Bài đăng nổi bật

Bức tường Berlin (Phần 1): Nước Đức chia cắt

  Bức tường Berlin (Phần 1): Nước Đức chia cắt 12/08/2021 Nguyễn Thọ 12-8-2021 Vào ngày này cách đây 60 năm, đêm 12, rạng sáng ngày 13.08.19...

Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2020

Trung Quốc: Trồng được rau ở Phú Lâm là ‘thắng to’ trong khẳng định chủ quyền

Trung Quốc: Trồng được rau ở Phú Lâm là ‘thắng to’ trong khẳng định chủ quyền

 

  Trồng được rau ở đảo Phú Lâm (?): Trong rau có máu người Việt
https://scontent-sjc3-1.xx.fbcdn.net/v/t1.0-0/s600x600/100795522_10158743445936122_5626032589367148544_o.jpg?_nc_cat=107&_nc_sid=730e14&_nc_ohc=YcnC_fe7MFgAX9FnwdS&_nc_ht=scontent-sjc3-1.xx&_nc_tp=7&oh=5cf0a9f70f6f43f3cdcac7aee7bd5ebb&oe=5EF1199D
Các hình ảnh được cho là đang trồng rau trên đảo PL
Dĩ nhiên là máu của 58 chiến sĩ Hải Quân Việt Nam. Đảo Phú Lâm là một phần trong quần đảo Hoàng Sa mà phần cuối phía Tây là của người Việt bị TQ chiếm năm 1974; Người Việt vẫn tiếp tục tuyên bố chủ quyền với vùng bị tạm chiếm này, đã lập huyện hành chánh quản lý Hoàng Sa và luôn tâm niệm: “năm sau về Hoàng Sa”.
Hoàn cầu Thời báo của TQ vừa đưa tin: Trung Quốc vừa đạt một thắng lợi lớn là đã thu hoạch 1,5 tấn rau tại căn cứ quân sự lớn nhất của mình ở đảo Phú Lâm. Phú Lâm là đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, mà Việt Nam vẫn tuyên bố chủ quyền.
Bắc Kinh đang hô hoán cùng trời là cuộc thu hoạch rau này là “một chiến thắng to lớn” của Bắc Kinh trong cuộc chiến tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông. Lần này thì TQ viện dẫn luật (vì xưa giờ họ có cần luật gì đâu?), theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), nơi nào duy trì được khả năng cư trú của con người, có nền kinh tế độc lập, không phụ thuộc vào nhập khẩu từ bên ngoài thì đủ điều kiện để trở thành đảo chính thức.
Hiện không có căn cứ quân sự và đảo nhân tạo nào của Trung Quốc trên Biển Đông đáp ứng tiêu chuẩn trên. Vì vậy, các đảo nhân tạo mà Trung Quốc tự tuyên bố chủ quyền đều bị cho là “đá” hoặc là thực thể “phi đảo” trong phán quyết của Tòa án Trọng tài Thường trực năm 2016.
Về hình thức, Trung Quốc đã xây dựng các nhà kính và mang đất từ đất liền ra nhưng đến nay, đều thất bại không “tự túc lương thực” trên đảo Phú Lâm ở Hoàng Sa và Đá Chữ Thập ở Trường Sa.
Dự án canh tác trên nền cát của đảo Phú Lâm là một dự án của quân đội Trung Quốc phối hợp với một trường đại học nghiên cứu hàng đầu của nước này - Đại học Giao thông Trùng Khánh, công bố là “biến cát thành đất màu” làm thảm thực vật, tất cả cũng nhằm chiếm đoạt, tuyên bố chủ quyền.
Thời gian gần đây, Trung Quốc liên tục thực hiện các hành động gây hấn, lấn át trên biển Đông, lợi dụng tình hình đại dịch Covid-19 đang diễn ra trên toàn cầu.

Hải quân Trung Quốc tuần tra trên đảo Phú Lâm, thuộc quần đảo Hoàng Sa, nơi Việt Nam tuyên bố chủ quyền.
Hải quân Trung Quốc tuần tra trên đảo Phú Lâm, thuộc quần đảo Hoàng Sa, nơi Việt Nam tuyên bố chủ quyền.
Trung Quốc vừa thu hoạch 1,5 tấn rau tại căn cứ quân sự lớn nhất của mình ở đảo Phú Lâm, tờ báo nhà nước Trung Quốc, Hoàn cầu Thời báo, đưa tin.
Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, nơi Việt Nam tuyên bố chủ quyền nhưng do Trung Quốc kiểm soát trên thực tế.
Cuộc thu hoạch vừa rồi được xem là “một chiến thắng to lớn” của Bắc Kinh trong cuộc chiến tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông, báo của Trung Quốc viết. Đó là vì theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), những nơi duy trì được khả năng cư trú của con người, có nền kinh tế độc lập, không phụ thuộc vào nhập khẩu từ bên ngoài thì đủ điều kiện để trở thành đảo chính thức.

Hiện không có căn cứ quân sự và đảo nhân tạo nào của Trung Quốc trên Biển Đông đáp ứng tiêu chuẩn trên. Vì vậy, tất cả các đảo nhân tạo mà Trung Quốc xây dựng nhằm khẳng định chủ quyền đều bị cho là “đá” hoặc các thực thể “phi đảo” trong phán quyết của Tòa án Trọng tài Thường trực năm 2016.

Việc biến các đảo nhân tạo thành đảo chính thức là vấn đề lâu nay của Bắc Kinh, vì tất cả các khu định cư mà Trung Quốc xây dựng trên Biển Đông đều thiếu nước ngọt và đất trồng.

Trung Quốc đã nỗ lực xây dựng các nhà kính và mang đất đai màu mỡ từ đất liền đến, nhưng cho đến gần đây đều thất bại trong kế hoạch “tự túc lương thực” cho các căn cứ trên đảo Phú Lâm ở Hoàng Sa và Đá Chữ Thập ở Trường Sa.

Dự án canh tác trên nền cát của đảo Phú Lâm là một dự án của quân đội Trung Quốc phối hợp với một trường đại học nghiên cứu hàng đầu của nước này - Đại học Giao thông Trùng Khánh.

Theo tờ báo Trung Quốc, nhóm nghiên cứu đã thành công trong việc “biến cát thành đất màu” để tạo môi trường màu mỡ cho thảm thực vật, mở đường cho nông nghiệp với khả năng “tự cung tự cấp” trên các đảo, đá mà Trung Quốc có tuyên bố chủ quyền xung đột với các nước khác.

Ngoài trồng trọt, Bắc Kinh cũng nỗ lực trong việc xây dựng khả năng sản xuất điện và lọc nước biển thành nước ngọt, triển khai một loạt ưu đãi như cấp nhà ở, trợ cấp… để thu hút người dân đến sống trên các đảo tranh chấp, theo RFA.

Thời gian gần đây, Trung Quốc liên tục thực hiện các hành động gây hấn, lấn át Việt Nam và các quốc gia láng giềng nhằm khẳng định chủ quyền trên Biển Đông, bất chấp tình hình đại dịch Covid-19 đang diễn ra trên toàn cầu.

Hiện Bộ Ngoại giao Việt Nam chưa bình luận gì về dự án canh tác của Trung Quốc trên đảo Phú Lâm.
Nguồn: 
VOA Tiếng Việt

Vài suy nghĩ về sự đàn áp ở Việt Nam thời chống dịch Covid-19

Vài suy nghĩ về sự đàn áp ở Việt Nam thời chống dịch Covid-19

David Hutt
Trúc Lam dịch
https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2020/05/1-51.png
Một người đàn ông đi ngang qua tấm áp phích, đánh dấu sinh nhật lần thứ 130 của ông Hồ Chí Minh trên đường phố Hà Nội ngày 19/5/2020. Ảnh: AFP / Nhac Nguyen
Trong khi cuộc chiến chống Covid-19 của Việt Nam thành công, thì cuộc chiến chống lại tự do ngôn luận của họ đáng bị đặt dấu hỏi.
Hôm thứ Năm, ông Phạm Chí Thành, một nhà văn và là blogger người Việt, đã bị bắt vì “làm ra, tàng trữ và phổ biến thông tin và tài liệu chống lại nhà nước Việt Nam”. Ngày hôm sau, ông Nguyễn Anh Tuấn, một cây bút và là một nhà hoạt động dân chủ nổi tiếng, đã bị câu lưu ở Hà Nội.
Là cựu phóng viên của đài phát thành nhà nước, Đài Tiếng nói Việt Nam, ông Phạm Chí Thành sau đó trở thành một nhà văn “bất đồng chính kiến”, xuất bản những cuốn sách trung thực và quan trọng về Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và người sáng lập chính quyền Cộng sản, ông Hồ Chí Minh.
Ông Thành cũng được cho là có liên quan và có thể bị nhắm tới vì liên quan đến Nhà xuất bản Tự do, một nhà xuất bản độc lập địa phương mà chính phủ Việt Nam đã quấy rối trong năm qua. Tuy nhiên, có thể không có mối liên hệ nào, khi chính phủ Cộng sản chỉ vui vẻ nhắm tới bất kỳ nhà phê bình nào đặt vấn đề cho chế độ.
Trước hết, việc bắt giữ ông ta sẽ nhận được một lời quở trách nhanh chóng từ các tổ chức nhân quyền, cũng như từ cộng đồng quốc tế và chính phủ nước ngoài.
Sau đó, mặc dù đó có thể là lạc quan, chúng tôi vẫn chưa thấy đủ sức đẩy lùi sau nhiều vụ bắt giữ các nhà văn và nhà hoạt động khác trong những tháng gần đây, gồm cả nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng bị bắt hồi tháng 11/2019 (xem bài viết của tôi: Việc tấn công một nhà báo của Việt Nam), mặc dù điều này đã được nêu ra tại Liên minh châu Âu, Tuy nhiên, họ đã bỏ phiếu thông qua một thỏa thuận thương mại tự do với Việt Nam hồi tháng Hai.
Nó cũng diễn ra trong bối cảnh cuộc tranh luận về việc Việt Nam xử lý cuộc khủng hoảng Covid-19. Tuần trước, một cuộc tranh luận trên mạng xã hội – tự nhiên biến thành một trận đấu hò hét – xảy ra sau khi một bài báo đăng trên tạp chí Chính sách Đối ngoại: Sự thành công trong chống dịch của Việt Nam dựa trên sự đàn áp”, do Bill Hayton và một đồng nghiệp người Việt của ông, viết.

Bối cảnh: Trong những tuần gần đây, truyền thông quốc tế và các chính phủ đã ca ngợi Việt Nam xử lý khủng hoảng, dẫn đến kết quả tương đối có ít ca nhiễm, cho dù Việt Nam là một trong những nước láng giềng của Trung Quốc, và cho đến nay chưa có một ca tử vong chính thức nào xảy ra. Ngoài những người khác, tôi cũng đã viết về sự cởi mở và minh bạch của chính quyền Cộng sản, trong đó bao gồm các cuộc họp báo thường xuyên, cập nhật qua điện thoại v.v…
Điều này đặc biệt trong trường hợp khi bạn so sánh vụ chống dịch, chẳng hạn như với vụ xả chất độc Formosa năm 2016, khi chính phủ đã dành nhiều tuần, cố gắng che đậy thảm họa môi trường này.
Hoặc so với cách mà chính quyền Cộng sản đã làm, thực tế đã tìm cách che giấu những gì đã xảy ra tại xã Đông Tâm hồi tháng Giêng, khi hàng ngàn cảnh sát đột kích vào ngôi làng nhỏ và bắn chết nhà lãnh đạo 84 tuổi của những người phản đối, đòi quyền lợi đất đai cho dân làng. Đúng vậy, một số người gọi đây là một vụ thảm sát và Facebook đã bị chỉ trích vì đã giúp chính phủ che đậy nó.
Tuy nhiên, điều mà Hayton và đồng tác giả đã viết cũng đúng. Phản ứng của chính phủ cũng được xây dựng dựa trên các chiến thuật đàn áp, cụ thể là phong tỏa, hạn chế di chuyển tự do và cảnh sát thực thi lệnh cách ly tại một số khu vực của đất nước.

Để tóm tắt bài báo của họ trong một câu, họ lập luận rằng, phản ứng của chính quyền Cộng sản rất hiệu quả bởi vì nó đã thực hiện các chiến thuật đàn áp và cưỡng chế tương tự trong nhiều thập niên, kể từ khi thống nhất đất nước vào năm 1975. Các cơ chế tương tự cho phép phong tỏa hiệu quả và kiểm soát dân số thời đại dịch virus corona, họ đã viết, “là những cơ chế tương tự tạo điều kiện thuận lợi và bảo vệ sự cai trị độc đảng của đất nước”.
Mặc dù điều này tương đối rõ ràng, bài báo vẫn gợi ra một phản ứng tức giận trên mạng. Một số nhà phê bình chỉ đơn giản là những người trung thành với đảng, những người sẽ không nói một lời xấu xa nào chống lại đảng. Bạn trình bày cho những người này thấy sự thật tuyệt đối về sự tàn bạo và đàn áp của Đảng Cộng sản, và họ có sẵn hàng loạt lời bào chữa, hoặc nghĩ rằng đó là một điều tốt.
Nhưng một nhóm các nhà phê bình đa dạng hơn lập luận rằng, trong một cuộc khủng hoảng như vậy, cưỡng bức và đàn áp nên được ca ngợi. Đôi khi, các ý kiến ​​chuyển qua ngụy biện, bằng cách nói rằng Hàn Quốc và các nước dân chủ phương Tây cũng sử dụng nhiều sự giám sát hơn, bãi bỏ các quyền tự do dân sự và hạn chế di chuyển tự do, nên Việt Nam không phải là một trường hợp ngoại lệ, Hayton đã sai khi chỉ nói tới một mình Việt Nam.
Tuy nhiên, lập luận đó không có gì mâu thuẫn với quan điểm của Hayton và đồng nghiệp của ông, đó là chính phủ Cộng sản Việt Nam đã có nhiều thập niên thực hành đàn áp như vậy. Họ viết: “Đây cũng là những người đã chặn các nhà đấu tranh chống chính quyền, nhốt họ trong chính căn nhà của họ để không cho họ gặp gỡ các nhà báo. Đội quân này cũng triệu tập một phiên họp để cả khu phố đấu tố lên án những người bất đồng chính kiến, hoặc bảo đảm rằng, con em của những người đi tố cáo tham nhũng sẽ bị đối xử thô bạo ở trường học của các em”.
Các nhà phê bình khác lựa chọn không thật sự phản bác lại các lập luận của bài báo, thay vào đó họ chọn đánh mạnh vào giá trị báo chí của nó. Một số người khẳng định, các tác giả đã sử dụng vài nguồn và chỉ nói chuyện với một số ít người Việt Nam. Những người khác từ chối nở một nụ cười với bút danh được đặt cho đồng tác giả của Hayton, Tro Ly Ngheo, nghĩa là “trợ lý nghèo”, một bình luận dí dỏm về cách các nhà báo và dịch giả địa phương thường bị bỏ qua ở châu Á khi đưa tin với các nhà báo nước ngoài (ít nhất, đó là cách tôi đọc ý chơi chữ của họ).
Thực tế, bài báo của Hayton đã khá thuần hóa. Thật vậy, nó không đề cập đến vụ thảm sát xã Đồng Tâm hay thảm họa Formosa. Nó không tranh luận – như nó có thể tranh luận – rằng Đảng Cộng sản Việt Nam không có khả năng không đàn áp; rằng phản ứng của nó đối với cuộc khủng hoảng là bản năng. Nó cũng không đề cập đến phong trào ủng hộ dân chủ của đất nước, đã cố gắng nêu ra vấn đề đàn áp trong suốt cuộc khủng hoảng.
Ở một khía cạnh nào đó, nó cũng sẽ là một chủ đề gây tranh cãi khi đưa ra trận chiến về những điều tường thuật toàn cầu, đặc biệt là cuộc chiến được Bắc Kinh thúc đẩy mạnh mẽ trong vài tuần qua, nói rằng các chính phủ mạnh mẽ và có thẩm quyền đã xử lý cuộc khủng hoảng Covid-19 tốt hơn các nước dân chủ yếu đuối.
Là một nhà bình luận thường xuyên về Việt Nam, đã viết một số bài viết về phản ứng Coid-19 của chính phủ Cộng sản trong những tháng gần đây, tôi hoàn toàn đồng ý với Hayton. Tuy nhiên, tôi có thể thêm một vài khía cạnh mà tôi đã cố gắng đưa ra.
Đầu tiên, chính phủ Cộng sản đã phản ứng với sự minh bạch và cởi mở khác thường trong cuộc khủng hoảng đại dịch. Mặc dù vậy, nhưng rất có khả năng thực tế là đã có những cái chết liên quan đến Covid-19 tại Việt Nam mặc dù chính phủ tuyên bố số người tử vong là 0 – có thể cố tình che giấu hoặc không. Nhưng khả năng chỉ là số nhỏ. Họ có thể che giấu vài người hoặc vài chục người chết, nhưng nếu có hàng ngàn người chết thì không thể làm như vậy được.
Thứ hai, tôi đã viết rằng, chính phủ dường như đã giành được nhiều tràng pháo tay của công chúng vì đã xử lý khủng hoảng. Một số cuộc thăm dò ý kiến ​​gần đây ủng hộ điều này. Một cuộc khảo sát tại 23 nước của Blackbox Research và Toluna, chuyên gia bảng điều khiển trên mạng quốc tế cho thấy, 77% người Việt Nam chấp thuận xử lý khủng hoảng của chính phủ, chỉ đứng sau Trung Quốc.
Thứ ba, trong khi chính phủ thực hiện tương đối tốt trong cuộc khủng hoảng sức khỏe này và đã giành được sự tán thưởng từ công chúng, nó sẽ phải đối mặt với một thách thức khó khăn hơn nữa khi cuộc khủng hoảng sức khỏe kéo dài và khi nhiều người dân phải đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế, điều này sẽ ảnh hưởng tới số đông người dân hơn.
Điều đó nói rằng, hãy đặt vấn đề trở lại. Trong suốt cuộc khủng hoảng này, và ngay cả khi sự minh bạch và cởi mở của chính quyền Cộng sản nhiều hơn bình thường về các vấn đề phải đối mặt, nó đã không ngừng chính sách đàn áp.
Theo bài báo trên trang Chính sách Đối ngoại, “từ ngày 23/1 đến giữa tháng 3, khi Việt Nam phát hiện ca nhiễm bệnh đầu tiên thì công an đã kiểm duyệt khoảng 300.000 bài đăng trên các trang mạng tin tức và blog, 600.000 bài đăng trên các phương tiện truyền thông xã hội về COVID-19. Trong hai tháng đó, công an đã có hành động chống lại 654 trường hợp được gọi là tin giả mạo và xử phạt 146 người”.
Trước đại dịch Covid-19 xảy ra, trong thời gian đó, và bây giờ mọi thứ đang bắt đầu trở lại bình thường ở Việt Nam, chính quyền đã không ngừng đàn áp các nhà phê bình Đảng. Vụ bắt giữ ông Phạm Thành hôm thứ Năm cho thấy rõ điều đó. Rất có thể, ông ta đã bị nhắm đến vì mối liên hệ rõ ràng của ông với Nhà xuất bản Tự do, mà chính phủ đã cố gắng đè bẹp kể từ khi nó xuất hiện từ tháng 2 năm 2019.
Không khó để hiểu lý do tại sao. Bởi vì nó xuất bản các cuốn sách với chủ đề, gồm: Chính trị ở một đất nước đảng trị, Phản kháng phi bạo lực, Chính trị bình dân, Cuộc sống đằng sau những song sắt. Nói cách khác, những cuốn sách không phù hợp với sự tuyên truyền của nhà nước.
Đây là một trong những nhà xuất bản độc lập duy nhất, trong khi hầu hết tất cả các sách in đều thuộc sở hữu nhà nước, và theo tin tức của báo Al Jazeera, từ tháng Giêng, các biên tập viên và những người tham gia phải di chuyển hoạt động thường xuyên để tránh cảnh sát tịch thu máy móc của họ. Luật xuất bản cấm việc làm nay, có thể thấy rõ là “tuyên truyền chống nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” và “phổ biến tư tưởng phản động”.
Theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, trong tháng Nhà xuất bản Tự do được thành lập, trang Facebook của nó đã phải đóng cửa sau khi bị tấn công bởi một cuộc tấn công của quân đội mạng [lực lượng 47], có lẽ là một trong những nhóm có liên quan đến Đảng. Trang web của Nhà Xuất bản Tự do sau đó đã bị tin tặc nhắm tới hồi tháng 11/2019.
Tháng 7 năm ngoái, một số tài khoản của họ đã bị các ngân hàng phong tỏa, một lần nữa rất có thể là do áp lực của nhà nước. Cảnh sát cũng cố gắng buộc các công ty vận chuyển đưa tên của những người đã mua sách từ nhà xuất bản.
Đàn áp đơn giản hơn cũng đã được triển khai. Những người làm việc cho nhà xuất bản, hoặc những người bị phát hiện đã mua sách từ nơi này, đã bị thẩm vấn tại các đồn cảnh sát ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Huế, cũng như ở một số tỉnh khác. Hầu hết phải ký một tuyên bố nói rằng, họ sẽ không bao giờ mua sách từ nhà xuất bản nữa.
Một người bị cáo buộc làm việc cho nhà xuất bản đã bị cảnh sát đánh đập nặng vào hôm 15 tháng 10 tại thành phố Hồ Chí Minh. Tháng sau, một người khác phải bỏ trốn. Tổ chức Ân xá Quốc tế khẳng định hồi tháng Giêng rằng, có hơn 100 người có liên quan tới nhà xuất bản đã bị chính quyền thẩm vấn. Và bây giờ, như chúng ta thấy, ngay cả khi có một cuộc khủng hoảng chưa từng có, nhiều vụ bắt giữ đã được thực hiện.
Như họ nói, càng thay đổi thì càng giống như cũ.
D.H.Nguồn: baotiengdan.com
_____
David Hutt là một nhà báo viết về chính trị, có trụ sở giữa Cộng hòa Séc và Anh. Từ năm 2014 và 2019, ông có trụ sở tại Campuchia, đưa tin về các vấn đề Đông Nam Á. Ông là người viết chuyên mục Đông Nam Á cho báo Diplomat và là người viết bài thường xuyên cho báo Asia Times, gồm cả chuyên mục Tư tưởng Tự do. Ông đưa tin về các vấn đề chính trị châu Âu và quan hệ châu Âu – châu Á.

Hồ Duy Hải bị bức cung

Hồ Duy Hải bị bức cung

Hoàng Kim
Mẹ Hồ Duy Hải: 12 năm ngày đêm kêu oan và cầu nguyện cho con
Không có thời điểm chết của các nạn nhân, mà truy bức Hồ Duy Hải chứng minh tình trạng ngoại phạm là bức cung Hồ Duy Hải.
Bản Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát, Bản án sơ thẩm, Bản án phúc thẩm không có thời điểm chết của các nạn nhân.
Quyết định số: 05/2020/HS-GĐT Ngày 08 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân tối cao về việc xác định thời điểm chết của các nạn nhân cho biết:
Khám nghiệm tử thi ghi nhận “Bụng... dạ dày có chứa thức ăn đã nhuyễn, lượng ít...” (Bl 60), nhưng Cơ quan điều tra không giám định thời điểm chết của các nạn nhân là thiếu sót như Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao nêu.”.
Không giám định thời điểm chết của các nạn nhân, thì không có thời điểm chết của các nạn nhân.
Không có thời điểm chết của nạn nhân, thì không thể xác định thời gian hung thủ gây án.
Không có thời gian hung thủ gây án, thì không có căn cứ để xác định tình trạng ngoại phạm của các đối tượng nghi vấn.
Thế nhưng, theo báo cáo kết quả giám sát của Phó Chủ nhiệm Ủy Ban Tư Pháp Lê Thị Nga ngày 10/2/2015 về vụ án Hồ Duy Hải bị kết án tử hình về tội “giết người” và tội “cướp tài sản” tại tỉnh Long An cho biết:
“Khi được hỏi vì sao lại nhận tội Hải đã trả lời do thua bóng đá (thua cá độ) 20.000.000 đồng nên bị áp lực, cảm giác chán nản và tới bước đường cùng vì gia đình đã nhiều lần cho tiền nên không còn yêu thương cũng không cho thêm nữa, mặc khác sau khoảng 2 tháng từ khi xảy ra vụ án Cơ quan điều tra mời gọi lên làm việc nên Hải không nhớ rõ được ngày đó làm gì ở đâu, một số lời khai của Hải lại không đúng với xác minh của cơ quan điều tra nên không chứng minh được thời gian ngoại phạm.” (1)
Hồ Duy Hải không có dấu tay ở hiện trường, Quyết định số 05/2020/HS-GĐT trang 12 cho biết: “Việc không trùng khớp dấu vân tay thu được tại hiện trường với dấu vân tay của Hồ Duy Hải không phải là tình tiết chứng minh yếu tố ngoại phạm của Hồ Duy Hải”

Không có thời điểm tử vong của các nạn nhân, nhưng Cơ quan điều tra dùng thủ đoạn trái pháp luật bắt Hải phải chứng minh sự ngoại phạm là bức cung. 
Không có thời điểm chết của các nạn nhân, nhưng Cơ quan điều tra dùng thủ đoạn trái pháp luật nói dối với Hải rằng xác minh Hải không ngoại phạm, để buộc Hải phải nhận tội giết người cũng là bức cung.
Lời khai nhận tội do bị bức cung của Hải không thể là bằng chứng trước tòa.

Luật sư chỉ định bất hợp pháp kết án thân chủ, vừa nhận tiền thân chủ vừa nhận tiền tòa án.
Trong báo cáo của Phó Chủ nhiệm Ủy Ban Tư Pháp Lê Thị Nga có nghi ngờ lời khai của Hồ Duy Hải như sau:
“Điều khó lý giải là mặc dù cũng là lời nhận tội nhưng những lời khai đầu tiên ngày 21/3 (chỉ hơn 2 tháng kể từ ngày xảy ra vụ án) Hải lại không nhớ đầy đủ và chính xác bằng những lời khai từ 11/7 (sau 6 tháng kể từ khi xảy ra vụ án). Đáng lưu ý đến ngày 11/7/2008 (Là ngày hỏi cung có luật sư và kiểm soát viên tham gia)
thì Hải đính chính nhiều lời khai của mình trước đó và khẳng định: "Tôi khẳng định từ các biên bản hỏi cung từ ngày 11/7/2008 và các biên bản hỏi cung từ ngày 11/7/22008 và các biên bản hỏi cung về sau này là hoàn toàn chính xác. Các biên bản lời khai, hỏi cung trước đó cũng đúng nhưng những nội dung nào mâu thuẫn với các biên bản lời khai từ ngày 11/7 về sau này thì lời khai từ 11/7/08 là đúng , chính xác.
Những điều này cho thấy độ tin cậy đối với lời khai của Hải là không cao, do đó nếu chỉ dùng lời khai nhận tội này làm chứng chủ yếu để kết tội là không vững chắc."
Khai chính xác khi có luật sư vậy luật sư này là ai?
Đó là Luật sư Võ Thành Quyết, vị luật sư vốn là cựu Trưởng phòng Cảnh sát công an tỉnh Long An vừa nhận tiền thù lao của thân chủ, nhận cả vai trò… luật sư chỉ định. (2)
Trong bản án sơ thẩm có 2 luật sư bào chữa cho Hồ Duy Hải:
1 - Luật sư Nguyễn Thành Đạt – văn phòng Luật sư Đạt Nguyễn, Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Hồ Duy Hải. 
2 - Luật sư Võ Thành Quyết - Đoàn LS Long An, bào chữa chỉ định cho bị cáo Hồ Duy Hải .
Gia đình Hồ Duy Hải đã mời Luật sư Nguyễn Thành Đạt tại sao Cơ quan điều tra chỉ định thêm Luật sư Võ Thành Quyết? Điều này vi phạm Khoản 2 Điều 57 BLTTHS.
Luật sư do gia đình mời, nhưng Luật sư Đạt hoàn toàn không được tham gia vào các biên bản điều tra, trong khi luật sư chỉ định sai pháp luật lại tham gia và ký tất cả các biên bản cung khai của Hồ Duy Hải.
Chúng ta hãy đọc lời biện hộ của Luật sư Quyết tại phiên tòa sơ thẩm.:
"Luật sư Võ Thành Quyết đề nghị mặc dù về trình tự thủ tục tố tụng do cơ quan điều tra có một số điểm chưa đúng. Song qua quá trình được chỉ định ở cơ quan điều tra chính Hồ Duy Hải cũng thừa nhận hành vi phạm tội, mô tả chi tiết về hành vi như dùng hung khí là thớt tròn, ghế xếp và dao Thái lan gây án, chiếm đoạt nữ trang của nạn nhân, tiền, điện thoại sim card của Bưu cục và nhận dạng các tài sản, hung khí điều trùng khớp với nhau, có sự chứng kiến và tham gia của luật sư, viện kiểm soát nên tôi đề nghị hội đồng xử án khi lượng hình xem xét đến gia cảnh bị cáo do cha mẹ phải ly thân, thiếu sự giáo dục của gia đình, do ham mê cờ bạc dẫn đến phạm tội, gia đình ông bà nội, ông bà ngoại đều có công với cách mạng, sau khi gây án thật thà khai nhân, có lúc không khai do tâm lý, gia đình khắc phục hoàn toàn về hậu quả, tuổi đời còn trẻ. Đề nghị hội đồng xử án áp dụng hình phạt tù chung thân để có thời gian về hòa nhập xã hội."
Đây là lời kết án chứ không phải lời biện hộ. 
Tòa chưa tuyên án, LS Võ Thành Quyết đã kết án thân chủ của mình tù chung thân.
Luật sư Võ Thành Quyết được cơ quan chỉ định sai pháp luật, vi phạm đạo đức nghề nghiệp và vi phạm cả quy định tố tụng  khi kết án thân chủ tù chung thân trước khi tòa tuyên án, không đủ tư cách để xác nhận tính trung thực trong các biên bản có lời khai của Hồ Duy Hải.
Việc không mời Luật sư Nguyễn Thành Đạt tham dự các buổi hỏi cung, và ký vào các biên bản hỏi cung, Cơ quan điều tra vi phạm Điều 58 Khoản 2 Mục a của BLTTHS năm 2003.
Tóm lại:
Hồ Duy Hải bị bức cung bằng việc truy vấn chứng cư ngoại phạm nên khai nhận tội giết người, không thể là bằng chứng trước tòa.
Lời khai trong quá trình điều tra của Hải được ký xác nhận bởi một luật sư vi phạm BLTTHS và vi phạm đạo đức nghề nghiệp, không thể là bằng chứng trước tòa.
Lời khai trong quá trình điều tra thiếu chữ ký của luật sư hợp pháp Nguyễn Thành Đạt, không thể là bằng chứng trước tòa.
Không có bằng chứng kết tội trước tòa Hồ Duy Hải vô tội.
H.K.
Tác giả gửi BVN
Điều 299. Tội bức cung (Bộ Luật Hình sự 1999)
Người nào tiến hành điều tra, truy tố, xét xử mà bằng các thủ đoạn trái pháp luật buộc người bị thẩm vấn phải khai sai sự thật gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.
4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ  nhất định từ một năm đến năm năm.
Tài liệu tham khảo:
https://danluat.thuvienphapluat.vn/tong-hop-ho-so-tai-lieu-lien-quan-den-tu-tu-ho-duy-hai-184188.aspx?fbclid=IwAR2sNsQicOCAf1XVgBN4bGipY88SSnq3D48hyNUA13vwGS4zvoQa6gnylo4
https://baophapluat.vn/phap-luat/luat-su-hai-mang-trong-vu-an-tu-tu-ho-duy-hai-205247.html
https://plo.vn/phap-luat/toan-van-quyet-dinh-giam-doc-tham-vu-an-ho-duy-hai-912320.html

Diễn biến tâm lí (vụ án Hồ Duy Hải)

Diễn biến tâm lí (vụ án Hồ Duy Hải)

Nguyễn Văn Tuấn
Trong phiên toà ‘Giám đốc thẩm’ có một nhận xét có chút ‘hơi hám’ khoa học của một chánh án hay thẩm phán là ‘diễn biến tâm lí’ của Hồ Duy Hải. Nhưng khi đọc kĩ thì hình như cách hiểu về diễn biến tâm lí của người này không giống như trong y văn. Trong thực tế, chính diễn biến tâm lí có thể giải thích tại sao lời khai của Hồ Duy Hải – nói theo tiếng Anh là – false self-confession (hay tự thú tội giả).
Trước những bằng chứng thiếu nhứt quán về vụ án, một viên chánh án hay thẩm phán trong phiên toà trên nhận xét rằng (nguyên văn):
"Trong quá trình điều tra, Hồ Duy Hải có một số lời khai có nội dung mâu thuẫn như viện dẫn của kháng nghị giám đốc thẩm, điều này phù hợp diễn biến tâm lý tội phạm trong quá trình điều tra, xét xử và thể hiện các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm không mớm cung, ép cung đối với bị cáo".
Nhưng câu hỏi đặt ra là ‘diễn biến tâm lí’ là gì? Không phải là dân tâm lí học, nên tôi phải tìm hiểu trong y văn và nghĩ là có câu trả lời.
Nói đến vấn đề thú tội giả là phải đề cập đến Giáo sư Hugo Münsterberg (Đại học Harvard) và Giáo sư Saul Kassin (John Jay College of Criminal Justice, New York City). Năm 1908 Giáo sư Münsterberg đã cảnh báo về hiện tượng nhận tội giả (false confession) trong điều kiện bị ảnh hưởng bởi quyền lực thái quá. Trong thực tế, Münsterberg là người đi trước thời cuộc, vì mãi đến thập niên 1980s và qua phân tích DNA người ta mới nhận ra rằng hiện tượng nhận tội giả phổ biến như thế nào.
Người có công tiếp nối Münsterberg là Giáo sư Kassin, một nhà tâm lí học đã dành cả đời để nghiên cứu vấn đề này. Trong hàng loạt nghiên cứu quan trọng, Giáo sư Kassin chỉ ra rằng thú tội giả là một hiện tượng khá phổ biến (có thể lên đến 30%) trong các bản án oan [1]. Do đó, trong bài này tôi đọc vài kết quả quan trọng của ông để hiểu hơn về trường hợp Hồ Duy Hải.
1. Cẩm nang lấy cung của cảnh sát Mĩ
Con đường dẫn Kassin đến chuyên ngành tâm lí học tội phạm là ông muốn biết cách cảnh sát thẩm vấn nghi phạm ra sao. Ông cho biết sau khi đọc cuốn cẩm nang thẩm vấn của cảnh sát (của tác giả John Reid, công bố vào năm 1962) ông phát hoảng, bởi vì đó là phương pháp được mô tả trong thí nghiệm Milgram (xem bài trước đây của tôi [2]). Theo cuốn cẩm nang của John Reid, cảnh sát làm theo trình tự hai bước chánh như sau:
Vào đầu thẩm vấn, cảnh sát điều tra sẽ bắt đầu bằng những câu hỏi mang tính đánh giá hành vi qua các câu hỏi có khi liên quan, có khi khiêu khích, và cùng lúc quan sát dấu hiệu nói dối (như không nhìn thẳng, uể oải, khoanh tay). Nếu đối tượng có dấu hiệu nói dối, người tra vấn sẽ vào giai đoạn 2 với thẩm vấn nghiêm chỉnh.

Trong bước hai, thẩm vấn viên sẽ tăng cường thẩm vấn, bằng cách đưa ra những cáo buộc đối tượng có tội. Chẳng những vậy, thẩm vấn viên sẽ liên tiếp lặp lại cáo buộc, gây áp lực lên đối tượng. Thẩm vấn viên sẽ bỏ qua tất cả những phủ nhận của đối tượng, giả bộ không nghe, không biết.
Mặt khác, thẩm vấn viên sẽ giả bộ thông cảm cho đối tượng, tỏ ra thấu cảm, cố gắng làm giảm mức độ tội phạm (kiểu như "chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra nếu cô ấy không ăn mặc hở hang, phải không?").
2. Khoa học thú tội giả
Kassin nghi ngờ rằng kĩ thuật thẩm vấn của Reid mà cảnh sát sử dụng có thể dẫn đến thú nhận sai. Để kiểm định giả thuyết này, Kassin làm hàng loạt thí nghiệm trong labo, với sinh viên là tình nguyện viên để biết hành vi và tâm lí của nghi can trong các điều kiện tâm lí khác nhau.
Trong một thí nghiệm được đặt tên là "computer crash", Kassin yêu cầu tình nguyện viên đọc chánh tả thật nhanh trên máy tính. Ông cảnh báo họ rằng máy tính có vấn đề là nếu nhấn phím ALT thì máy tính sẽ bị tắt. Nhưng trong thực tế, máy tính đã được lập trình sao cho tình nguyện viên đụng bất cứ nút nào trên bàn phím máy cũng ‘chết’.
Khi tình nguyện viên làm cho máy tắt, ông bèn cáo buộc rằng tình nguyện viên đã đụng vào phím ALT! Thoạt đầu, chẳng có tình nguyện viên nào thú nhận là họ đã đụng vào phím ALT.
Sau đó, Kassin dùng các sở đoản của cảnh sát làm cho tình nguyện viên tự nghi ngờ mình, thì một số tình nguyện viên bắt đầu ‘thú tội’. Kassin cho một người đứng ra làm chứng rằng người này đã thấy tình nguyện viên nhấn vào nút ALT. Kết quả là tình nguyện viên bắt đầu thú nhận rằng họ đã bấm nhầm nút ALT! Họ còn thậm chí giải thích về thú tội của mình và cảm thấy có tội!
Trong một thí nghiệm biến thể khác, Kassin cho tình nguyện viên biết rằng khi họ gõ bất cứ phím nào của máy tính đều được lưu trữ trong máy chủ (server) để xem xét sau này. Kassin còn áp dụng chiến lược cáo buộc của cảnh sát là ‘tố cáo’ tình nguyện viên đã nhấn sai nút làm cho máy tính bị ‘chết’. Kết quả cho thấy số tình nguyện viên ‘thú tội’ tăng rất nhanh và cao, lên đến 35%.
Yếu tố nào làm cho hay có liên quan đến thú tội giả? Theo nghiên cứu của Giáo sư Kassin, các yếu tố sau đây có thể xem là yếu tố nguy cơ quan trọng nhứt [3]:
· Trẻ tuổi: người trẻ tuổi, nhứt là thiếu niên và tuổi 20s, là những người có xu hướng thú tội giả nhiều nhứt;
· Yếu ớt về tâm lí hay sức khoẻ tinh thần không tốt: những người này dễ bị chao đảo trước những vu cáo và đe doạ của cảnh sát;
· Nghiện ngập: những người này thường có sức khoẻ tâm thần không ổn định, nên cũng dễ bị ‘tan chảy’ trước những lời đường mật và cảm thông của người thẩm vấn;
· Căng thẳng hoặc khủng hoảng tinh thần: người trong lúc bị căng thẳng do khủng hoảng tinh thần (có thể bị tra tấn hay nhục hình) thường có xu hướng thú tội giả nhiều hơn người ở trạng thái bình thường. Cảnh sát thường lợi dụng hay làm cho đối tượng bị căng thẳng để khai thác tâm lí đối tượng.
· Tin vào công lí: những người này thường kí vào văn bản tự thú với hi vọng sẽ được trả tự do sớm và được minh oan. Trong điều kiện này, Kassin cho biết niềm tin rằng mình vô tội và niềm tin vào hệ thống công lí chính là những yếu tố dẫn đến thú tội giả.
3. Vài trường hợp tiêu biểu
Tự thú tội luôn là một "chuẩn vàng" của tội phạm, mặc dầu một số tự thú là hoàn toàn sai lệch như thí nghiệm khoa học chỉ ra. Giáo sư Saul Kassin cho biết chừng 25% trong số 365 người được minh oan từng tự thú là có tội mà họ không hề dính dáng. Nhưng vài nghiên cứu khác cho thấy con số có thể lên đến 35% các trường hợp được minh oan. Dưới đây là hai trường hợp tiêu biểu về thú tội giả [3].
Trường hợp Huwe Burton. Năm 1991, Burton lúc đó là một thiếu niên phát hiện mẹ anh bị giết, anh bị bắt và đưa về đồn cảnh sát. Sau nhiều giờ tra khảo, đe doạ, và lừa phỉnh, Burton thú nhận điều mà cảnh sát muốn nghe: anh ta đã giết mẹ mình. Toà án New York tuyên án 15 năm tù đến chung thân về tội giết mẹ ruột.
Nhưng ngay sau đó, anh biết mình bị lừa và ân hận về lời khai đó, và hi vọng rằng có người sẽ minh oan cho anh. Sau 20 năm ngồi tù, anh ta được trả tự do trước thời hạn, nhưng kí ức của anh về lời khai trong đồn cảnh sát vẫn còn ám ảnh.
Người cứu anh chẳng ai khác hơn là Giáo sư Saul Kassin. Sáu tháng trước khi Burton được trả tự do, Kassin được mời giảng cho các công tố viên và chánh án về chủ đề thẩm vấn và tự thú giả. Sau khi nghe bài giảng, Chánh án Steven Barrett cho biết ông đã "mở mắt" về mối liên quan giữa thẩm vấn và thú tội giả, và ông liên tưởng đến trường hợp của Burton rơi đúng vào những ‘yếu tố nguy cơ’ mà Kassin nêu ra. Chánh án Barrett ra lệnh trả tự do cho Burton.
Trường hợp Burton được trả tự do là một ca đặc biệt về đóng góp của nghiên cứu tâm lí học.
Trường hợp thứ hai là cậu bé Marty Tankleff. Năm 1988, Tankleff phát giác mẹ em bị đâm chết trong nhà bếp, còn cha em thì đang hôn mê. Cảnh sát thấy Tankleff không tỏ ra buồn bã, nên nghi em là thủ phạm.
Sau nhiều giờ thẩm vấn chẳng đi đến đâu, một cảnh sát viên cho em biết rằng anh ta đã gọi cho cha em ở bệnh viện và cha em nói rằng chính em là thủ phạm. (Thật ra, cha em đã chết trong bệnh viện sau một thời gian không hồi phục khỏi cơn hôn mê.) Ngay sau đó, cậu bé Tankleff thú tội là đã giết cha mẹ mình! Sau 19 năm ngồi tù, luật sư có chứng cớ mới thì em mới được trả tự do.
Quay lại trường hợp Hồ Duy Hải, chúng ta biết rằng (qua báo chí), anh ta có những lời khai thiếu nhất quán [4]. Có viên chánh án trong phiên toà ‘giám đốc thẩm’ cho rằng đó là dấu hiệu muốn giảm mức độ nặng của bản án, người khác cũng trong phiên toà đó thì cho rằng đó là "diễn biến tâm lí". Tuy nhiên, cả hai không lí giải mối liên quan giữa diễn biến tâm lí và sự mâu thuẫn trong lời khai. Tôi sợ là các vị ấy chưa đọc những báo cáo khoa học của Giáo sư Saul Kassin.
Theo kết quả nghiên cứu của Kassin thì Hồ Duy Hải nằm trong nhóm có yếu tố nguy cơ cao về thú tội giả vì (1) trẻ tuổi; (2) căng thẳng hay khủng hoảng tinh thần, có thể do bị tra tấn như gia đình nói, nhưng công an bác bỏ cáo buộc đó; và (3) có thể anh ta tin vào việc khai như thế để được tự do, tức tin vào công lí.
Do đó, tôi nghĩ cần phải có sự tư vấn và đánh giá của các chuyên gia tâm lí có kinh nghiệm cao về thú tội giả để đảm bảo phiên toà công bằng cho Hồ Duy Hải. Có thể mời Giáo sư Saul Kassin thẩm định trường hợp Hồ Duy Hải, và tôi nghĩ ông sẽ cung cấp một cách diễn giải khoa học hơn và chuyên sâu hơn những nhận xét phi khoa học của các chánh án và thẩm phán.
____________
[1] https://web.williams.edu/Psychology/Faculty/Kassin/files/White%20Paper%20online%20(09).pdf Police-Induced Confessions: Risk Factors and Recommendations 
[2] https://www.jstor.org/stable/40062928?seq=1 The Social Psychology of False Confessions: Compliance, Internalization, and Confabulation
N.V.T.
Nguồn: vanviet.info

Ai cũng gù, tiếng Việt cũng gù!

Ai cũng gù, tiếng Việt cũng gù!

Đào Hiếu
Trong hình ảnh có thể có: văn bản
Trong phiên tòa xử vụ gian lận điểm thi ở Hòa Bình, bà Trưởng phòng khảo thí Diệp Thị Hồng Liên đã nói: “Ai cũng gù, mình thẳng lưng là khuyết tật”.
Tôi cho rằng đó là câu nói tuyệt vời nhất trong thời đại này. Bà Hồng Liên cần được gắn huân chương “anh dũng bội tinh”, cần được ca ngợi và xử giảm nhẹ.
Vì sao?
Vì đó không phải là lời tự biện hộ để chạy tội. Đó là một hịch văn tố cáo xã hội một cách vừa châm biếm, vừa chua cay, sắc bén như một lưỡi gươm tuốt trần chém vào những bộ mặt giả trá, ngụy quân tử, chém vào tệ tham nhũng tràn lan của cả một thời đại.
Đó là lời tố cáo đau xót, cay độc và thông minh của một người phụ nữ trước cái ác, cái xấu mà bà đã và đang bị cuốn theo một cách thô bạo, man rợ, vô phương cứu chữa.

Tôi ca ngợi bà. Và tôi ngạc nhiên khi thấy có vài trí thức, nhà báo, nhà văn lên án bà, lên án câu nói bất hủ ấy là “nguy hiểm”, là “đầu độc” thế hệ trẻ khiến không còn ai dám đứng thẳng lưng nữa.
Ối trời ơi! Những kẻ lên án đó có thông thạo tiếng Việt không? Có nhìn thấy đàng sau câu nói ấy là gì không? Có nghe được giọng chua xót vang lên sau những lời thẳng thắn ấy không?
Tiếng Việt! Tiếng Việt! Tiếng nước tôi tuyệt vời như thế, sao lại không hiểu? Sao lại suy diễn đơn giản, dễ dãi nhường ấy!?
Thậm chí có tờ báo còn “biên tập” câu nói ấy bằng cách GẠCH BỎ chữ “khuyết tật” và sửa thành chữ “đáng quý” mới kinh chứ!
Xã hội ta đã suy đồi hết cỡ, nhưng trình độ tiếng Việt còn xuống cấp thê thảm hơn.
Biết cầu cứu ai bây giờ!?
Đ.H.
Nguồn: FB Đào Hiếu

Chris Patten nói về Cộng sản TQ: “Chế độ dơ bẩn rồi sẽ bị xóa sổ”

Chris Patten nói về Cộng sản TQ: “Chế độ dơ bẩn rồi sẽ bị xóa sổ”

Chris Patten
Virus corona tàn phá thế giới, cướp đi sinh mạng, làm cho gia đình ly tán, phá hủy việc làm và doanh nghiệp, xé nát nền kinh tế, và là mối đe dọa tồi tệ hơn với các nước nghèo nhất. Chúng ta biết chắc chắn ba điều.
Đầu tiên, Covid-19 khởi phát từ Vũ Hán. Thứ hai, những dấu hiệu đầu tiên cho thấy việc lây lan virus đã bị che đậy. Thứ ba, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã liên tục dối trá về những vấn đề đó và lợi dụng lúc thế giới đang bận bịu chống lại đại dịch để khoe khoang sức mạnh trên toàn cầu bằng cách bắt nạt, đe dọa và bội tín.
Chúng ta nên rõ ràng một chuyện. Đây không phải lỗi của người dân Trung Quốc. Những bác sĩ và y tá Trung Quốc dũng cảm, cũng như các bác sĩ và y tá của chúng ta, đã mất đi sinh mạng khi chiến đấu với dịch bệnh.
Khi có ai đó tiết lộ những việc đang diễn ra, các quan chức cộng sản sẽ sử dụng lực lượng an ninh để bịt miệng họ lại.
Trong khi các nhân viên y tế bị bịt miệng, đại dịch đã lây lan khắp Vũ Hán vào cuối tháng 1 đầu tháng 2. Hàng triệu người rời khỏi thành phố Vũ Hán và rời khỏi tỉnh Hồ Bắc để nghỉ Tết. Họ di chuyển khắp Trung Quốc và đến khắp nơi trên thế giới. Đây là nguyên nhân cơ bản khiến cho tất cả các quốc gia trên thế giới đều bị đe dọa bởi đại dịch.
Lỗi ở đâu thì phải truy về ở đó. Chế độ độc tài Cộng sản Trung Quốc chính là thủ phạm, không phải công dân Trung Quốc, cũng không phải những người Hoa sống và làm việc tại hải ngoại, bao gồm cả những công dân Vương Quốc Anh đến từ Hồng Kông đang sinh sống tại đây.
Chính sự độc tài của ĐCSTQ, do Tập Cận Bình đứng đầu, mới là đối tượng cần lên án vì đã khiến cho các quốc gia trên thế giới bị đe dọa bởi dịch bệnh.
Đưa những người vô tội ra giơ đầu chịu báng chính là phản bội lại những giá trị của chúng ta, là hành động sai trái không khác gì việc một vài người ở Trung Quốc ngược đãi và phân biệt đối xử những người châu Phi đang học tập và làm việc tại Trung Quốc.
Đài Loan, một cộng đồng người Hoa khác, lại xử lý dịch bệnh một cách hiệu quả. Vì sao? Bởi vì đó là một xã hội cởi mở và dân chủ với một nền báo chí tự do.
Kẻ giết người là Cộng sản – chế độ luôn tồn tại dựa trên bí mật và dối trá – chứ không phải là văn hóa hay con người Trung Quốc.

Chris Patten nói về Cộng sản TQ: "Một ngày nào đó chế độ dơ bẩn và nguy hiểm này sẽ bị xóa xổ"
Ông Chris Patten, Thống đốc cuối cùng của Hồng Kông, tác giả bài viết
Chúng ta sẽ vượt qua bệnh dịch này. Tôi đặc biệt tự hào vì tại Đại học Oxford, nơi tôi đang làm việc trên cương vị Hiệu trưởng, đang cùng các nhà khoa học y tế giỏi giang phát triển một loại vắc-xin.
Những nhà khoa học tiên phong này, cũng như các đồng nghiệp của họ ở khắp nơi trên thế giới – kể cả ở Trung Quốc – đều mong muốn chứng kiến quốc tế chung tay hợp tác chống lại đại dịch. Đại dịch này không có quốc tịch và đe dọa mọi ngóc ngách trên thế giới.
Nhưng hợp tác nên mang ý nghĩa gì trong tương lai? Chúng ta không thể đơn giản là quay lại giao thiệp với Cộng sản Trung Quốc và hợp tác kinh doanh như trước đây.

Thứ nhất, thái độ thù địch của ĐCSTQ đối với sự thật luôn tồn tại một mối nguy hiểm cố hữu.
Covid-19 không phải là ví dụ đầu tiên về những rủi ro nói trên. Năm 2002 đến năm 2004, dịch SARS đã bắt đầu khởi phát với hình thức tương tự như Covid-19 hôm nay, và việc dịch bệnh lây lan cũng là vì ngay từ đầu nó đã bị che đậy. May thay, hậu quả lần đó không tệ như đại dịch lần này.
Thứ hai, bà Theresa May đã đúng khi phát biểu rằng chúng ta phải hợp tác để chống lại đại dịch và ngăn chặn bất cứ điều gì tương tự như vậy trong tương lai. Nhưng làm thế nào chúng ta có thể làm điều đó với Trung Quốc, một đất nước bị cai trị bởi chế độ Cộng sản hoàn toàn không thể tin tưởng?
Rõ ràng, tại Liên Hợp Quốc và các nơi khác, chúng ta nên hợp tác với các quốc gia khác trong việc kêu gọi một cuộc điều tra chuyên môn đầy đủ và cởi mở về nguyên nhân và sự phát tán lúc đầu của virus. Nếu không làm được việc này, thì không chỉ cuộc chiến chống lại đại dịch hôm nay gặp trở ngại mà cả những nỗ lực ngăn chặn đại dịch tương tự trong tương lai cũng vì thế mà gặp khó khăn.
Theo lẽ thường tình, trong một thế giới công minh, tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nên là tổ chức đứng ra làm việc này. Tuy nhiên, không chỉ từ phía tổng thống Trump, đã có những lo ngại về việc tổ chức này bị Bắc Kinh mua chuộc.
Nếu có ai nghi ngờ về điều đó, hãy nhìn vào cách mà WHO bắt tay với chính quyền Cộng Sản Trung Quốc để loại bỏ vai trò thành viên của Đài Loan, một quốc gia với 24 triệu dân, ra khỏi tổ chức này.
Cuối tháng 12 năm ngoái, Đài Loan đã cảnh báo với WHO về khả năng lây truyền virus từ người sang người. WHO đã phớt lờ cảnh báo đó trong 3 tuần lễ liền, thay vào đó lặp lại lời của Trung Quốc, phủ nhận việc bệnh dịch lây lan. Đài Loan mặc dù ở ngay cạnh Trung Quốc nhưng chỉ có 380 ca nhiễm và 5 ca tử vong.
Chúng ta chắc chắn không thể để cho Trung Quốc tiếp tục ngăn không cho Đài Loan, một đất nước tự do và nói lên tiếng nói chân thật, gia nhập WHO.
Quá trình điều tra vụ việc đã dấy lên một vấn đề khác mà chúng ta nên phải để mắt đến. Vào ngày 30/1/2020, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ông Vương Nghị, đã bảo đảm với người đồng cấp của nước Úc, bà Marise Payne, rằng “dịch bệnh về cơ bản là có thể phòng ngừa, kiểm soát và cứu chữa được.”
Một hai tuần sau, Đại sứ quán Trung Quốc tại Canberra đã công kích rằng lệnh hạn chế du lịch từ Trung Quốc của Úc là một phản ứng thái quá.
Tuy nhiên, từ cuối tháng 1, Trung Quốc đã mua và nhập một lượng lớn vật tư y tế từ Úc. Họ đã biết điều gì mà không nói với chúng ta?
Không có gì ngạc nhiên khi gần đây ông Scott Morrison, thủ tướng Úc, đã kêu gọi một cuộc điều tra quốc tế về đại dịch. Và Đại sứ Trung Quốc tại Canberra đã đe dọa lời kêu gọi này theo phong cách ngoại giao mới “ngoại giao chiến binh sói” của chính quyền Trung Quốc, rằng trừ khi Úc từ bỏ ý định này, bằng không người Trung Quốc sẽ ngừng mua hàng hóa của Úc.
Đây là chiến thuật bắt nạt thường thấy của Trung Quốc. Thế giới phải lên án nó. Các quốc gia là bạn của nước Úc hãy lên tiếng đồng thuận với lời kêu gọi của Thủ tướng Úc, càng nhiều càng tốt. Về thương mại và kinh tế, chúng ta phải cùng nhau đối phó với Trung Quốc. Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc phụ thuộc phần lớn vào khoáng sản của Úc.
Đối với nước Anh của chúng tôi, Trung Quốc có thặng dư thương mại lớn. Chúng tôi nhập khẩu 45 tỷ bảng từ Trung Quốc. Chúng tôi xuất khẩu sang Trung Quốc khoảng một nửa con số đó. Trung Quốc chiếm 3,5% hàng xuất khẩu của Anh và 6,6% hàng nhập khẩu của chúng tôi.
Vậy đâu là “thời hoàng kim” của thương mại với Trung Quốc? Theo lời cựu lãnh đạo Hội đồng thành phố Sheffield thì, hầu hết các khoản đầu tư Trung Quốc hứa hẹn đổ vào Nhà máy điện miền Bắc Vương quốc Anh đã tan biến như “kẹo bông gòn”.
Trung Quốc không tuân thủ luật lệ về thương mại, đầu tư và bảo vệ sở hữu trí tuệ như chúng ta. Tổng thống Trump đã đúng khi nói về cách Trung Quốc bẻ cong và vặn vẹo các quy tắc theo hướng có lợi. Nhưng một tổng thống Hoa Kỳ thức thời hơn sẽ hợp tác với những người khác – chứ không phải đứng một mình – để thiết lập lại một sân chơi bình đẳng.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ghét dân chủ và tất cả những gì mà chúng ta đại diện. Không lâu sau khi trở thành nhà độc tài Trung Quốc, ông đã đưa ra những chỉ thị mới cho chính phủ và các quan chức trong đảng Cộng sản để cảnh báo về những thách thức đối với Chủ nghĩa Cộng sản từ các giá trị tự do và luật pháp của phương Tây. Ông kêu gọi công kích vào các ý tưởng Tây phương về báo chí, về quyền tự do hiểu biết lịch sử, về xã hội dân sự và dân chủ.
Vì vậy, không có gì lạ khi Tập Cận Bình sử dụng vỏ bọc Covid-19 để siết chặt xã hội tự do của Hồng Kông, bắt giữ các nhà lãnh đạo dân chủ và phá vỡ thỏa thuận mà Trung Quốc đưa ra trong một hiệp ước tại Liên Hợp Quốc, rằng Hồng Kông sẽ được hưởng một mức độ tự chủ cao và các quyền tự do truyền thống của nó cho đến năm 2047.
Việc Trung Quốc vi phạm hiệp ước này là một lý do khác khiến chúng ta phải quan ngại. Nước Anh có đạo đức và nghĩa vụ pháp lý để bàn luận vấn đề này một cách mạnh mẽ trên trường quốc tế. Chúng ta nên khuyến khích bạn bè quốc tế và những người khác làm điều tương tự.
Trong lúc này, Trung Quốc đang tiếp tục gây ảnh hưởng nặng nề lên các vùng biển lân cận, xây dựng các căn cứ quân sự ở đó và coi thường phán quyết của Tòa án Hague về biên giới hàng hải hợp pháp.
Chúng ta không nên cô lập Trung Quốc. Nhưng làm thế nào chúng ta có thể tin tưởng chế độ độc tài Cộng sản đang cai trị Trung Quốc? Làm thế nào chúng ta có thể đối phó trong các vấn đề thương mại, môi trường, an ninh và sức khỏe – chẳng hạn khi một ngày nào đó chúng ta có thể phải đối mặt với một dịch bệnh khác do việc kháng kháng sinh?
Trung Quốc sản xuất khoảng 95% kháng sinh trên thế giới và có mức sử dụng bình quân đầu người cao gấp đôi so với bất kỳ nơi nào khác.
Chắc chắn thế giới phải chung tay. Nhưng chúng ta không thể cho phép Cộng sản Trung Quốc phá vỡ hay làm méo mó các quy tắc hòng đạt được mục đích của họ.
Một ngày nào đó chế độ dơ bẩn và nguy hiểm này sẽ bị xóa xổ. Cho đến lúc đó, tất cả những người bạn của sự tự do và trung thực sẽ phải cảnh giác.
Chris PattenDailyMail
Minh Nhật biên dịch
Ngài Chris Patten là Thống đốc cuối cùng của Hồng Kông trước khi được trao trả cho ĐCSTQ. Ông là một chính trị gia Anh quốc nổi bật, từng gia nhập nội các và giữ chức Bộ trưởng, từng là chủ tịch đảng Bảo thủ Anh. Hiện ông là hiệu trưởng danh dự của Đại học Oxford.
Nguồn: trithucvn.net

Cụ TS Tô Văn Trường - Một trí thức

Cụ TS Tô Văn Trường - Một trí thức

Đan Thương
Rất nên đọc lại lần nữa, bài Bàn tay ma quỷ và vấn đề thể chế chính trị xã hội của TS Tô Văn Trưởng (đăng ở trang Ba Sàm) - với lời bạt kèm theo. 
 Câu hỏi khi thoạt đọc tên bài: Bàn tay ma quỷ nào vậy?
Chỉ cần đọc ít dòng, đã thấy đây chính là bàn tay của đảng bạn "môi-răng" đã tặng "đảng ta" 16 chữ vàng (úa). 
Tác giả minh họa "bàn tay ma quỷ" bằng những mánh khóe gian lận khi chúng tham gia đấu thầu, khiến ta bị thiệt hại cực lớn. Thiệt vật chất đong đếm được, nhưng phá hủy môi trường thì đúng là vô kể. Còn lời bạt của bài, tuy có nói về đấu thầu, nhưng còn nói về... nguy cơ xây dựng thành công CNCS (!). Cái này mới khủng! Liệu điều này có phù hợp với ý xa xôi của tác giả?. 
Tinh thần toàn bài toát ra:
- Bàn tay TQ vươn dài, phủ khắp (như ma quỷ), dai như đỉa đói, nhằm thôn tính toàn diện VN. 
- VN không thể thoát ra, chính vì cái "thể chế chính trị-xã hội" (chính trị-xã hội rất nên có dấu gạch ngang - khi dịch sang ngoại ngữ) cứ như thứ gông cùm, khiến ta không thể cựa quậy. Con nhím giương mắt căm phẫn nhìn con trăn há miệng đỏ lòm, lùi lũi tiến gần mà không thể xù bộ lông lợi hại lên, đành chịu bị thôn tính (thôn = nuốt, ngốn, tiêu diệt, chiếm đoạt).
Trong bài này, cụ TS Tô Văn Trường dùng "đấu thầu gian lận" để minh họa cho bàn tay ma quỷ của Tàu; tuy nhiên... 

Đúng là tác giả đã "đi guốc trong bụng" bọn chúng. Chỉ mất 30-60 phút để cụ TS giảng giải cho các đồng chí chủ thầu, nhưng tại sao ta cứ mắc lừa triền miên trong đấu thầu? Phải cắt nghĩa bằng thể chế chính trị-xã hội. Đó là thứ thể chế không có sự kiểm soát quyền lực, khiến nó bị tha hóa (thối nát) không cưỡng nổi, tự sinh ra tham ô, tham nhũng... 
Tuy nhiên, bài dùng chuyện đấu thầu làm ví dụ minh họa "bàn tay ma quỷ" thì quả là chưa tương xứng với mưu sâu, kế hiểm của kẻ thù, cũng như chưa tương xứng với tai hại khổng lồ do Thể chế chính trị-xã hội đem lại.
Khi bài đăng ở tạp chí Việt Mỹ tên bài được đổi thành
và nội dung bài cũng thay đổi theo chiều hướng tổng quát hơn (như tên gọi) và cân đối hơn giữa hai vế: Bàn tay TQ - Thể chế VN. 
Tuy vậy, khi cụ Tô Văn Trường đề xuất cách thoát hiểm cho VN, cụ vẫn lấy những ví dụ cụ thể và rất chi tiết về cảnh giác với Tàu khi đấu thầu.
Hãy tin rằng cụ TS Tô Văn Trường suy tư sâu rộng hơn những gì Cụ viết ra.
Cụ TS rất có uy tín với một số nhân vật cấp cao trong hệ thống chính trị VN. 
Nguyên nhân số 1 là trái tim trí thức của cụ. Những điều cụ nói với họ là từ tấm lòng yêu nước, yêu dân. Tiếp đó, là trình độ uyên thâm, uyên bác trong lĩnh vực chuyên môn của mình, khiến cụ ở tư thế "nói phải - củ cải cũng nghe". Hai điều trên kết tinh thành điều thứ 3: Sự kiên nhẫn và niềm hy vọng vô bờ của cụ vào những cá nhân mà cụ chọn nói với. 
Tuy nhiên, sau vô số lần góp ý, có lẽ cụ bắt đầu nhận ra: Thuyết phục các cá nhân cụ thế trong thể chế (dẫu thành công) vẫn rất khác với tác động để thay đổi cả một thể chế.
Đ.T.
Tác giả gửi BVN

FDI, Trung Quốc và kinh tế Việt Nam

FDI, Trung Quốc và kinh tế Việt Nam

GS Trần Văn Thọ
Việt Nam phải khẩn trương đặt lại chiến lược FDI, đưa ra các chính sách đối ngoại và ban hành các đạo luật có thể ngăn chặn được các dự án FDI có vấn đề.
FDI, Trung Quốc và kinh tế Việt Nam
Giáo sư Trần Văn Thọ
Việt Nam đang đứng trước khúc ngoặt lớn về FDI, phải xét lại toàn bộ chiến lược, chính sách, cơ chế quản lý, đưa ra các quy định cụ thể về trách nhiệm của cơ quan và cá nhân quyết định cấp phép các dự án về FDI. Ngoài ra, Quốc hội cần sớm ban hành luật an ninh kinh tế trong đó có các nội dung liên quan FDI.
Nếu hiểu lịch sử và lý luận của sự quan hệ giữa FDI và phát triển kinh tế sẽ thấy việc tiếp nhận FDI là cả một nghệ thuật về chiến lược, chính sách, đòi hỏi năng lực và tinh thần dân tộc của người lãnh đạo Chính phủ, các bộ ngành và địa phương, để tranh thủ được nguồn lực nước ngoài nhằm đẩy mạnh quá trình phát triển mà không bị chi phối bởi nước ngoài. 
Đó cũng là quan tâm chiến lược, là chính sách, thái độ của Nhật Bản và Hàn Quốc trước đây, tuy hiện nay ít người biết kinh nghiệm đó, chỉ biết họ là những nước đi đầu tư nhiều ở nước ngoài.
Bốn tiêu chí để đánh giá chất lượng FDI
Về lâu dài, những nước thành công trong việc thu hút FDI thường có các điểm chung.
Thứ nhất, FDI phải được đặt trong một chiến lược phát triển kinh tế hoàn chỉnh trong đó quy định những ngành, những lãnh vực cần thu hút FDI. Thông thường những ngành doanh nghiệp trong nước chưa có khả năng đầu tư nhưng xét thấy đó là những ngành có lợi thế so sánh trong tương lai và thị trường thế giới đang lớn mạnh, lãnh đạo phải tích cực tiếp thị để kêu gọi FDI vào những ngành đó và khi họ đến đầu tư thì theo dõi, tạo điều kiện để các dự án đó phát triển thành công. 
Việc tiếp nhận FDI là cả một nghệ thuật về chiến lược, chính sách, đòi hỏi năng lực và tinh thần dân tộc của người lãnh đạo Chính phủ, các bộ ngành và địa phương
Trong dài hạn lợi thế so sánh thay đổi và những ngành cần phát triển cũng thay đổi. Do đó, để chuyển dịch cơ cấu công nghiệp lên cao, chiến lược thu hút FDIcũng phải thường xuyên thay đổi theo hướng khuyến khích doanh nghiệp nước ngoài ngày càng đầu tư vào các ngành có giá trị gia tăng cao hơn, có hàm lượng công nghệ và tri thức nhiều hơn.
Thứ hai, khuyến khích, tạo điều kiện để các dự án FDI lập ra theo hình thức liên doanh với doanh nghiệp trong nước vì liên doanh mới tạo điều kiện cho công ty trong nước tiếp cận trực tiếp với công nghệ và tri thức kinh doanh để sau này làm chủ được các nguồn lực đó. Trường hợp cho phép 100% vốn nước ngoài phải được xem là ngoại lệ, dành cho những dự án công nghệ rất cao, có sức lan tỏa ra nhiều ngành khác.
Thứ ba, để công nghệ và tri thức kinh doanh lan tỏa từ dự án FDI sang các khu vực khác của nền kinh tế, cần có chính sách thúc đẩy sự liên kết hàng dọc (vertical linkages) giữa FDI với các công ty trong nước. Nghĩa là phải khuyến khích các dự án FDI tích cực dùng nguyên liệu và các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ sản xuất trong nước, qua đó doanh nghiệp FDI sẽ chuyển giao công nghệ, truyền đạt tri thức, chỉ đạo quản lý để các công ty trong nước cung cấp hàng đủ chất lượng và với giá thành thích đáng.
Điều kiện để thực hiện điểm thứ hai và thứ ba là nội lực phải mạnh, cụ thể là phải có nhiều doanh nghiệp trong nước mạnh mới liên doanh được hoặc hình thành liên kết hàng dọc với doanh nghiệp FDI. Điều này cho thấy song song với việc thu hút FDI phải cũng cố nội lực.
Ngoài 3 điểm nói trên, đối với Việt Nam, phải thêm một tiêu chí nữa. Tại châu Á, Việt Nam là nước đi sau trong quá trình công nghiệp hóa. Xung quanh Việt Nam có nhiều nước mới phát triển trước Việt Nam độ vài chục năm. 

So với những nước đã phát triển hàng trăm năm như Âu Mỹ và Nhật Bản, các nước xung quanh Việt Nam trình độ công nghệ còn thấp, chưa hoặc ít có các công ty đa quốc gia tầm cỡ.
Ngoài ra, văn hóa kinh doanh, tinh thần trách nhiệm xã hội của phần lớn doanh nghiệp tại các nước này cũng kém nên họ sẵn sàng có hành động bất chính đối với quan chức các nước họ đến đầu tư và không có ý thức bảo vệ lao động, bảo vệ môi trường. 
Doanh nghiệp của các nước tiên tiến Âu Mỹ và Nhật Bản trên cá biệt (nhất là những doanh nghiệp nhỏ, chưa có thanh danh để sợ mất) có thể có các hành động bất hảo đó nhưng nếu bị phát hiện sẽ bị chế tài bằng luật pháp của chính quốc gia của họ. Các nước xung quanh Việt Nam thì không có các chế tài như vậy. Do đó khi đánh giá chính sách FDI cần xem đa số các dự án đến từ các nước tiên tiến hay là từ các nước xung quanh.
Bốn điểm nói trên cho thấy việc thu hút FDI là cả một nghệ thuật đòi hỏi người lập chính sách và quản lý FDI phải cố gắng không ngừng, phải quan tâm đến sự phát triển của doanh nghiệp trong nước thì FDI mới có hiệu quả tích cực. Có thể gọi đó là 4 tiêu chí để đánh giá thành quả thu hút FDI của một nước.
Đánh giá FDI tại Việt Nam
Trong hơn 30 năm thu hút FDI, chiến lược, chính sách của Việt Nam chưa đạt được 4 tiêu chí đã nói ở trên. 
Giai đoạn đầu thì bảo thủ, lo ngại FDI chi phối kinh tế, thủ tục hành chính phức tạp làm nản lòng nhiều doanh nghiệp lớn của các nước tiên tiến. Kết cuộc chỉ có mấy nền kinh tế như Hong Kong, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan đầu tư vào các ngành công nghiệp nhẹ như da giày, may mặc,…. 

Giai đoạn hai bắt đầu từ khi gia nhập WTO (2007) thì lại cho tự do, không định hướng, không chọn lựa những dự án theo các tiêu chí đã nói. Đặc biệt từ khi có chính sách phân quyền xuống các địa phương, nhiều nơi hoặc thiếu kiến thức chuyên môn, hoặc không ý thức trách nhiệm với tương lai đất nước, kể cả trường hợp bị công ty nước ngoài mua chuộc, đã có nhiều dự án FDI chẳng những không cần thiết (vì doanh nghiệp trong nước có thể đầu tư) mà còn gây ảnh hưởng đến môi trường và an ninh quốc gia. 
Nhìn chung, thu hút FDI thời gian qua hầu như chỉ xem số lượng (như vốn đăng ký, vốn thực hiện) là thành quả của chính sách FDI và ít quan tâm đến chất lượng, ít năng động tranh thủ những dự án FDI có hiệu quả cho chiến lược công nghiệp hóa.
Hậu quả là Việt Nam trở thành nền kinh tế phụ thuộc cao độ vào FDI (trong những nước có quy mô dân số trên 50 triệu dân có lẽ Việt Nam là nước phụ thuộc FDI nhiều nhất). Công ty có vốn nước ngoài chiếm khoảng 50% sản lượng công nghiệp và 70% kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên xét về chất (về 4 tiêu chí nêu ở trên) thì Việt Nam không thành công.
Thứ nhất, FDI không giúp chuyển dịch cơ cấu công nghiệp, không đưa Việt Nam tiến lên cao trong chuỗi cung ứng giá trị. FDI vào Việt Nam nhiều nhưng suốt trong thời gian dài từ khoảng năm 1990 cho đến những năm 2000 chủ yếu là những ngành dùng nhiều lao động giản đơn như may mặc, giày dép,... 
Đó là những lĩnh vực không cần nhiều vốn, không cần công nghệ cao nên đáng lẽ doanh nghiệp trong nước có thể đầu tư hay ít nhất là liên doanh với nước ngoài trong giai đoạn đầu và sau đó dần dần làm chủ hoàn toàn. Mặt khác, các ngành xuất khẩu ấy phải tùy thuộc vào nhập khẩu từ Trung Quốc các sản phẩm trung gian như vải, tơ sợi,...
Từ thập niên 1990, dòng chảy chủ đạo của FDI tại châu Á là các ngành công nghiệp máy móc với giá trị gia tăng cao và nhu cầu trên thị trường thế giới lớn mạnh, như xe máy, đồ điện gia dụng, ô tô, máy tính,... Việt Nam đã nhiều lần có cơ hội đón đầu dòng chảy đó nhưng đã không chủ động về chính sách và sớm cải thiện môi trường đầu tư nên đã bỏ lỡ nhiều cơ hội. 
Trên thực tế, có một số dự án FDI ở Việt Nam trong các lĩnh vực đó nhưng hoạt động không thành công, không trở thành những sản phẩm "Made in Vietnam" trên thị trường thế giới. 
Từ khoảng năm 2010 cơ cấu FDI mới có thay đổi theo hướng tăng nhiều dự án trong các lĩnh vực mới như máy tính, điện thoại di động,... nhưng các ngành phụ trợ liên quan chưa phát triển nên sự tham gia của doanh nghiệp trong nước trong các dự án đó còn yếu.
Thứ hai, phân tích hình thái FDI cho thấy, hiện nay hầu hết là 100% vốn nước ngoài, liên doanh giữa nước ngoài với công ty trong nước rất ít. Tính gộp tất cả dự án có từ trước và còn đang hoạt động cho thấy gần 80% dự án là 100% vốn nước ngoài. Những dự án FDI điển hình và nổi tiếng gần đây cũng theo hình thái 100% vốn nước ngoài. Chẳng hạn Samsung đầu tư với quy mô lớn tại Bắc Ninh và Thái Nguyên nhưng cả hai dự án đều là 100% vốn Hàn Quốc.
Thứ ba, cho đến nay hầu như sự liên kết giữa FDI và doanh nghiệp trong nước rất yếu. Muốn liên kết thì doanh nghiệp Việt Nam phải cung cấp các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ đủ chất lượng và với giá cả cạnh tranh được. Nhưng ở Việt Nam bây giờ vẫn còn bàn cãi vấn đề tại sao ngành công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển đủ cho thấy tình hình các doanh nghiệp trong ngành này còn yếu như thế nào.
Thứ tư, nhìn cơ cấu các nước đầu tư tại Việt Nam cho thấy, các nước mới phát triển và ở gần Việt Nam chiếm vị trí áp đảo. Trừ Nhật Bản hầu như không thấy vai trò của các nước tiên tiến. Chẳng hạn năm 2019, trong tổng kim ngạch 38 tỷ USD của FDI (kể cả vốn đăng ký mới, vốn điều chỉnh và mua cổ phần), đứng đầu là Hàn Quốc và Hong Kong, sau đó là Singapore; Nhật Bản xếp thứ thư và Trung Quốc thứ năm. 
Trong 4 tháng đầu năm 2020, Trung Quốc tiến lên hạng thứ hai chỉ sau Singapore (Hàn Quốc thứ ba và Nhật Bản thứ tư). Đặc biệt Mỹ chỉ có 28 triệu USD so với Trung Quốc là 826 triệu USD. 
Trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và đại dịch Covid, nhiều công ty Mỹ và Nhật muốn di chuyển nhà máy từ Trung Quốc sang các nước khác, nhưng tại Việt Nam chỉ thấy sự hiện diện của Trung Quốc là rõ nét.
FDI từ Trung Quốc và vấn đề an ninh kinh tế, an ninh quốc gia
Trên đây nhìn từ mặt thuần túy kinh tế đã thấy FDI từ Trung Quốc nhìn chung (trừ ngoại lệ) thuộc về những nước đầu tư không thể có chất lượng tốt. Ở đây khi nói riêng về Trung Quốc cần thêm 2 điểm nữa.
Một là, lịch sử hình thành các doanh nghiệp đa quốc gia của Trung Quốc rất ngắn, nhất là thời gian hoạt động trong kinh tế thị trường chưa đủ dài để xác lập hệ thống quản trị doanh nghiệp (corporate governance) và văn hóa kinh doanh.
Trên thực tế, trong 100 công ty đa quốc gia lớn nhất của Trung Quốc thì có tới 81 là doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp cổ phần nhưng nhà nước chi phối. Khi văn hóa kinh doanh và hệ thống quản trị doanh nghiệp chưa được xác lập mà đầu tư mạnh ra nước ngoài sẽ dễ gây xung đột với quyền lợi ở nước sở tại, dễ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, đến các quan hệ về văn hóa, xã hội.
Hai là, vì nhiều doanh nghiệp chưa tích lũy nguồn lực kinh doanh như công nghệ, tri thức quản lý, cho đến nay hình thức FDI ra nước ngoài chính của doanh nghiệp Trung Quốc là mua bán và sáp nhập (M&A). Đây là hình thái xâm nhập, sở hữu kinh doanh nhanh chóng nhất ở thị trường nước ngoài. Số dự án M&A của doanh nghiệp Trung Quốc tăng vọt từ năm 2016.
Gần đây, lợi dụng tình trạng khó khăn do đại dịch Covid-19, nhiều doanh nghiệp Việt Nam trở thành đối tượng M&A của doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt là doanh nghiệp của Trung Quốc. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và đầu tư, trong bốn tháng đầu năm nay, số lượt góp vốn và mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tăng 33% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó riêng M&A của doanh nghiệp Trung Quốc tăng 38%.
Một điểm quan trọng nữa, nhiều công ty FDI của Trung Quốc đưa nhiều lao động giản đơn sang Việt Nam. Chỉ kể số khảo sát được cũng đã lên tới gần 5.000. Tại sao Việt Nam phải xuất khẩu lao động mà lại cho nhập khẩu nhiều lao động từ Trung Quốc như thế?
Ngoài yếu tố kinh tế, gần đây nổi cộm lên nhiều vấn đề khác rất đáng quan ngại. Thông tin từ Bộ Quốc phòng cho thấy doanh nghiệp Trung Quốc thuê đất lâu dài ở khu vực biên giới, khu vực biển và nhiều nơi nhạy cảm về an ninh quốc gia. Vấn đề này được báo chí phản ảnh từ lâu nhưng tin chính thức của Bộ Quốc phòng làm nhiều người càng lo ngại. Chưa hết, báo chí cũng phản ảnh một số doanh nghiệp Trung Quốc có hành động tuyên truyền cho đường lối xâm lấn biển đảo của nước họ, đi ngược lại chủ trương về chủ quyền của Việt Nam.
Ở đây cần chú ý một điểm liên quan: Từ Đại hội lần thứ 19 (tháng 10/2017), Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đưa ra chủ trương tăng cường sự lãnh đạo, kiểm soát đối với mọi mặt của kinh tế, xã hội, văn hóa, trong đó có hoạt động của doanh nghiệp.
Có thể có nhiều trường hợp doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài không chú trọng mục đích kinh tế mà để phục vụ cho các mục tiêu khác.
Nhiều nước đã cảnh giác và ban hành các sắc luật mới hoặc sửa đổi các luật cũ nhằm ngăn ngừa các dự án FDI ảnh hưởng đến an ninh quốc gia. Từ khoảng 4-5 năm trước, Quốc hội Mỹ đã soạn thảo nhiều luật liên quan đầu tư từ nước ngoài và có quy định đặc biệt thẩm tra kỹ các dự án đến từ Trung Quốc để tránh trường hợp bí quyết về công nghệ hoặc thông tin về an ninh quốc gia được chuyển về Trung Quốc.
Gần đây lợi dụng tình trạng chứng khoán rớt giá tại nhiều nước, Trung Quốc đẩy mạnh hoạt động M&A nên Úc, Nhật, Đức và nhiều nước khác đưa ra biện pháp ngăn chặn nguy cơ thâu tóm doanh nghiệp trong thời gian khủng hoảng kinh tế nhằm để bảo vệ các ngành kinh tế quan trọng, các doanh nghiệp trọng điểm hoặc có liên quan đến an ninh quốc gia.
Vài lời kết
Chính sách thu hút FDI của Việt Nam cho đến nay chỉ chạy theo số lượng, thiếu sự chọn lựa chiến lược làm cho xí nghiệp nước ngoài hiện diện trên nhiều lĩnh vực của nền kinh tế một cách không cần thiết. Phần lớn các dự án FDI không đến từ các nền kinh tế có công nghệ và văn hóa kinh doanh tiên tiến. 
Chúng ta phải khẩn trương đặt lại chiến lược FDI trên cơ sở 4 tiêu chí phân tích ở phần đầu bài viết này. Ngoài ra, phải quan tâm hơn đến an ninh kinh tế, an ninh quốc gia khi xét các dự án FDI và cần ban hành các đạo luật liên quan.
Trung Quốc là nền kinh tế lớn lại là nước láng giềng Việt Nam cần duy trì, phát triển quan hệ, đặc biệt trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Nhưng phân tích khách quan nhiều mặt đã cho thấy đáng quan ngại về FDI từ nước này. 
Việt Nam cần đưa ra các chính sách đối ngoại và ban hành các đạo luật nhằm một mặt thu hút FDI trong các ngành công nghệ cao, giúp chuyển dịch cơ cấu công nghiệp lên cao hơn, mặt khác tránh các ảnh hưởng liên quan an ninh kinh tế và an ninh quốc gia. 
Các chính sách và đạo luật không nhắm vào một nước cá biệt mà áp dụng chung cho tất cả các nước nhưng chất lượng của các chính sách, các luật này sẽ ngăn chặn được các dự án FDI “có vấn đề”. 
Một ví dụ: Liên quan đến việc mua bán và sáp nhập (M&A), chúng ta quy định một trần giới hạn (chẳng hạn tối đa 15 hay 20% trong tổng kim ngạch giao dịch lũy kế) cho các doanh nghiệp đến từ một nước; hoặc đưa ra danh mục các ngành, các công ty mà chúng ta không muốn bị nước ngoài mua,... 
Những vấn đề khác liên quan FDI của Trung Quốc nói ở trên cũng ngăn ngừa được nếu đưa ra các quy định, các luật lệ cụ thể. Cũng cần có các điều lệ hay luật pháp phạt nặng những quan chức hay người Việt Nam tiếp tay cho nước ngoài lách luật để chi phối kinh tế hoặc gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.
(*) Bài viết thể hiện quan điểm của GS. Trần Văn Thọ (Tokyo - Nhật Bản)
T.V.T.
Nguồn: theleader.vn

BÀN TAY MA QUỶ VÀ VẤN ĐỀ THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ XÃ HỘI

BÀN TAY MA QUỶ VÀ VẤN ĐỀ THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ XÃ HỘI

Tô Văn Trường

Tôi e rằng vấn đề không chỉ là tham nhũng, mà còn nhiều lý do chính trị nguy hiểm khác nữa chưa lường hết được. Thực tế "Vân Đồn" chứng minh không thể chối cãi: Nếu không có cải cách thể chế chính trị, thì chống tham nhũng chỉ là câu chuyện một nửa để nuôi dưỡng cái nửa còn lại và kẻ thù giấu mặt của đất nước.

Nguyễn Trung

***
Bàn tay ma quỷ mà cụ TS Tô Văn Trường viết trong bài chẳng qua chỉ là chuyện nhà thầu TQ dựa vào thể chế của ta để trúng thầu. Và sau đấy họ thực hiện theo cách vụ lợi khiến ta thiệt hại vô vàn. Chuyện dại dột kéo dài nửa thế kỷ khiến người dân tin chắc đang tồn tại một nhóm lợi ích ngụy trang bằng quyền lực. Liệu đúng đến đâu?
Chuyện bao trùm hơn, đó là ĐCS TQ lừa ta về ý thức hệ. Lừa thầu chỉ là bộ phận. Nếu hai nước thành công xây dựng CNCS thì biên giới không còn. Mỗi người VN có 13 người TQ đứng xung quanh (theo tỷ lệ dân số). Không hiểu 14 người này sẽ giao lưu bằng ngôn ngữ gì?
Chỉ cần giảng giải 30-60 phút là người bình thường thấy được âm mưu của TQ với thế giới và với VN (bài viết của TS Tô Văn Trường chỉ cần 10 phút để đọc và suy rộng).
Tôi không tin giới quyền lực thiếu thông tin tới mức rất nhiều trí thức và các vị lão thành cách mạng đã góp ý đầy xây dựng, ôn hòa (kể cả lễ phép và như van lạy) mà vẫn không lay chuyển. Hẳn là, đúng như TBT Nguyễn Phú Trọng đã gợi ra: Một nhóm lợi ích đã hình thành vững chắc và đang cố thủ.
Các vị cách mạng lão thành có thể chịu khổ, chịu chết để chiến đấu cho CNCS. Thế hệ cách mạng hiện nay dựa CNCS để được sống như ý. Góp ý gì nổi?
Các Cụ, các Bác đã nghe một một đứa con có hiếu lạy van người cha để ông ta cai nghiện ma túy chưa?
Đã bập vào ma túy thì lời lạy van nào cho thấu? Nếu còn nói dai, nói dài, tau đập chết… thằng cha mi.

Nguyễn Ngọc Lanh

https://basamnguyenhuuvinh.files.wordpress.com/2020/05/image-37.png?w=1024
Vấn nạn thắng thầu – tham nhũng và “đi đêm” để tăng lợi nhuận của nhà thầu thì nước nào cũng có, nhưng ở Việt Nam nó tiếp diễn ngang nhiên bất chấp mọi chỉ trích của công luận, đặc biệt khu vực công là nơi mà nó thể hiện rõ nét nhất. Để ngăn chặn vấn nạn này thì chỉ có hai con đường (1) Hoàn thiện môi trường luật pháp và (2) Ngăn chặn nạn tham nhũng, hối lộ.
Có nhiều mô hình của các nước tiên tiến mà ta có thể tham khảo, nhưng triển khai áp dụng là không thể, hình như khó vượt qua thứ mà mang tính bao trùm lên tất cả là vấn đề thể chế chính trị, xã hội và người có quyền trong thể chế.
Mưu đồ của Trung Quốc là khống chế toàn diện Việt Nam về chính trị - tư tưởng, về kinh tế, văn hóa - xã hội, về quan hệ đối ngoại, cô lập, lấn chiếm gây sức ép từ phía biển và trên đất liền… để cưỡng chế VN phải thuận theo chiến lược của họ, thực chất là biến VN thành chư hầu, phụ thuộc, không bao giờ ngóc đầu lên được. Đây là điều không thể mơ hồ.

Trên thực tế, Trung Quốc đã thực hiện được phần lớn những bước đi trong một chiến lược toàn diện nhằm mục tiêu của họ. Việt Nam đối phó bị động, nói chung là không thành công mà nguyên nhân cơ bản là nhiều người có trách nhiệm vẫn mơ hồ, không đánh giá đầy đủ nguy cơ Trung Quốc, có tâm lý “sợ” họ làm căng, không dựa vào dân. Chính sự mơ hồ đó, cộng với sự kém cỏi về kinh tế và lòng tham không được ngăn chặn của nhiều chủ đầu tư đã gây ra những “lỗi” trong quan hệ kinh tế với Trung Quốc, rất dễ bị đội ngũ chiến tranh tâm lý của chính Trung Quốc khai thác cũng như những “thế lực khác” lợi dụng.
Trung Quốc biết rất rõ Việt Nam chỉ muốn được yên  thân, tự mình chọn đường đi giữ vững nền độc lập và lợi ích chính đáng của mình, không cam tâm làm công cụ cho ai chống Trung Quốc. Nhưng lòng tham vô đáy và cuồng vọng sô vanh nước lớn khiến họ không cho VN đi con đường đó. Việt Nam càng nhún nhường thì họ càng lấn tới. Đó chính là bàn tay ma quỷ của Trung Quốc, là điều người Việt từ nhà cầm quyền đến dân thường phải nhận thức và có hành động thống nhất.
Trong phạm vi bài viết này, tôi đi sâu phân tích về sự lũng đọan của Trung Quốc trong lĩnh vực đấu thầu, đầu tư ở Việt Nam.

Hiện nay có hàng trăm nhà thầu Trung Quốc đang thực hiện các dự án ở Việt Nam, hầu hết đều bê trễ thời gian thi công, và đội vốn, chất lượng kém, ô nhiễm môi trường để lại các hậu quả rất nặng nề không chỉ trên phương diện kinh tế! Nếu rà soát có hệ thống và khách quan có thể trả lời câu hỏi đó là sự “thông đồng” có hệ thống hay chỉ là sự “ngẫu nhiên đáng ngờ” của từng dự án riêng lẻ, nên làm rõ bản chất của từng vụ tham nhũng này.
Giá mời thầu của các công ty thuộc các nền công nghiệp tiên tiến thường cao khi khởi đầu, một rào cản quan trọng cho một nước nghèo. Hơn nữa, luật pháp các nước tiên tiến (Châu Âu, Mỹ, Nhật) phạt rất nặng các hành vi hối lộ, tham nhũng không cho phép nhà thầu các nước này thực hiện các thủ đoạn gian lận và mua chuộc giám sát, quản lý vốn. Thực ra, giá thầu với Trung Quốc đội lên cao hơn các nguồn khác, và Trung Quốc biết những người đã “há miệng mắc quai” rồi, tiếp tục mắc thêm nợ nữa, kèm theo là những ràng buộc khó gỡ đối với họ. 
Nhìn lại lịch sử, chỉ nói riêng ngành xi măng trong thập niên 1990, nước ta đã từng phải trả giá cho phong trào phát triển xi măng lò đứng, công nghệ lạc hậu của Trung Quốc sau thời gian ngắn hoạt động đã bị khai tử, làm lãng phí rất lớn tiền của và gây ô nhiễm môi trường ở nhiều địa phương. Bài học đắt gía nói trên vẫn chưa học thuộc, lại “mắc bẫy” ngay vào một sai lầm mới, đó là phong trào làm xi măng lò quay và cũng với thiết bị và công nghệ lạc hậu của Trung Quốc v.v…

Mánh khóe nhà thầu Trung Quốc: Bỏ giá dự thầu kiểu láu cá.

Hạng mục nào nhắm làm không được thì nhà thầu bỏ giá thấp hẳn, hạng mục ngon xơi thì giá tăng vọt, nhưng tổng giá bỏ thầu vẫn thấp nhất. Phải công nhận là quy định chấm thầu của ta còn lỏng lẻo. Mặc dù các dự án quốc tế có thuê tư vấn nhưng khi tư vấn có cơ sở để bác nhà thầu Trung Quốc nhưng chủ đầu tư do tay đã nhúng chàm vẫn có “cách lách” để chấm cho đạt! Khi đàm phán hợp đồng, nhà thầu Trung Quốc nhìn nhận đã bỏ giá quá thấp cho hạng mục đó, nên họ hứa sẽ chuyển chi phí từ các hạng mục khác để đắp qua hạng mục bỏ giá thấp. Cuối cùng “vỡ trận”, khi được nhắc nhở về lời hứa “đắp qua”, nhà thầu Trung Quốc bảo không có chi phí đế đắp qua, tìm đủ lý do biện minh rồi bỏ luôn hạng mục đó. Trong khi họ ăn lời ở các hạng mục ngon xơi đã bỏ giá cao. Nếu phải tổ chức đấu thầu lại, tốn rất nhiều thời gian và chi phí điều hành, rồi cũng phải trả chi phí cao để thi công như dự toán ban đầu.

Sử dụng công nghệ kém cỏi và vật tư thiết bị chất lượng thấp

Trong một dự án, Tư vấn khuyến cáo với điều kiện đặt ra, thì cần thiết bị như thế nào. Nhưng hồ sơ mời thầu thiếu chặt chẽ, không ràng buộc cụ thể những điều kiện bắt buộc phải thi hành. Cho nên nhà thầu có quyền không nghe khuyến cáo của Tư vấn, dùng thiết bị và công nghệ kém cỏi nhằm giảm chi phí (trước tiên là giảm giá dự thầu). Hậu quả là thiết bị hỏng hóc, tiến độ chậm, nhưng họ viện dẫn đủ lý do để bào chữa, hạng mục đã lắp đặt xong có nên tháo dỡ! Lại phải tổ chức đấu thầu lại cho hạng mục đó rất tốn kém.
Lỗi chính là tại chủ đầu tư nêu đầu bài “hở” và kiểm tra, giám sát kém
Trước hết, các chủ đầu tư đã không làm kiểu đấu thầu “2 phong bì”, phong bì kỹ thuật và phong bì giá, riêng rẽ. Cần phải lựa chọn các nhà thầu đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, công nghệ cao. Đây cũng có thể là khâu chủ đầu tư sơ hở từ đầu. Chẳng hạn, đã nêu yêu cầu kỹ thuật công nghệ không rõ ví dụ nêu “thiết bị từ các hãng G7”, nhưng sau này họ lại lắp đặt các thiết bị G7 được sản xuất tại nước khác, chất lượng kém hơn hẳn, như kiểu xe nhập khẩu và xe lắp ráp chất lượng khác nhau.
Thành ra, dù nhà thầu kém, kể cả một số nhà thầu Trung Quốc chưa có nhiều kinh nghiệm vẫn “qua mặt” được các nhà cung cấp thiết bị chính hãng! Đến khi xét thầu theo giá thì nhà thầu Trung Quốc có lợi thế do biết cách bỏ thầu chắc thắng.
Nguyên nhân chính để xảy ra và tồn tại tình trạng Trung Quốc luôn thắng thầu là nhà thầu biết cách thực hiện các công đoạn, hạng mục sai với thiết kế và hợp đồng, nhưng có thể mua chuộc giám sát để tìm ra các lỗi phát sinh ngụy tạo để tăng vốn từ chủ đầu tư. Nói cách khác là nhà thầu Trung Quốc biết và được sử dụng điều kiện tồn tại tham nhũng và sử dụng vốn vô trách nhiệm từ chủ đầu tư Việt Nam. Do đó, giải pháp để ngăn chặn nhà thầu Trung Quốc là phải sửa lỗi từ bên trong tức các chủ đầu tư Việt Nam – đương nhiên không phải đơn thuần chỉ trên phương diện kinh tế.

Giải pháp

1.Cần phải có luật lệ rõ ràng là nếu một công ty nước ngoài nào đã vi phạm đấu thầu trong một dự án thì công ty đó sẽ bị loại hoàn toàn trong các cuộc đấu thầu khác khắp trong nước bất kể ngành gì. Ngoài ra, quốc gia của công ty đó phải chịu một điểm xấu trong lịch trình đấu thầu của tất cả các dự án khác. Điều này, nếu chúng ta nêu rõ ràng và minh bạch thì không ai có thể kêu ca gì cả.
Cũng cần phải có các luật lệ rõ rằng về quỹ tiền thế chân (Bonds). Thứ nhất quỹ này phải do một cơ quan độc lập đứng ngoài dự án giữ để tránh tiền bị thất thoát.  Thứ hai, cần phải có các loại tiền thế chân khác nhau. Chẳng hạn, hầu như tất cả các công việc xây dựng công ở Mỹ đều được thực hiện bởi các công ty tư nhân. Công việc này thường được trao cho nhà thầu đáp ứng thấp nhất thông qua hệ thống giá thầu niêm phong cạnh tranh. Trái phiếu chắc (Surety Bonds) đóng một vai trò quan trọng cho hệ thống hoạt động. Ở Mỹ, có 3 loại trái phiếu chắc:
– Trái phiếu đấu thầu (Bid Bond) có mục đích để loại bỏ các nhà thầu yếu kém (phù phiếm) ra khỏi quá trình đấu thầu bằng cách đảm bảo rằng nhà thầu thành công sẽ tham gia vào hợp đồng và sẽ làm đúng theo tiêu chuẩn và nộp trái phiếu thanh toán (Payment Bond). Nếu người thầu trả giá thấp nhất không thực hiện được các cam kết này, chủ sở hữu sẽ được bảo vệ tối đa bằng số tiền của trái phiếu đấu thầu, thường trị giá của trái phiếu đấu thầu (Bid Bond) là sự khác biệt giữa giá thầu thấp và giá thầu đáp ứng cao kế tiếp.  
– Trái phiếu hiệu suất (Performance Bond) đảm bảo nhà thầu sẽ thực hiện hợp đồng theo các điều khoản và điều kiện đã đặt ra, theo giá thỏa thuận và trong thời gian đã được hoạch định.
– Trái phiếu thanh toán (Payment Bond) nhằm bảo vệ những người lao động, nhà cung cấp vật liệu và nhà thầu phụ nếu xảy ra việc nhà thầu không thanh toán tiền nong. Vì các khoản thế chấp không thể được đặt ra cho tài sản công cộng (chẳng hạn mình không thể đem con đường sẽ xây ra làm thế chân), trái phiếu thanh toán là cách bảo vệ duy nhất mà những người này được thanh toán cho hàng hóa và dịch vụ mà họ cung cấp cho dự án.
Chúng ta có thể viện nhiều lý do để các công ty nước ngoài phải đóng cả 3 loại tiền thế chân này trong khi các công ty trong nước đóng ít hơn để giúp các công ty nội địa.
2. Hồ sơ mời thầu cần chặt chẽ về kỹ thuật, quy trình, nêu rõ mục tiêu phải đạt, tiêu chí, loại thiết bị/công nghệ tầm G7 (cho phép tương đương).  Cần tính toán dòng tiền đầu tư, cộng vận hành bảo dưỡng trong lâu dài. Cần so sánh: giá đầu tư có thể cao ban đầu nhưng về lâu về dài tổng chi phí sẽ thấp, so với giá đầu tư thấp nhưng sau đó có nhiều “hidden cost” (chi phí che dấu) nếu tính đúng, tính đủ thì tổng giá thành rất cao nhưng không được thể hiện trên giấy tờ.
3. Vấn đề hợp đồng phải có từng giai đoạn và trong từng giai đoạn phải có sản phẩm (output) có thể kiểm tra về số lượng và chất lượng. Nhà thầu phải mua hoặc đóng bảo hiểm để sửa chữa các sai phạm. Nếu không làm đúng thì phải dừng ngay và bên thầu phải sửa chữa hoặc bị loại trừ. Trong trường hợp bên VN không có khả năng kiểm tra thì thuê kiểm tra nước ngoài (tức là tư vấn). Ở nước ngoài, nếu có chuyện băn khoăn 50/50 về quy định, quy trình, cơ sở khoa học… giữa việc chấp nhận và bác bỏ vấn đề gây quan ngại thì chủ đầu tư nghe theo khuyến cáo của Tư vấn, vì Tư vấn có tính độc lập nhưng vẫn muốn bảo vệ chủ đầu tư.
4. Những người có trách nhiệm được nhà nước giao phó trong quản lý vốn, giám sát,… không chỉ cần có cái tâm và cái tầm mà phải được nghiêm trị khi vi phạm hối lộ, tham nhũng.
5. Giải pháp để nhà thầu Trung Quốc bảo đảm hay tăng chất lượng và giảm chi phí công trình là phải sửa lỗi từ bên trong tức các chủ đầu tư Việt Nam. Sự tiếp tục thắng thầu của các nhà thầu Trung Quốc ngày càng tăng hình như là thứ mà mang tính bao trùm lên tất cả là vấn đề lỗi thể chế chính trị xã hội chưa có dấu hiệu đổi mới, chưa nhìn nhận thấu đáo bàn tay ma quỷ can thiệp và lũng đoạn của Trung Quốc vào nội bộ nước ta như thế nào?

Lời kết

Chính giới và giới trí thức ở Mỹ, Úc, New Zealand và nhiều quốc gia khác lên tiếng gay gắt vạch trần sự lũng đoạn nghiêm trọng của Trung Quốc từ hàng thập kỷ nay vào nội bộ nước họ dưới mọi hình thức của quyền lực mềm và ăn cắp “know how”, quyền sở hữu trí tuệ gây ra nhiều hệ lụy khác rất nghiêm trọng.
Chúng ta không từ chối đầu tư và hoạt động kinh tế của Trung Quốc tại Việt Nam nhưng không chấp nhận những nhà đầu tư không chỉ thiếu năng lực, trình độ mà điều quan trọng là muốn gây hạị cho VN, thậm chí điều này đậm nét hơn là “kiếm chác“! Dự án đường sắt Cát Linh – Hà Đông dùng vốn vay và nhà thầu Trung Quốc, liên tục đội vốn, hoãn ngày khánh thành, nay vẫn trơ gan như một tượng đài “tiền mất, tật mang” giữa Thủ đô.
Ở Việt Nam, chuyện cũ chưa xong lại thêm mối lo mới về việc Việt Nam cho phép làm thí điểm khu kinh tế Vần Đồn có yếu tố Trung Quốc làm người dân càng nặng trĩu khôn nguôi, nỗi âu lo về bàn tay ma quỷ của Tầu đã thò vào mọi lĩnh vực của mảnh đất hình chữ S thân thương này. Giữa lúc này, Trung Quốc lại đang leo thang trên Biển Đông bằng hành động kiểm soát khai thác tài nguyên biển, và lời lẽ hăm dọa chiến tranh trực tiếp uy hiếp nước ta.
Phải cải cách thể chế chính trị và xã hội, dựa trên bài học rất thành công của chống dịch covid 19 để lấy lại lòng tin của nhân dân, dựa vào sức mạnh của cả dân tộc và sức mạnh của thời đại để bảo vệ chủ quyền quốc gia và phát triển bền vững của đất nước.
Xin có mấy câu thơ để thay cho lời kết của bài viết này:
Ông Lớn“ muốn cả thiên hà
  Lòng tham vô đáy, nghịch tà vô biên
  Ngàn năm chuyện ấy còn nguyên
  Có chơi thì nhớ đừng quên điều này:
  Rõ ràng, minh bạch, thẳng ngay
  Đừng vì tham để đến ngày lại lo
Bàn tay “ma quỷ” lắm trò
Gạc Ma còn đấy, nhớ cho, không thừa.

T.V.T.

Tác giả gửi BVN