc không thèm nói thôi. Thưa ông!

Từ một bài thơ!

 

Từ một bài thơ!

Lâm Bình Duy Nhiên

29-1-2021

Ngày xưa, khi còn nhỏ, cứ sáng Chủ Nhật là tôi đạp xe lên đến khu Phù Đổng Thiên Vương, nhà ông hoạ sĩ Trịnh Cung để học vẽ. Lúc đó cũng có con các họa sĩ như Rừng, Hồ Thành Đức- Bé Ký,…

Tại đây, tôi có dịp thấy mặt nhiều giới văn nghệ sĩ miền Nam của một thời khó khăn và đầy thiếu thốn.

Ông là người thầy đã hướng tôi cầm cọ, uốn nắn và sửa chữa cho từng nét vẽ của tuổi thơ. Cũng tại lò vẽ này, tôi được tham gia “cuộc triển lãm” tranh tập thể đầu tiên, dành cho bọn nhóc chúng tôi, tại Sài Gòn.

Hơn chục năm sau, ngày tôi đi học, cha chở tôi đến chào ông. Có điều khi đó ông đã giàu lắm rồi. Sau một thời bị “trói tự do sáng tạo” và bị “cấm vận”, ông đã bán được nhiều, rất nhiều tranh. Ông triển lãm tại các khu phố sang trọng ở trung tâm Sài Gòn. Khách của ông đến từ nhiều nơi trên thế giới. Ông không còn lái chiếc xe mobylette cũ kỹ nữa.

Ông cũng chẳng nhớ cha con tôi là ai nữa. Chuyện cũng chẳng có gì lạ. Khi về, tôi có “trách” cha rằng, bác ấy có vẻ xem thường cha và con! Thế thôi.

Sau này, tình cờ tôi cũng có đọc được một số tranh luận nảy lửa xung quanh nhận xét của ông về cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Thú thật, tôi không còn ngạc nhiên nữa.

Và tôi càng không ngạc nhiên khi biết những nhận xét tự cao về tài năng của chính ông cũng như đánh giá của ông khi được hỏi về các họa sĩ người Mỹ gốc Việt.

Sáng nay, tôi tình cờ đọc được bài thơ ông viết về nhà thơ trẻ, Amanda Gorman, người vinh dự được mời đọc bài thơ “The Hill We Climb” trong buổi lễ nhậm chức của ông Biden.

Tôi bàng hoàng và xấu hổ khi một người có tiếng, tự luôn xem mình là “trí thức” lại có thể thốt lên những lời lẽ xấu xa, đen tối, miệt thị và kỳ thị đáng bị lên án như thế.

Nhân danh nghệ thuật, nhân danh thơ ca để có quyền chà đạp lên nỗi thống khổ của một sắc dân và của cả nhân loại chăng?

Không thể nào chấp nhận được. Những gì ông “sáng tạo” trong những vần thơ đó chính là sự bệnh hoạn mà cả nhân loại này đang cương quyết đào thải: tính kỳ thị chủng tộc.

Tự do ngôn luận? Vâng, ông được quyền viết, được quyền thốt lên những lời lẽ không hay ấy và chưa hẳn ông bị ngăn cấm nhưng tôi có trách nhiệm, với khả năng nhỏ bé của mình, lên án những gì ông viết.

Vì nó đi ngược lại mọi giá trị phổ quát mà nhân loại đang theo đuổi.

Sự ngông cuồng và ảo tưởng về chính mình đã khiến nhân loại này rơi vào những thời khắc đen tối nhất trong lịch sử.

Trên phạm vi thế giới, ông chẳng là gì và tiếng nói của ông chìm trong sa mạc. Nhưng đối với người Việt, nó không đơn thuần là một bài thơ. Nó có thể tác động xấu, rất xấu đến những suy nghĩ và nhận thức bệnh hoạn của một bộ phận không nhỏ đồng bào vốn đang bị “lên đồng tập thể” trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ vừa qua.

Nó cũng ẩn chứa, ẩn dụ những “thuyết âm mưu” vô căn cứ đang khiến cho xã hội Việt Nam bị chia rẽ sâu sắc.

Là người có hiểu biết, lại được tiếp xúc với thế giới văn minh, được cầm cọ sáng tạo, tìm cảm hứng qua những cảm xúc mà người thường không có được thế nhưng ông đã không đủ minh mẫn để biết đâu là giới hạn giữa CÁI ĐẸP và CÁI XẤU. Đó là điều đáng tiếc và đáng trách!

Ông đã thật sự THẤT BẠI trong con đường đi tìm cái ĐẸP của con người.

Hội họa cao đẹp và cao thượng lắm thay từ ngày con người biết sáng tạo. Từ thưở “ăn lông, ở lỗ” xa xăm.

Một nỗi buồn khó tả, khiến tôi chợt rơi nước mắt, khi đọc được những gì ông viết sáng nay.

Dân tộc này còn lắm lạc hậu ẩn chứa trong tiềm thức để hy vọng đón chào vầng thái dương của sự tiến bộ và nhân bản.

Khi kẻ cuồng tín ám sát thơ

 

Khi kẻ cuồng tín ám sát thơ

Nguyễn Thị Thanh Bình

29-1-2021

LGT: Ba ngày trước, họa sĩ Trịnh Cung có đăng bài thơ kỳ thị lên Facebook Bất Bại Nguyễn của ông, nhằm giễu nhại bài thơ “Ngọn đồi chúng ta leo” của thi sĩ trẻ da đen Amanda Gorman, đọc trong lễ nhậm chức của Tổng thống Joe Biden và phó Tổng thống Kamala Harris hôm 20/1/2021. 

Rất nhiều người lên tiếng phản bác bài thơ ông Trịnh Cung, họ đặt vấn đề về tư cách đạo đức của “trí thức” Việt, “sao lại xuống cấp thê thảm như vậy”. Sau đó, ông Trịnh Cung đã phải gỡ bỏ bài thơ này ra khỏi Facebook của mình. Đây là bài thơ “Khi kẻ cuồng tín ám sát thơ”, của nhà thơ Nguyễn Thị Thanh Bình, đáp lại bài thơ của ông Trịnh Cung:

Nhà thơ Nguyễn Thị Thanh Bình (trái) và họa sĩ Trịnh Cung.

Bolsa bây giờ người Việt có nhiều chuyện lạ

Có người khiến tôi cười như đầu hàng khiếp ngã

Có người khiến tôi bật khóc như những tung hô vĩ cuồng dối trá

Là thi sĩ, họa sĩ, người đàn ông kiêu hãnh nghĩ mình lắm tài ba

Tài ba như thiên tài, hay thiên tai, tai vạ(?)

Sáng nay khi nhìn ngọn đồi ngàn ngàn lá cờ tung nắng mới, và cả những tàn cây trụi lá

Tôi nghĩ về bài thơ đã thắp sáng niềm tin của nhà thơ trẻ Amanda Gorman

Lại nghĩ đến bài-thơ-đen thật khó hiểu nổi vì sao

Chỉ biết là nó đã làm tối sầm lại chính tác giả

Ôi, những-lỗ-đen đồng nghĩa với cách dùng ẩn dụ… tào lao

Của thuyết-âm-mưu trời ơi đất hỡi nào

Những-hố-đen của thứ tâm hồn không đáng làm thi sĩ chút nào

Bài thơ này tuyệt nhiên sẽ không cần nói gì

Về lẽ phải và sự thật

Vì điều cuối cùng đó hẳn nhiên phải thắng

Và ai cũng đã biết… không sai trật

Chẳng lẽ một nhà thơ nhập cư nhập tịch không biết?

Nhất là lại không nhận ra

Thân phận da vàng sao đòi ngang hàng

Da trắng thượng đẳng, mà dám mơ màng!

Sao để lại chi thứ di chúc Thơ tệ hại, bổ báng

Về lòng bội bạc không nhớ mình đã đến từ đâu

Cho con cháu mai sau chắc sẽ cười chê gầm đầu

Nhân danh cái đẹp muôn thuở của thi ca

Nhân danh cuộc đối chiếu kinh hoàng giữa những người ngợm và bầy thú rừng hoang dã

Nhân danh sự phân biệt đối xử màu da & giới tính

Nhân danh ‘nữ quyền cấm xen vào’, và giá ‘một US đô’  rẻ rúng rửa mắt… đàn bà múa cột

Nhân danh Tuyên Giáo bịt miệng trí thức chuyện đất nước mình

Và tha hồ mở miệng hò hét chuyện giành ghế TT Mỹ

Mà như thế, đã đến lúc giới văn nghệ sĩ không thể tiếp tục bị dắt mũi

Chúng ta không thể thi nhau lôi kéo rơi tỏm xuống những-cái-hố-đen

Của những tên hề ngoan cố vĩ đại

Và sẽ không có  chỗ nương náu  cho những con chữ

Nhân văn!

____

Ảnh chụp bài thơ “Ngọn đồi đen chúng em leo” của họa sĩ Trịnh Cung, đăng trên Facebook ngày 26/1/2021, gây tranh cãi. Hiện ông đã gỡ bỏ khỏi Facebook của ông: