Bài đăng nổi bật

Bức tường Berlin (Phần 1): Nước Đức chia cắt

  Bức tường Berlin (Phần 1): Nước Đức chia cắt 12/08/2021 Nguyễn Thọ 12-8-2021 Vào ngày này cách đây 60 năm, đêm 12, rạng sáng ngày 13.08.19...

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2016

Công an tự tung tự tác – thêm một dấu hiệu bất an của thể chế

Công an tự tung tự tác – thêm một dấu hiệu bất an của thể chế

bauxitevnSun 7:49 AM


1. Khi chính công an gây náo loạn xã hội

Nguyễn Hồ
Sau vụ công văn cảnh báo bắt cóc, mổ nội tạng của công an huyện Si Ma Cai (Lào Cai), mà ngay sau đó Bộ Công an đã đính chính là sự việc không chính xác, người dân đã rất bán tín bán nghi, lo lắng, bởi vụ việc cũng bắt nguồn từ chính ngành công an. Giờ đến chính công an tổ chức bắt người như bắt cóc, lòng dân làm sao yên?
Chuyện nực cười! Công an là lực lượng được giao trọng trách giúp xã hội bình yên, thế mà họ lại gây náo loạn xã hội. Muốn bắt cứ bắt, chẳng cần giải thích, luật lệ gì ráo. Nhiều người dân sau khi vỡ chuyện, chỉ biết lắc đầu: “Loạn rồi!”.
Chuyện thật như đùa, khi bọn “bắt cóc” 2 cha con ở La Gi (Bình Thuận) gây náo loạn sáng 26.8 lại là… lực lượng công an.
clip_image002
Trường mẫu giáo nơi xảy ra vụ bắt cóc
Khoảng hơn 8 giờ ngày 26.8, khi tôi cùng một số người đi trên chiếc ôtô từ suối nước nóng Bình Châu, theo con đường ven biển về gần đến khu du lịch Hồ Cốc (huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu), thì bất ngờ bị 2 CSGT ra chặn xe. 
Sau khi mọi người xuống xe, 2 anh CSGT kiểm tra không có dấu hiệu gì đáng ngờ, mới ra hiệu cho xe đi tiếp. Trước khi rời đi, 1 anh CSGT ngỏ lời: “Anh thông cảm, vì vừa có vụ bắt cóc người ở Bình Thuận bằng ôtô đi về hướng TP.HCM, nên chúng tôi được lệnh phối hợp chặn xe để kiểm tra”. Và trên tuyến quốc lộ 55, quốc lộ 1… nối Bình Thuận với TP.HCM, hàng loạt chiếc ô tô cũng bị chặn để kiểm tra như vậy.
Thông tin lúc đó chỉ biết sơ bộ: khoảng 7 giờ 30 sáng 26.8, ông Lê Hồng Phong (1980) chủ doanh nghiệp nhà hàng tiệc cưới Malis ở thị xã Lagi (Bình Thuận), lái xe hơi chở đứa con 3 tuổi tới trường mẫu giáo Tuổi Thơ. Xe vừa dừng thì bất ngờ 1 chiếc ôtô 7 chỗ cúp đầu, 6 thanh niên lao xuống khống chế, cướp tay lái và chở 2 cha con chạy ra hướng quốc lộ! Chứng kiến sự việc, nhiều người bèn báo công an Lagi, ông Phong cũng nhắn tin được về gia đình là mình bị bắt cóc.
Đến chiều cùng ngày, sự việc vỡ lở, đại diện Bộ Công an thông tin, nhóm “bắt cóc” trên là các chiến sĩ Công an quận Hai Bà Trưng, TP.Hà Nội vào TP.HCM làm việc, rồi tự tiện ra Bình Thuận bắt giữ người tình nghi như “xã hội đen”, không cần lệnh bắt, không phối hợp công an địa phương, mà giữ kèm theo cả đứa trẻ.
Theo đại diện Bộ Công an giải thích, do ông Phong là đối tượng tình nghi có liên quan tới một tổ chức làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức mà cơ quan công an của Hà Nội đang thụ lý điều tra, nên 1 tổ công tác của công an quận Hai Bà Trưng đã “mời” ông Phong đi làm việc, nhưng không rõ vì sao có hành động như vậy!
Theo luật sư Đinh Thị Quỳnh Như, Giám đốc Công ty An Luật, anh Phong bị bắt trong lúc chở con đến trường nên không phải là bắt người phạm tội quả tang! Và nếu anh Phong không phải đối tượng đang bị truy nã, thì việc bắt giữ với con mà không có sự chứng kiến của thân nhân và đại diện chính quyền nơi cư ngụ, là trái quy định pháp luật.
Mặt khác, chuyện bắt người mà có đính kèm đứa trẻ mới 3 tuổi cũng không có quy định nào cho phép! 1 sai phạm nghiêm trọng của công an quận Hai Bà Trưng.
Bây giờ, dù giải thích thế nào, thì người dân cũng đã một phen náo loạn. Thực tế sáng qua, ngay sau khi bị CSGT chặn xe và thông báo về vụ “bắt cóc”, chính tôi cũng đã gọi điện thông báo về gia đình người thân ở Bình Châu (Xuyên Mộc, Bà Rịa- Vũng Tàu), để thông tin vụ việc và nhắc người nhà cẩn thận với các cháu nhỏ. Công an đã thông báo vậy khi chặn xe, ai mà không tin!
Và sáng qua, rất nhiều ôtô bị chặn như vậy, trên các ngả đường từ Bình Thuận về TP.HCM. Ai bị chặn và được thông báo, dĩ nhiên cũng điện thoại thông báo người thân về vụ “bắt cóc”. Người này lại chuyền miệng người khác, náo loạn hết!
Ngay cả chính người trong ngành cũng náo loạn! Công an tỉnh Bình Thuận ngay sáng qua đã thông báo về vụ “bắt cóc”, và nhờ các địa phương phối hợp vây bắt. Bằng chứng là công an tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu cũng tham gia chặn xe người dân để tìm hung thủ “bắt cóc”…
Sau vụ công văn cảnh báo bắt cóc, mổ nội tạng của công an huyện Si Ma Cai (Lào Cai), mà ngay sau đó Bộ Công an đã đính chính là sự việc không chính xác, người dân đã rất bán tín bán nghi, lo lắng, bởi vụ việc cũng bắt nguồn từ chính ngành công an. Giờ đến chính công an tổ chức bắt người như bắt cóc, lòng dân làm sao yên?
Chuyện nực cười! Công an là lực lượng được giao trọng trách giúp xã hội bình yên, thế mà họ lại gây náo loạn xã hội. Muốn bắt cứ bắt, chẳng cần giải thích, luật lệ gì ráo. Nhiều người dân sau khi vỡ chuyện, chỉ biết lắc đầu: “Loạn rồi!”.
N.H.

2. Một công an trại giam đánh đập vợ tàn nhẫn ngay tại trường mẫu giáo Tuổi Thơ 7, Sài Gòn

Bắn, đánh, bắt... "dân chủ như thế là cùng".
Nhục, đại nhục cho chính quyền này!
André Menras
(VNTB) - Vụ việc xảy ra vào buổi chiều ngày 26/8/2016, gây phẫn nộ rất lớn cho nhiều phụ huynh học sinh và các cô giáo, bảo vệ của Trường mẫu giáo Tuổi Thơ 7, 125 Trương Định, Phường 7, Quận 3, Sài Gòn.

clip_image004

Đúng giờ tan học, chị Y đến trường đón bé thì bất ngờ bị chồng chị đánh mạnh vào mặt khiến chị ngã xuống đất. Chỉ nhờ vào sự can ngăn của các phụ huynh và bảo vệ xung quanh mà chị Y không bị chồng đánh tiếp. Chị Y cho biết do mâu thuẫn vợ chồng nên chị đã muốn li dị từ lâu, nhưng người chồng không muốn.
Dù là mâu thuẫn gia đình, hành vi côn đồ của một người đàn ông đánh phụ nữ ngay trong môi trường sư phạm mầm non đã gây nên một hậu quả rất xấu, đặc biệt trong đôi mắt trẻ thơ của nhiều cháu bé có mặt xung quanh và chứng kiến cảnh tàn tệ này.
Chị Y cho biết chồng chị là một viên công an tại Trại giam Chí Hòa thuộc Công an TP.HCM. Trước mặt công an phường được mời đến để chứng kiến vụ việc vừa xảy ra, một phụ huynh nữ bật lên: “Công an như vậy thì quá xấu!”.
Rất có thể nhiều phụ huynh khác cũng nghĩ như vậy. Không thể trách mọi người nếu họ liên tưởng căn bệnh nghề nghiệp quen thói đánh tù của một số công an Việt Nam để sau đó tự cho phép mình hành hạ vợ ngay trong trường học của con họ.
Làm xấu mặt lực lượng được coi là “công an nhân dân”, viên công an Trại giam Chí Hòa – chồng của chị Y – cần bị cách chức và tước quân tịch.  
Trường Tuổi Thơ 7 cũng từng xảy ra “tiền án” về việc công an bắt người trái pháp luật, khiến nhiều giáo viên và phụ huynh bức xúc.  Tháng 6/2015, khi đưa con đi học tại trường này, nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng – Chủ tịch Hội nhà báo độc lập Việt Nam – đã bị hai chục người của Công an TP.HCM lao vào trường bắt giữ thô bạo vì lý do gửi giấy triệu tập nhiều lần mà nhà báo Dũng không chịu đi “làm việc”. Tuy nhiên, tất cả giấy triệu tập của Công an TP.HCM đối  với nhà báo Phạm Chí Dũng đều vi phạm pháp luật do không căn cứ vào bất cứ một vụ án nào đã được khởi tố.   
VNTB sẽ tiếp tục theo dõi và phản ánh vụ việc công an đánh phụ nữ tại trường Tuổi Thơ 7.
PV VNTB

Sự minh bạch là bài học quan trọng nhất mà chính quyền cần rút ra...

Sự minh bạch là bài học quan trọng nhất mà chính quyền cần rút ra...

bauxitevnSun 7:45 AM


Mai Tú Ân
Đã hơn 4 tháng rồi kể từ những con cá đầu tiên ở miền Trung chết do chất thải của Formosa nhưng sự việc vẫn rối tinh rối mù như những ngày đầu tiên ngay cả với những người am hiểu tình hình nhất. Bởi sự không minh bạch của chính quyền ông Nguyễn Xuân Phúc trong bài thuốc thử đầu tiên của mình đã đưa đến kết quả tồi tệ này.
Sự việc chính quyền Việt Nam nắm đầu được Formosa là kẻ gây thảm họa miền Trung cũng như số tiền đền bù 500 triệu đô la mà Tập đoàn này phải chi ra, người dân chưa vui mừng được bao lâu thì cũng phát sinh thông tin trái ngược. Đó là Formosa về Đài Loan và tố ngược Chính phủ Việt Nam cấm xuất cảnh các sếp của Formosa mẹ khi họ đến họp để bắt chẹt bắt họ phải chịu trách nhiệm và đền tiền. Rồi sự kiện hoàn thuế và thiệt hại của Formosa trong vụ bạo động năm 2014 cũng gần bằng số tiền mà Formosa đã hứa đền bù cho thảm họa miền Trung.
Rồi vụ việc Đại sứ Mỹ Ted Osiut đề nghị Chính phủ Việt Nam cho phía Mỹ tham gia giải quyết vụ cá chết này, chính quyền cũng in lặng và cũng im luôn không cho người dân Việt Nam biết điều tốt đẹp đó của một người bạn Mỹ.
Những sự kiện không vui như thế cứ liên tiếp diễn ra, và lạ đời thay lại diễn ra trong sự im lặng lạ lùng của chính quyền trung ương và các cấp. Không có cơ quan có trách nhiệm nào, cũng như không có cá nhân trách nhiệm nào đứng ra tuyên bố bác bỏ hay công nhận những điều trên. Chính quyền, thay vì lên tiếng bác bỏ hay trình bày rõ ràng cho công chúng như một cơ quan có trách nhiệm thì lại im lặng một cách khó hiểu. Khiến cho sự việc càng lúc càng khôi hài và tai tiếng một cách không đáng có...
Từ khi vụ cá chết miền Trung xảy ra cũng đã có nhiều sự kiện đã xảy ra, và chính quyền cũng đã chọn một phương án sai lầm và phần nào vô trách nhiệm với người dân của mình. Đó là im lặng không giải thích gì cả, và coi người dân của mình không đáng để giải thích.
Những hành động mũ ni che tai đó của chính quyền giống như con lạc đà chui đầu xuống cát để không nhìn thấy nguy hiểm, sẽ chỉ gây tác hại một cách không đáng có. Tại sao chính quyền, thay vì công bố toàn bộ sự thật của vụ việc như nó vốn có thì lại im lặng một cách khó hiểu, khiến cho sự việc cá chết này giống như đang giấu giếm hay bao che cho Formosa vậy. Dù chính quyền im lặng, không lên tiếng về sự kiện nào đó, thì sự kiện ấy vẫn có đúng như nó vốn có và tích tụ lại chứ không mất đi và sẽ gây nguy hại khôn lường. Chưa kể việc người dân sẽ đánh giá như thế nào về một chính quyền mà mỗi khi gặp vấn đề khó khăn thì chỉ biết im lặng một cách hèn nhát.
Một chính quyền tốt phải là một chính quyền can đảm dám công khai tất cả tốt xấu của mình, và với những cá nhân, từ người đứng đầu chính phủ cho đến các bộ trưởng đều là những con người dũng cảm, dám chịu trách nhiệm về mọi việc làm của mình một cách quang minh chính đại giữa bầu trời trong sáng. Chứ chính quyền không thể là nơi chỉ có những nấm mộ im lìm, hay những đôi tai điếc và những cái miệng câm như hến mỗi khi gặp khó khăn được.
Sự minh bạch của chính quyền, không phải giải quyết được tất cả mọi vấn đề nhưng chắc chắn giải được bài toán cá chết miền Trung một cách có trách nhiệm nhất. Ngoài việc tốt cho dân thì sự minh bạch cũng tốt cho chính các bộ trưởng thành viên, khi họ có thể làm việc hay chứng tỏ lòng can đảm của mình, chứ không thì họ cũng chết ngợp  trong một cái hũ tối đen, không có ánh sáng mặt trời...
M.T.A.
Tác giả gửi BVN

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2016

Đề phòng càng học càng xa rời thực tế

Đề phòng càng học càng xa rời thực tế

bauxitevnSat 7:40 AM


Nguyễn Đình Cống
Ngày 25 tháng 8 Bộ Chính trị và Ban Bí thư TƯ ĐCS VN tổ chức học tập 2 chuyên đề : Nguồn lực và động lực phát triển đất nước 2016-2030, và Cuộc cách mạng lần thứ tư.
Phát biểu kết thúc Hội nghị, Tổng Bí thư hoan nghênh các cơ quan có liên quan và các tác giả đã chuẩn bị công phu, có chất lượng nội dung các báo cáo, cung cấp được nhiều thông tin mới mẻ, bổ ích, thiết thực; đồng thời cũng gợi mở thêm một số vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu sâu để hoàn thiện và nâng cao hơn nữa chất lượng của các báo cáo. Tổng Bí thư cũng yêu cầu Hội đồng Lý luận Trung ương phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có liên quan tích cực chuẩn bị nội dung các chuyên đề tiếp theo để báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Tôi đã cố tìm nội dung cụ thể của các chuyên đề và tên của báo cáo viên nhưng chưa tìm thấy. Tổ chức học chuyên đề cho Bộ Chính trị là việc tương đối mới lạ. Sẽ là rất tốt khi nội dung báo cáo tháo gỡ cho học viên những nhận thức sai lầm, kích thích được, gợi mở được năng lực sáng tạo của họ, khi báo cáo viên không những là nhà khoa học chân chính, trung thực mà còn biết đặt chân lý và quyền lợi dân tộc lên trên ý thức hệ và quyền lợi riêng của đảng. Ngược lại, nếu nội dung thuyết trình cũng như báo cáo viên chỉ nhằm minh họa Chủ nghĩa Mác Lênin (CNML), nhằm ca ngợi sự sáng suốt của Đảng, đi theo quan hệ 4 tốt và 16 chữ vàng thì không khéo càng học càng xa rời thực tế, càng bóp méo sự thật, càng hiểu sai chân lý, càng phản lại dân tộc.
Chương trình giảng dạy về CNML, về Lịch sử ĐCSVN ở các trường đại học chiếm khá nhiều thời gian nhưng hiệu quả mang lại rất thấp. Đa số thầy dạy chỉ trình bày theo sách vở một cách thiếu tự tin, sinh viên bị bắt buộc học chỉ để thi, phần nhiều thi xong là quên, nếu có nhớ thì khi đối chiếu với thực tế lại thấy ngược lại, càng mất lòng tin. Trước tình hình đó đáng lẽ cần đổi mới nội dung môn triết học thì xu hướng của tuyên huấn là tăng thêm giờ học. Thực tế càng tăng giờ sinh viên càng chán học. Ngay như môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, nếu chỉ dạy trong 10 đến 12 giờ là vừa phải, chương trình quy định 60 giờ, tưởng là đề cao môn học, không ngờ tác dụng ngược lại, vi nội dung không hấp dẫn mà càng cố kéo dài lê thê thì người học càng chán. Không biết đã bao giờ lãnh đạo Đảng đặt câu hỏi: Tại sao học và vận động làm theo Hồ Chí Minh rất nhiều mà càng học thì đạo đức xã hội càng xuống cấp trầm trọng.
Xin kể câu chuyện. Tôi về quê, nghe hai người cháu, cán bộ ở các phòng của huyện, khoe là được cho đi học lớp lý luận do tỉnh mở để bồi dưỡng cán bộ cơ sở. Tôi nói, các cháu mà đi học các lớp ấy thì không khéo càng học càng xa rời thực tế (tôi định nói càng học càng ngu, nhưng nể 2 anh cháu mà nói chệch đi). Các cháu chất vấn: Tại sao cậu lại nói thế. Tôi trả lời là chính tôi đã dự thính vài lớp như vậy và biết một số điều được dạy là sai đến mức nguy hiểm. Nguyên là khi tôi về dạy các lớp tại chức ở Trung tâm giáo dục thường xuyên, tôi thường gặp các lớp bồi dưỡng như vậy. Những buổi không lên lớp tôi tranh thủ đến dự thính, nghe xem người ta giảng dạy cái gì. Phần lớn là về nội dung cơ bản của CNML. Bản chất nội dung đó có nhiều điều sai, mà thỉnh thoảng thầy còn giảng sai thêm nữa. Ở đây không phải sai sai thành đúng, mà sai sai thành sai nhiều hơn. Trong giờ nghỉ tôi trao đổi với vài học viên, họ cho rằng thầy giảng thế thì biết thế chứ không thể đánh giá được mức độ đúng sai ở chỗ nào. Các thầy đều có bằng Tiến sĩ về KHXH. Học viên cán bộ cấp huyện làm sao đủ trình độ để đánh giá sự đúng sai bài giảng của một thầy có bằng Tiến sĩ, chuyên dạy lý luận và làm công tác tuyên huấn.
Lớp học của Bộ Chính trị và Ban Bí thư không thể phạm các điều sai như ở các lớp bồi dưỡng, nhưng nếu vẫn tôn thờ CNML thì lại có thể phạm cái sai khác lớn hơn, phạm vào những ngụy biện tinh vi mà trình độ của các học viên chưa chắc đã có đủ để phát hiện.
Sau lớp học có đánh giá và đề nghị của Tổng Bí thư. Đó là ý kiến cá nhân, mức độ đáng tin cậy phụ thuộc nhiều vào trình độ và quan điểm người đánh giá. 
Để cho những buổi học tập như thế đạt hiệu quả cao, tránh được việc nói và nghe một chiều, làm cho chân lý bị hiểu sai, tôi xin đề nghị mấy điểm sau :
1- Công khai tên báo cáo viên và nội dung thuyết trình để ai muốn phản biện có thể đóng góp ý kiến.
2- Các buổi học tập như thế nên mở rộng một chút, mời thêm vài ba trí thức tham dự, những người này phải có trình độ cao, trung thực, dám phản biện, có thể đại diện cho tiếng nói của trí thức, họ sẽ phản biện vào cuối buổi học trước mặt học viên, để cho học viên không bị nhồi sọ một chiều .
3- Nên mở một số cuộc đối thoại giữa những nhà lý luận của Đảng và đại diện của trí thức, của doanh nhân theo đề nghị của GS Chu Hảo, của ông Nguyễn Trung (tôi cũng đã từng có đề nghị đối thoại như vậy). Khi thấy chưa tiện đối thoại thì có thể mở vài cuộc họp cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các Ủy viên trung ương, mời một số trí thức bất đồng chính kiến đến trình bày quan điểm của họ về CNML, về đường lối xây dựng đảng và đất nước. Sau khi nghe các vị đó thuyết trình các trí thức của Đảng tha hồ phản biện. Tôi xin ứng cử làm một trong những thuyết trình viên như vậy.
Kết luận. Học và làm chỉ tốt khi đúng hướng. Nếu chọn sai hướng (nhưng vì vô minh, vì bảo thủ, vì không chịu nghe người khác mà cứ cho là đúng, nhất định không chịu thay đổi) thì càng tích cực bao nhiêu càng xa rời mục đích tốt đẹp là tự do và hạnh phúc của nhân dân. Thực tế gần một thế kỷ qua chứng tỏ theo CNML là đi sai đường. Nhiều dân tộc thấy sai, đã quay lại. Bộ phận tinh hoa của dân tộc Việt và đa số nhân dân cũng đã thấy sai. Chỉ còn một số nào đó trong ĐCS và trong nhân dân là chưa thấy. Muốn biết sai đúng đến đâu thì không phải đóng cửa để học theo lối ngụy biện mà mở cửa cho sự tự do tư tưởng, tự do đối thoại. Có như thế việc học mới mang lại kết quả tốt đẹp.
N.Đ.C.
Tác giả gửi BVN
.
,

“Đẩy mạnh xây dựng Đảng” “Ra sức củng cố khối đoàn kết toàn dân”- hai việc làm khó hơn lên trời.

“Đẩy mạnh xây dựng Đảng” “Ra sức củng cố khối đoàn kết toàn dân”- hai việc làm khó hơn lên trời.

bauxitevnSat 7:39 AM


Thiện Tùng
26/08/2016
Không ai chủ trương xây dựng, củng cố cái đã hoàn thiện. Vì chưa/không hoàn thiện nên mới “đẩy mạnh” và “ra sức”. Trước thực trạng ê chề: nội bộ đảng chia bè chia cánh, sát phạt nhau; dân tình nhốn nháo, mất lòng tin cực độ với đảng cầm quyền, không còn cách nào khác, bổn cũ soạn lại, các vị lãnh đạo tối cao của đảng lại tiếp tục nhắc nhở thuộc hạ: “Đẩy mạnh công tác xây dựng đảng, làm cho đảng trong sạch vững mạnh”;đồng thời “Ra sức vận động, giáo dục quần chúng, củng cố khối đoàn kết toàn dân” – đây là hai vấn đề cốt tử quyết định sự tồn vong của chế độ. Trong bối cảnh hiện nay, làm được hai việc này còn khó hơn lên trời.
Chỉ cần xin hùn khoảng 1 triệu USD có thể quá giang tàu vũ trụ lên sao Kim, sao Hỏa gì đó, chớ có bỏ ra hàng chục tỷ USD chưa chắc chữa được bịnh mất đoàn kết giữa đảng viên với đảng viên, giữa dân với đảng cầm quyền. 
Một bác sĩ ở trung tâm Ung buớu Sài Gòn giải thích với tôi về bịnh ung thư: “Giai đoạn 1 có thể vượt qua, trở lại trạng thái bình thường; Giai đoạn 2 tính sống theo năm tháng; Giai đoạn 3 cố sống theo tháng ngày”. Mất đoàn kết trong đảng cầm quyền, dân mất lòng tin đối với Đảng cầm quyền như bịnh ung thư giai đoạn 3.
Có lẽ còn nước cón tát, dường như đảng cầm quyền hoạch định phương án chữa bịnh nan y giai đoạn 3 này kết hợp 2 phác đồ: “Bổn cũ soạn lại” (Cây nhà lá vườn) và “Đả hổ, diệt ruồi” (sao chép từ Đảng CSTQ).
1/ Bổn cũ soạn lại 
“Tự phê và phê bình” + “học tâp, làm theo cụ Hồ”.
Tự phê và phê bình. Vềtự phê: Dại sao tự thú, khác chi thọc đầu vào kẹt đá. Đưa mục tự phê ra cho đủ đầu đuôi thủ vĩ để lừa đời, chớ kỳ thực, người ta đã nhận lớp này từ lâu. Về phê bình: phải “cạy miệng” đổ mà chẳng chịu nuốt, còn phun ra, mặt chầm hầm như thợ thiến trâu, vỗ bàn, vung tay, miệng chối leo lẻo như lên đồng. Bởi vậy, mới đây thiên hạ dựng chuyện biếm nghe cũng hay hay:
<<Hôm nay nhà bà H có cuộc họp chi bộ thôn. Đang lúi húi nấu cơm, bà H chợt nghe to tiếng trong cuộc họp. Lát sau, cô con gái xuống bếp, bà H hỏi:
- Có chuyện gì trên ấy mà ấm ỷ thế?
- Đang kiểm điểm “phê, tự phê bình” – cô gái trả lời.
- Các vị ấy xưng hô thế nào? – bà H hỏi.
- Dạ, đang gọi nhau Ông... và...Tôi – cô gái đáp.
- Thế thì không sao, con cứ mang nước lên cho các bác ấy uống.
Lát sau, có tiếng đập bàn, xô ghế. Cô con gái hớt hải chạy xuống vừa run vừa nói:
- Không xong, gay lắm rồi mẹ ơi!
- Có gì thế? – bà H hỏi.
- Tình hình có vẻ căng lắm rồi !...
- Thế bây giờ các ông ấy gọi nhau bằng gì ? – bà H hỏi.
- Dạ, giờ thì ông này trỏ tay vào mặt ông kia, nói to: “Tôi nói để các đồng chí biết..., không xong với tôi đâu...”
Bà H nghe vậy, hốt hoảng, nói với con gái: “Gọi nhau bằng đồng chí như vậy là có chuyện lớn rồi! Con mau lên bảo bố con xuống đây. Không khéo xảy ra án mạng như chơi...>>.
Học tập, làm theo cụ Hồ. Học thì chiếu lệ, lấy cuộc, lấy lượt người tham gia để báo cáo mang tính chất ganh đua. Làm thì ngược lại, cụ Hồ nói một đường, đệ tử làm một nẻo. Chẳng hạn: 
“Giữ gìn đoàn kết trong đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.Thế mà những đệ tử của Cụ không bảo vệ thị giác: hết khẩu chiến, bút chiến đến vũ khí chiến với nhau, “thắng làm vua, thua làm giặc”, chột giành làm vua xứ mù – Đại hôi 12 phải động hàng ngàn binh và thiết giáp bảo vệ; thanh toán nhau bằng vũ khí giữa thanh thiên bạch nhựt như ở Yên Bái mới đây là những minh chứng chưa từng có trong lịch sử.
“Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Sáng xách ngựa sắt đi, trưa chiều xách ngựa sắt về hiệu quả không có gì đáng nói; Tiền thuế của dân xem như của chùa, tư ý, tha hồ chi; Bòn rút của công vô tội vạ; Làm động tác giả điêu luyện, nói dối không chóp mắt, không biết ngượng miệng; Đặt lợi ích cá nhân trên lợi ích đảng, đặt lợi ích đảng trên lợi ích dân tộc, v.v. Phẩm hạnh người cai trị đã như thế thì làm sao “Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”? Và bảo sao người đời không khinh khi, gọi thằng này con nọ? Bởi vậy, TS Hà Sĩ Phu chướng mắt, khắc họa bằng 2 câu thơ lục bát:“Trời bày ra chuyện nhố nhăng / Ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông”.
Cụ nói “Dân là gốc”. Thế mà hậu duệ của Cụ vận dụng vào thực tế “Lấy dân làm gốc”, tha hồ ngự trên đầu dân, xem đất nước và dân tộc Việt Nam này là của riêng mình, muốn làm mưa làm gió gì thì làm, miễn sao có lợi cho bản thân, cho đảng của mình, v.v.. Bởi vậy mới có chuyện châm biếm sâu cay:
<< Bác Giáp chết xuống gặp cụ Hồ. Cụ Hồ hỏi:
- Ở trên ấy “làm ăn” ra sao rồi?
- Làm mới được một phần ba (1/3) lời dặn của Cụ - Bác Giáp trả lời.
- Nghĩa là sao nói rõ hơn xem? – Cụ Hồ vặn hỏi.
- Di huấn của Cụ “Không có gì quí hơn độc lập tự do”. Cả thảy câu nầy gồm 9 chữ, làm mới được 3 chữ đầu “không có gì” - Bác Giáp lý giải.
- Hèn chi: “nội bộ xào xáo, quan chức hư ráo, nhân dân nhốn nháo”... – Cụ Hồ lắc đầu than>>. 
2/ “Đả hổ, diệt ruồi”
Tập Cận Bình đang chiếm thế thượng phong, chọn phương cách từ trên xuống “Đả hổ, diệt ruồi” - đốn cây trước, mé nhánh sau; còn Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhà ta chưa hẳn chiếm thế thương phong, dường như ông đang chọn phương cách từ dưới lên “đả muỗi, diệt ruồi” - mé nhánh trước, đốn cây sau.
Tuy về phương cách khác nhau, nhưng hai Đảng CS Trung Quốc và Việt Nam có cùng một mục đich là chống họa tham nhũng. 
Khi tham những lan tràn trong giới cầm quyền, trở thành những thế lực băng nhóm mafia. Những người chủ trương chống tham nhũng chắc gì sạch sẽ. Họ chống tham nhũng có thể là động tác giả, là liều thuốc giảm đau để an dân, lấy điểm với dân, duy trì chế độ thối nát được ngày nào hay ngày ấy.
Ở Trung Quốc, mũi chống tham nhũng dường như ngừng công, quanh đi quẩn lại quân ta đánh quân mình, loại hết còn gì đảng, lấy ai cai trị. Mâu thuẫn trong Đảng CS ngày một gay gắt, họ có thể thịt nhau bằng súng đạn, đang tấn thối lưỡng nan.Tập Cận Bình dường như ngao ngán “vua tập thể” đang mơ nền độc tài Tổng thống chế theo kiểu Nga trong hiện tại.
Ở Việt Nam chẳng khác gì ở Trung Quốc, trong Đảng CSVN chửi rủa nhau ỏm tỏi, trừng phạt nhau không gớm tay: Những trang điện tử “Quan làm báo, Vua làm báo, Bộ đội làm báo, Tư Sang nham hiểm, Chân dung quyền lực,...” nào phải của dân, mà chắc chắn của các thế lực quyền lực trong bộ máy đảng và nhà nước, họ vạch mặt nhau, mặt mũi tem lem như những thằng hề. Chuyện lên voi xuống chó diễn ra hàng ngày theo sự đạo diễn của Đảng. Chuyện liên tiếp ám hại, giết hai nhau đừng nói không có chủ mưu.
Dối trên, lừa dưới, mị dân trở thành căn bịnh mãn tính. Riết rồi cả xã hội “nói chơi không biết, nói thiệt không hay”. Minh họa cho việc này bằng chuyện vui:
<<Một gã nói dối (dóc) nổi tiếng không còn ai tin lời ông ta. Bữa nọ gã đến bìa rừng gặp con bò đẻ ra con bò con (con bê) trong tuyết lạnh, lật dật về báo với chủ bò:
- Bò của anh đẻ bò con ngoài bìa rừng, ra đem nó về kẻo lạnh chết.
Chủ nhà chỉ cười và bỏ qua. Nửa đêm h6m ấy, thấy bò mẹ không về, chủ bò ra bìa rừng kiếm, thấy con bò mẹ đứng bên con bò con đã chết. Sáng hôm sau, chủ bò gặp lại gã nói dối, tự trách:
- Tôi lấy làm ân hận, phải chi chiều hôm qua tôi tin anh thì bò con đâu chết!
- Tôi còn ân hận hơn anh: Cả đời tôi, đây là lần nói thật đầu tiên mà chẳng được anh tin”- Gã chuyên nói dối lắc đầu trong ngao ngàn>>.
Tham nhũng trong Đảng CSVN đã phổ biến và đang thịnh hành. Đảng CSVN đang bị áp lực “trên búa, dưới đe” - Nếu Đảng CSVN chống tham nhũng thật thì sẽ có náo loạn trong nội, còn không chống hoặc chống vã vờ [giả vờ] thì dân cũng sẽ nổi loạn. Chống cũng chết, không chống cũng chết, vậy thì biết tính sao hỡi trời?!
T.T
Tác giả gửi BVN

Thảm họa Formosa Vũng Áng: Hệ quả tất yếu của nhà nước tham nhũng đã đặt lợi ích phe nhóm cầm quyền lên trên lợi ích dân tộc

Thảm họa Formosa Vũng Áng: Hệ quả tất yếu của nhà nước tham nhũng đã đặt lợi ích phe nhóm cầm quyền lên trên lợi ích dân tộc

bauxitevnSat 7:38 AM


Phạm Đình Trọng
Thảm họa Formosa đã phơi bày rõ nhất bản chất tham nhũng của nhà nước cộng sản VN hôm nay. Hay có thể nói cách khác là thảm họa Formosa là hệ quả tất yếu của nhà nước tham nhũng đã đặt lợi ích phe nhóm cầm quyền lên trên lợi ích đất nước, lợi ích người dân.
1. Nhà nước tham nhũng
Trong các mục tiêu mà đám quan tham nhũng nhằm tới thì quyền lực là mục tiêu hấp dẫn nhất. Trong menu của đám quan tham nhũng thì món quyền lực là món họ thèm khát nhất, khoái khẩu nhất. Tham nhũng quyền lực cũng là tham nhũng lớn nhất, nguy hại nhất, để lại hậu quả nặng nề nhất cho hiện tại và lâu dài nhất cho mai sau.
Học thuyết Mác-Lê nin đã dìm phân nửa nhân loại ngập trong máu và nước mắt và đã bị lịch sử loài người loại bỏ, vùi sâu chôn chặt cùng với sự sụp đổ của cả hệ thống nhà nước xã hội chủ nghĩa Liên bang Xô Viết và Đông Âu nhưng những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam vẫn kiên định chủ nghĩa Mác-Lê nin đầy tội ác chỉ nhằm duy trì sự độc quyền quyền lực nhà nước cho những người lãnh đạo đảng cộng sản. Đó là sự tham nhũng quyền lực trắng trợn nhất trong lịch sử Việt Nam. 
Tồn tại bằng tham nhũng quyền lực của nhân dân, nhà nước cộng sản Việt Nam đã dành rất nhiều công sức xây dựng Hiến pháp và hệ thống pháp luật để tham nhũng quyền lực của dân và của cải tài nguyên của đất nước. 
Xin dẫn chứng ở Hiến pháp. 
Điều 4 “Đảng Cộng sản Việt Nam... là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” Quyền lực lớn nhất và quan trọng nhất của nhân dân là bầu chọn ra lực lượng chính trị lãnh đạo đất nước. Điều 4 Hiến pháp cho đảng cộng sản được quyền tước đoạt quyền lực lớn nhất và quan trọng nhất của nhân dân, tức là Hiến pháp cộng sản cho đảng cộng sản được quyền tham nhũng quyền lực của nhân dân.
Điều 51 “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”. 
Giữ vai trò chủ đạo nhưng lãnh đạo kinh tế nhà nước chỉ có lòng tham, không có kiến thức làm kinh tế, đến lương tâm của người làm ăn lương thiện cũng không có, kinh tế nhà nước trở thành cái thùng không đáy hút kiệt vốn liếng, tiền bạc, tài sản của đất nước và là mảnh đất màu mỡ cho những quan chức nhà nước, những đảng viên có vai vế của đảng cộng sản rút ruột ngân sách nhà nước qua việc chi tiêu, mua sắm vô tội vạ, qua việc kinh doanh mua đắt bán rẻ. Người kinh doanh bình thường nào cũng phải mua rẻ bán đắt kiếm lời lãi nhưng chủ doanh nghiệp nhà nước Việt Nam coi kinh doanh chỉ là phi vụ rút ruột ngân sách nên đều mua đắt bán rẻ. Thua lỗ thì ngân sách nhà nước gánh chịu còn tiền chênh lệch giữa mua tiền tỉ, bán tiền triệu thì vào túi riêng quan tham và những Vinashin của Phạm Thanh Bình, Vinalines của Dương Chí Dũng, Tổng công ty cổ phần xây lắp Dầu khí Việt Nam của Trịnh Xuân Thanh... là minh chứng. 
Điều 53 “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. 
Chỉ có luật pháp của nhà nước tham nhũng mới khai sinh ra khái niệm “Sở hữu toàn dân”. Cha chung không ai khóc. Lắm sãi bỏ ngỏ cửa chùa. Sở hữu toàn dân là vô chủ. Quan chức nhà nước cộng sản đại diện chủ sở hữu và quản lí đất đai, tài nguyên vô chủ đó mặc sức thậm thụt với những nhà đầu tư vẽ ra những dự án thu hồi đất. Giá trị đất là 100, giá đền bù cho người dân sở hữu mảnh đất của tổ tiên để lại chỉ là 1. 99 phần chênh lệch còn lại, quan chức nhà nước cộng sản và nhà đầu tư ăn chia với nhau. Không có loại tham nhũng của cải nào lại ngon ăn và ăn đậm như tham nhũng của vô chủ, của sở hữu toàn dân. 
Tham nhũng đất đai đã tạo nên dòng dân oan nối dài trong năm tháng, tạo nên nỗi oan khiên ngút trời chưa từng có trong lịch sử Việt Nam. Đất nước bốn ngàn năm văn hiến hiển hách của vua Hùng chan chứa thương yêu đến thời cộng sản trở thành cường quốc dân oan, cường quốc hận thù. Hận thù giữa người dân với nhà nước cộng sản nung nấu, sôi sục đến mức người dân sẵn sàng đánh đổi tính mạng để trả mối hận thù đó. Tiếng súng Đặng Ngọc Viết là một minh chứng. Đất nước bốn ngàn năm văn hiến đến thời cộng sản thành cường quốc xuất khẩu nô lệ tình dục, cường quốc xuất khẩu lao động cơ bắp, xuất khẩu cả buôn lậu và ăn cắp, xuất khẩu tủi nhục và lưu manh. Đất đai nhà cửa bị cướp. Người dân không còn đường sống. Đàn bà phải đi làm nô lệ tình dục, đàn ông đi làm thuê làm mướn khắp thế giới. Đau đớn và nhục nhã thay cho lịch sử Việt Nam! cho Văn hiến Việt Nam! Cho Giống nòi Việt Nam thời cộng sản tham nhũng đẩy người dân vào con đường khôn cùng, đau đớn và tủi nhục!
Chỉ có đảng vô sản đưa những người không một cắc bạc dính túi, không một chút đạo lí, lễ nghĩa khai tâm lên nắm quyền lực nhà nước và họ đã dựng lên một nhà nước ăn cướp mới dám ngang nhiên tham nhũng từ quyền lực nhân dân đến đất đai, tài nguyên đất nước.
Một đảng như vậy, một nhà nước như vậy thì sang nhượng đất Vũng Áng rẻ mạt cho Formosa để quan chức của đảng kiếm lợi lớn còn nhân dân và đất nước gánh chịu thảm họa đau thương cũng là tất yếu. 
2. Nén bạc Formosa 
Nỗi đau Formosa Vũng Áng, Hà Tĩnh chỉ là sự nối tiếp của nỗi đau Ecopark, Văn Giang, Hưng Yên, của Vụ Bản, Nam Định, của Dương Nội, Hà Nội và hàng trăm nỗi đau của hàng trăm dự án mà quyền lực nhà nước kết hợp với quyền lực đồng tiền cướp đất, cướp rừng, cướp biển đã và đang diễn ra trên khắp đất nước Việt Nam hôm nay. 
Khác nhau ở chỗ Văn Giang - Hưng Yên, Dương Nội - Hà Nội chỉ đơn thuần là kinh tế, quyền lực nhà nước liên kết với tư bản hoang dã trong nước cướp đất đai, cướp miếng ăn, cướp cuộc sống bình yên của dân đen, mang tai họa đến dân đen một vùng quê hiền hòa. Formosa Vũng Áng không đơn thuần chỉ là kinh tế. 
Formosa Vũng Áng là mưu đồ xâm lược của Bắc Kinh núp sau tư bản hoang dã bất lương Đài Bắc mang hơi đồng đến Việt Nam làm mờ mắt quan chức tham nhũng Việt Nam để tư bản hoang dã Đài Bắc đặt nhà máy ở Vũng Áng sản xuất kinh doanh bằng công nghệ cổ lỗ, đầu tư không tốn kém, thải chất độc hại không được xử lí ra ngay tại chỗ, đầu độc thiên nhiên Việt Nam, con người Việt Nam và để mưu đồ xâm lược Bắc Kinh đứng chân cắm chốt vào yếu huyệt Vũng Áng, biến Formosa Vũng Áng thành tên Trọng Thủy ở rể nằm vùng tìm cách triệt tiêu sức mạnh Việt Nam và biến Formosa Vũng Áng thành con ngựa thành Troia của Bắc Kinh trong mưu đồ xâm lược Việt Nam.
Trước khi đến Vũng Áng, Formosa đã gây tội ác đầu độc môi trường, hủy diệt sự sống ở chính quê hương nó, Taiwan, đã gây tội ác hủy diệt sự sống ở nhiều nơi trên thế giới và đã bị xua đuổi ở nhiều nơi nó định bén mảng đến. Formosa đã là nỗi bất an, là tai họa khủng khiếp đối với chính người dân ruột thịt của nó, Taiwan.
Vậy mà quan chức Việt Nam từ địa phương đến trung ương đã vồ vập săn đón kẻ có bề dày tội ác hủy diệt sự sống Formosa. Quan chức Việt Nam từ địa phương đến trung ương đã te tái chạy thủ tục cho Formosa, đã đơn giản, xuê xoa bỏ qua mọi qui định nghiêm ngặt về công nghệ, về tác động môi trường để kẻ lì lợm đầu độc môi trường Formosa có hộ khẩu ở Vũng Áng với tốc độ mau lẹ chưa từng có. 
Không những vậy, quan chức Việt Nam từ địa phương đến trung ương còn dành cho kẻ lì lợm hủy diệt sự sống Formosa quá nhiều ưu đãi và nuông chiều. 
Ưu đãi từ giá thuê đất rẻ như cho không lại được miễn tiền thuê đất, tiền sử dụng đất kéo dài tới 11 năm, đến không phải chi trả tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư, từ miễn thuế nhập khẩu trong 5 năm, đến diện tích mặt bằng đòi đâu được đó. Đòi Vũng Áng, được Vũng Áng. Đòi cảng nước sâu Sơn Dương, được cảng nước sâu Sơn Dương. Và điều kì lạ nhất là vượt cả phép nước, thời gian kẻ hủy diệt sự sống đó được thuê đất kéo dài tới 70 năm. 
Nuông chiều để Formosa lộng hành, tự đặt ra luật lệ riêng của Formosa. Formosa coi Vũng Áng như đất đai của người Hán, giang sơn của người Hán, Formosa Vũng Áng như một vương quốc độc lập, ông chủ Formosa Vũng Áng thành lãnh chúa ở Hà Tĩnh và người dân Hà Tĩnh thành kẻ lưu vong ngay trên quê hương mình!
Bỏ qua mọi qui định nghiêm ngặt, xé bỏ cả luật pháp để ưu đãi cho kẻ lì lợm hủy diệt sự sống mang tên Formosa chỉ có thể giải thích bằng câu thành ngữ dân gian và đang là hiện thực thường ngày trong xã hội Việt Nam thời tham nhũng ngự trị này là “nén bạc đâm toạc tờ giấy”. Nén bạc Formosa đâm toạc mọi luật lệ phép nước Việt Nam, Formosa mới mau lẹ có mặt ở Vũng Áng để hủy diệt sự sống trên dải đất Việt Nam suốt 70 năm.
3. Loại bỏ khỏi vị trí quyền lực nhà nước những kẻ đã bán linh hồn cho formosa mới loại bỏ được thảm họa Formosa
Khi đến Vũng Áng, Formosa là công nghệ lỗi thời, rẻ tiền từ Trung Hoa đại lục thải ra, là nhà thầu mang ý chí bành trướng xâm lược từ Trung Hoa đại lục kéo đến, là hàng chục ngàn sức lao động cơ bắp tương đương biên chế của vài sư đoàn bộ binh cũng từ Trung Hoa đại lục đổ bộ vào yếu huyệt Vũng Áng. Con người Trung Hoa đại lục kìn kìn đổ vào Vũng Áng để xây những bức tường cao và dày bao quanh khu vực rộng lớn cấm người Việt bén mảng đến, xây những công trình ngầm ở cảng nước sâu Sơn Dương cách căn cứ quân sự Du Lâm trên đảo Hải Nam của Trung Hoa đại lục chỉ 300 kilomet mặt biển. 
Đến lúc này đã có thể thấy cả một rừng ống khói của nhà máy điện, nhà máy luyện thép thế hệ cổ xưa của Formosa phun khói mù mịt lên trời chỉ là cái vỏ, chỉ khi bình yên và chỉ có chức năng xả khí độc vào bầu trời, thải chất độc vào biển Việt Nam, biến dải đất Việt Nam gấm vóc thành dải đất chết. Còn khi có biến, khi Trung Hoa đại lục động binh, Formosa Vũng Áng sẽ hiện nguyên hình là căn cứ quân sự khổng lồ của Trung Hoa đại lục với nhiệm vụ cắt đôi đất nước Việt Nam ở khúc thắt Hà Tĩnh. Cảng nước sâu Sơn Dương với những công trình ngầm do lực lượng Trung Hoa đại lục làm chủ cùng với quân cảng Du Lâm cùng vĩ độ trên đảo Hải Nam của Trung Hoa đại lục sẽ trở thành cánh cửa thép chặn đứng cửa ra vào vịnh Bắc Bộ và cắt đôi biển Việt Nam. Đứng chân ở Vũng Áng, khi có biến Formosa là đội quân nằm vùng, là căn cứ quân sự lớn cả trên đất liền, cả trên biển, cắt đôi đất, cắt đôi biển Việt Nam. 
Nhìn lại mà rùng mình. Những dải rừng rộng lớn kéo dài suốt từ biên giới phía Bắc đến biên giới Tây Bắc đã giao người Hán làm chủ 50 năm. Nay lại giao eo đất Vũng Áng cho người Hán làm chủ 70 năm để yếu huyệt Vũng Áng trở thành bản doanh của hàng chục ngàn lao động người Hán khi bình yên nhưng là hàng chục ngàn tay súng người Hán khi có biến. Toàn bộ miền Bắc Việt Nam cùng các cơ quan đầu não ở thủ đô Hà Nội đã nằm gọn trong lòng bàn tay của sức mạnh quân sự Trung Hoa đại lục.
Từ góc nhìn đó mới nhận ra cuộc xả thải chất độc của Formosa đầu độc biển Việt Nam tháng 4.2016 là một cuộc thử nghiệm, cuộc tổng duyệt sức hủy diệt của Formosa với sự sống Việt Nam, chứ không phải là việc xúc rửa đường ống như Formosa giải thích. 
Súc rửa đường ống không cần phải dùng lượng hóa chất lớn và có sức hủy diệt mạnh như vậy. Nhà máy chưa hoạt động, chỉ súc rửa đường ống mới tinh, vừa lắp đặt chưa có gì phải nạo vét, tẩy bỏ mà phải dùng lượng hóa chất lớn với mức độ độc khủng khiếp giết chết sự sống từ lớp san hô dưới đáy biển đến đàn cá ăn nổi không một con sống sót suốt dải biển gần 300 kilomet thì khi đi vào sản xuất, nước thải chưa xử lí của dây chuyền công nghệ luyện thép cổ lỗ tháo ra biển suốt 24/24 giờ trong ngày, kéo dài suốt năm này sang năm khác, mức độ hủy diệt sự sống sẽ còn khủng khiếp đến thế nào?
Danh nghĩa công ty Đài Loan nhưng con người Trung Hoa đại lục đứng chân ở yếu huyệt Vũng Áng Hà Tĩnh thì hoạt động sản xuất công nghiệp chỉ là cái cớ, là cái vỏ bọc. Khi bình yên, hoạt động sản xuất của Formosa Vũng Áng là thảm họa đối với sự sống của con người và đất nước Việt Nam. Khi có biến, vị trí hiểm yếu và lực lượng con người của Formosa Vũng Áng là một cánh quân vu hồi chia cắt đất nước Việt Nam, là một gọng kìm vây hãm đồng bằng Bắc Bộ và cơ quan đầu não của nhà nước Việt Nam. 
Nén bạc Formosa đã đâm toạc cả luật pháp Việt Nam, đâm toạc cả nhân cách, lương tâm, hồn vía Việt Nam trong cả một bộ máy quan chức nhà nước Việt Nam và cả bộ máy nhà nước đó đã nhắm mắt không nhìn thấy cái độc hại Formosa giết sự sống đất nước con người Việt Nam, không nhìn thấy đội quân nằm vùng Formosa Vũng Áng đe dọa sự sống còn của cả dân tộc Việt Nam. Cả bộ máy nhà nước đó vẫn quyết bảo vệ cho sự tồn tại của Formosa ở Vũng Áng, Hà Tĩnh.
Những kẻ đã bán linh hồn cho Formosa vẫn còn nắm quyền lực nhà nước Việt Nam thì Formosa Vũng Áng, kẻ hủy diệt sự sống vẫn còn nghênh ngang có mặt trên đất nước Việt Nam
Formosa Vũng Áng còn ở lại Việt Nam. Người dân Việt Nam còn bị đầu độc chết dần chết mòn.
Formosa Vũng Áng còn ở lại Việt Nam. Còn đội quân nằm vùng. Còn con ngựa thành Troie trong mưu đồ thôn tính Việt Nam của Tàu Cộng. Còn lưỡi gươm thọc ngang cơ thể đất nước Việt Nam.
Chỉ có thể loại bỏ Formosa Vũng Áng ra khỏi đất nước Việt Nam khi đã loại bỏ khỏi vị trí quyền lực nhà nước Việt Nam những kẻ đã bán linh hồn cho Formosa. 
Cuối cùng phải dành cho những kẻ tham nhũng quyền lực của dân đã dùng quyền lực tham nhũng được mà có đó rước Formosa về hủy diệt đất nước, đầu độc giống nòi Việt Nam lời nhắc nhở rằng: 
Các người đã bán linh hồn cho Formosa, bán sự sống của đất nước và con người Việt Nam, bán nền độc lập của dân tộc Việt Nam để có cuộc sống đế vương, có biệt thư nguy nga ở trong nước như biệt thự tòa ngang dãy dọc ngạo nghễ mà kệch cỡm của lãnh chúa Võ Kim Cự giữa vùng quê nghèo Hà Tĩnh đang tiêu điều và chết mòn vì Formosa [mặc dù Võ Kim Cự chỉ là kẻ đứng ở hàng thấp nhất trong dãy quan tham kiếm bộn vì dự án bẩn thỉu này – BVN], có tiền triệu, tiền tỉ đô la trong tài khoản ở ngân hàng nước ngoài. Tội phản nước hại dân tày trời của các người quá rõ ràng. Chỉ nhờ được phe nhóm tham nhũng quyền lực bảo kê mà thoát không bị truy tố và xét xử trước tòa án nhân dân hôm nay. Nhưng tội phản nước hại dân thì lịch sử không khi nào dung thứ. Lịch sử công bằng và nghiêm khắc sẽ truy tố và xét xử các người. Tội của các người rước giặc về tàn phá đất nước giết hại giống nòi Việt Nam sánh ngang với tội bán nước của Lê Chiêu Thống sẽ đóng đinh vào thời gian, vào lịch sử Việt Nam. Các người không thể trốn tội.
P.Đ.T.
Tác giả gửi BVN. Bài viết được đăng với tinh thần bàn bạc, trao đổi trong một diễn đàn chung, trong đó quan điểm và phong cách ngôn từ là thuộc về từng người viết.

71 năm “cách mạng mùa thu” - lạm bàn về cách mạng và chính trị

71 năm “cách mạng mùa thu” - lạm bàn về cách mạng và chính trị

bauxitevnSat 7:36 AM


Nguyễn Quang Duy
Đa đảng thì loạn? Giả sử có 2 đảng như Đảng Cộng sản thì chuyện gì xảy ra?
Trước tháng 8-1945, Việt Nam đã có đa đảng cách mạng, nhưng sau đó ít lâu các lãnh tụ và thành phần ưu tú đảng khác đều bị cộng sản giết hoặc thủ tiêu, tiềm lực đảng khác đều bị tiêu diệt.
Ở Trung Hoa, Quốc dân đảng đã liên minh với Đảng Cộng sản nhưng rồi lại chiến tranh tiêu diệt lẫn nhau. Thua trận Quốc dân đảng phải rút sang Đài Loan. 
Trong một thời gian dài Quốc dân đảng độc quyền cai trị Đài Loan, họ mới trả lại quyền tự quyết cho người dân trong mấy năm gần đây.
Đảng cách mạng
Nói đến đảng là nói đến tổ chức. Các đảng cách mạng tổ chức theo hàng dọc từ trên xuống dưới. Hình tượng lãnh tụ được dựng lên làm thước đo cho cả tổ chức. 
Đoàn kết thống nhất chỉ thực hiện với những ai chấp nhận tham dự vào guồng máy của đảng, nếu không họ sẽ bị loại trừ hay bị tiêu diệt. 
Mọi thành viên phải tuyệt đối trung thành với đảng, thường xuyên học tập các tài liệu và thi hành các chỉ thị từ trên đưa xuống. Các thành viên cấp thấp thường không có cơ hội để đề đạt ý kiến cá nhân. 
Sức mạnh của đảng dựa trên kỷ luật sắt, sự trung thành và khả năng thực hiện các chỉ thị của tầng lớp lãnh đạo.
Các đảng cách mạng nghiêng về việc vũ trang cướp và nắm chính quyền. Khi các đảng cách mạng nắm được chính quyền họ dễ trở thành độc tài đảng trị.
Nếu các đảng cách mạng không chấp nhận chuyển biến thành các đảng chính trị thì các điểm yếu sẽ bộc lộ để rồi bị đào thải.
Đảng chính trị
Còn các đảng chính trị thì liên tục thay đổi người lãnh đạo. Các thành viên gắn bó với nhau dựa trên lý tưởng, đường lối, chính sách, quyền lợi… khi có mâu thuẫn họ giải quyết bằng cách thương lượng hay theo quyết định đa số.
Các thành viên thường không bị đòi hỏi phải tuyệt đối trung thành với đảng, với lãnh đạo. Ở Úc cựu Thủ tướng Tự Do Malcolm Fraser chính thức bỏ đảng Tự Do. Nhiều đảng viên chuyển từ một đảng sang đảng khác vẫn được đảng mới trọng dụng.
Đoàn kết thống nhất theo hàng ngang bằng cách thuyết phục và thương lượng với nhau nhằm đưa ra nhóm lãnh đạo và đường lối thích ứng với từng thời kỳ.
Các phe cánh trong đảng luôn công khai tranh luận về đường lối và chính sách của mỗi đảng. 
Ở Úc 2 đảng chính trị Tự Do và Quốc Gia tạo nên một liên minh bền vững; họ thường xuyên điều chỉnh chính sách và quyền lợi tránh những mâu thuẫn gây rạn nứt giữa hai đảng.
Trong khi các đảng cách mạng lo định hướng dư luận thì các đảng chính trị liên tục tìm hiểu nguyện vọng quần chúng, nguyện vọng thành viên để đề ra những chính sách thích hợp nhất nhằm cạnh tranh với nhau.
Ở Hoa Kỳ hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ thật ra bao gồm hàng ngàn tổ chức chính trị nhỏ. Bằng cách công khai tranh luận chính sách, các ứng cử viên lôi kéo các nhóm nhỏ này nhập vào đảng chính trị, xây dựng sức mạnh chiến thắng đối phương.
Mục tiêu cao nhất của các đảng chính trị là được cầm quyền bằng lá phiếu của người dân để thực thi những chính sách do đảng đề ra. 
Bởi thế các thành viên đảng chính trị phải luôn luôn đổi mới bản thân bằng cách học hỏi và thay đổi liên tục. Sự thay đổi tạo nên sức mạnh đảng chính trị và dẫn đến sự không ngừng phát triển của đất nước.
Cách mạng không đổ máu
Nếu định nghĩa cách mạng là thay đổi toàn diện thì đảng chính trị cũng giữ vai trò cách mạng.
Tại Miến Điện đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) Myanmar là một đảng chính trị do bà Aung San Suu Kyi lãnh đạo. Đảng này đã giành khoảng 75% trong tổng số ghế Quốc hội, làm nên cuộc cách mạng thay đổi toàn diện nền chính trị Miến Điện.
Trở lại Việt Nam, phương cách vũ trang bạo động đã bị đào thải từ những năm cuối 1980. Ngày nay không mấy người còn tin vào phương cách này.
Nhưng các đảng chống lại cộng sản xét cho cùng vẫn mang nặng bản chất cách mạng, thiếu thực lực, không làm được những việc cụ thể và chưa thay đổi chính bản thân để có thể tham dự vào các sinh hoạt chính trị dân chủ trong tương lai.
Một tổ chức chưa dân chủ nội bộ, chưa dân chủ trong môi trường hải ngoại thì thật khó tin họ sẽ mang lại dân chủ cho Việt Nam.
Tổ chức dân sự
Trong vòng 10 năm nay cách mạng Việt Nam chuyển hướng lấy đấu tranh bất bạo động làm phương tiện đấu tranh. Muốn có chiến thuật có chiến lược thì cần có tổ chức mạnh nhưng chúng ta lại chưa có, nên sinh hoạt hầu như âm thầm, tự phát, vô tổ chức. 
Năm 2016 khi Khối 8406 thành lập liền bị đàn áp, trên 50 thành viên Khối bị bắt, nhưng ngày nay đã có khá nhiều tổ chức dân sự độc lập công khai hoạt động. 
Khá tương tự với Miến Điện, tại Việt Nam đã hình thành một xã hội dân sự sơ khai với thật nhiều tổ chức dân sự hoạt động công khai. 
Các tổ chức này hoạt động vô vụ lợi với nhiều mục đích khác nhau bao gồm tổ chức tôn giáo, công đoàn, hướng đạo, đồng hương, từ thiện, môi trường, nghiên cứu, các câu lạc bộ, du ca, các nhóm thân hữu…
Các tổ chức xã hội dân sự này đang tập trung sức mạnh thành viên và đào tạo thành phần lãnh đạo tạo nền tảng cách mạng Việt Nam.
Các tổ chức dân sự sẽ trở thành một phần của hệ thống chính trị tương lai. Họ sẽ vận động các đảng chính trị, vận động chính trị gia thúc đẩy chính phủ đề ra những chính sách mang lại lợi ích thiết thực cho xã hội, cũng như cho quyền lợi của các thành viên trong tổ chức dân sự.
Ngược lại các đảng chính trị cũng sẽ vận động các tổ chức dân sự hỗ trợ họ cầm quyền thực thi các chính sách đảng chính trị đó đề ra.
Ai lãnh đạo công nhân?
Công đoàn là một tổ chức có tiềm năng mạnh nhất. Mỗi năm xẩy ra hằng ngàn cuộc đình công nhưng không có cuộc đình công nào do Liên đoàn Lao động một tổ chức ngoại vi của Đảng Cộng sản đứng ra tổ chức.
Sáng ngày 23-8-2016 trả lời Bí thư Đinh La Thăng, Chủ tịch Liên đoàn Lao động TP. HCM ông Trần Kim Yến cho biết đã có những cuộc đình công kéo dài đến bảy ngày nhưng cuối cùng không tìm ra được ai là người phát động, đại diện cho nhóm đình công. 
Điều đáng để ý là ông Đinh La Thăng yêu cầu Liên đoàn Lao động nếu chưa tổ chức đình công thành công thì cứ mạnh dạn đứng ra tổ chức cho thành công. Ông cũng cho rằng chưa thành công là do tổ chức công đoàn (quốc doanh) chưa mạnh dạn làm việc đó.
Rõ ràng đã có một sự cạnh tranh vai trò đại diện cho công nhân. Những người phát động đình công chính là những người đang âm thầm xây dựng và lãnh đạo các công đoàn tự do.
Bạo động và bạo loạn
Diễn biến hòa bình là một quá trình đòi hỏi Đảng Cộng sản phải tự thay đổi, phải tự cách mạng. Như đã giải thích bên trên Đảng Cộng sản vẫn muốn giữ bản chất của một đảng cách mạng nên việc thay đổi chính trị gần như không có.
Không thay đổi chính trị thì luật pháp vẫn đặt dưới đảng quyền. Thiếu tướng công an Phan Anh Minh tiết lộ nếu không có sự đồng ý của đảng, chỉ thị 15 không cho phép công an tiến hành điều tra các đảng viên. Đảng trở thành lá chắn, ổ chứa tội phạm.
Vụ nổ súng ở Yên Bái giết chết 3 cán bộ lãnh đạo địa phương cho thấy tình trạng bất ổn trong đảng đã đến lúc bộc lộ. Các phe cánh trong đảng không thể thu xếp chuyện nội bộ, hành vi bạo lực là phương cách để giải quyết vấn đề.
Điều đáng quan tâm là trước ba người chết, người dân vì đã quá ngao ngán nhưng không làm được gì, nên đón nhận tin tầng lớp lãnh đạo cộng sản giết nhau như một tin mừng. Vô hình trung nó khuyến khích giải quyết các mâu thuẫn bằng phương cách bạo lực.
Đời sống người dân mỗi ngày một cơ cực hơn: đồng bằng sông Cửu Long bị nhiễm mặn, cao nguyên Trung phần bị hạn hán, môi trường biển miền Trung bị hủy hoại, môi trường các nơi khác cũng bị ô nhiễm, người thất nghiệp ngày càng đông, dân oan mất đất ngày càng nhiều…
Không giải quyết được các vấn nạn nói trên, nhà cầm quyền tiếp tục sử dụng bạo lực cách mạng trấn áp các cuộc biểu tình bất bạo động. Tức nước vỡ bờ [trong tương lai có thể] ngày càng xuất hiện nhiều cuộc biểu tình bạo động mang khuynh hướng bạo loạn.
Càng bạo loạn thì việc ổn định lại đất nước càng khó khăn hơn. Những người cầm quyền bằng bạo lực vốn đã độc tài càng dễ tăng thêm độc tài, tiếp tục sử dụng bạo lực để cai trị thay vì xây dựng một nhà nước hiến định và pháp trị. Các giải pháp chính trị sẽ tốt hơn cho Việt Nam. 
71 năm (1945-2016) “cách mạng mùa thu” đất nước trong cảnh tang thương, thiết nghĩ đã đủ chứng minh con đường cách mạng bằng bạo lực là con đường đưa dân tộc đến chỗ diệt vong. 
Các đảng cách mạng cần tự cách mạng bản thân để trở thành các đảng chính trị cạnh tranh nhau xây dựng lại Việt Nam.
N.Q.D.
Melbourne, Úc Đại Lợi
26/08/2016
Tác giả gửi BVN. Bài viết được đăng với tinh thần bàn bạc, trao đổi trong một diễn đàn chung, trong đó quan điểm và phong cách ngôn từ là thuộc về từng người viết.

„Biết rồi khổ lắm nói mãi“

„Biết rồi khổ lắm nói mãi“

bauxitevnSat 7:34 AM


Ngụy Hữu Tâm
Xin lại được nói vài lời nhân kỷ niệm 71 năm „Độc lập“ sắp tới gần. Dù cho đó là „biết rồi khổ lắm nói mãi“. Lẽ ra ai cũng biết cả rồi, nhưng vẫn cứ phải nhắc lại, bởi lẽ có nhiều người không muốn nói tới điều đó, chỉ vì lẽ đơn giản là nó đụng tới cái... ví tiền mình, nhưng lại cũng có câu tuyệt đúng... „đồng tiền đi liền khúc ruột“! 
Vừa rồi trên các trang mạng rộ lên nhiều bài về cái mà ngôn từ chính thức của chính quyền từ 9/1945 cho đến nay vẫn dùng là cuộc „Cách mạng Tháng Tám“. 
Bài của Giáo sư Hà Văn Tấn về lịch sử của biến cố này quá hay! Rõ ràng là suốt từ đó đến nay – nghĩa là cả 71 năm nay –chúng ta đã bị cái thể chế cộng sản này xỏ mũi rồi. 
Hãy „Trả về cho César cái của César“, câu nổi tiếng của đại văn hào Shakespeare, mà nhân đây xin nhắc lại. Trên tờ Der Spiegel, 48, tháng 11, 2015 lại có bài về Shakespeare, nhân 400 năm sinh ông, mà nhân đây cũng xin nhắc bạn đọc. Người già vốn chậm chạp mà!
Sự thật là sự thật, luôn và mãi mãi vẫn là sự thật. Chỉ có điều, chúng ta có nắm bắt được nó hay không mà thôi. 
Cũng xin, vì cũng có bài của những người hiện nay nổi tiếng nhất nói về chủ nghĩa cộng sản trên các trang mạng, nói đôi lời. Về vấn đề đó, người Việt ta cũng có 3 vị mà tôi chỉ xin kể tên một vị – mà vì vị đó là thuộc „phe địch“ nên nói tên ra mà không sợ „phạm húy“, mất mạng như chơi!
Đó là nguyên Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: „Đừng nghe cộng sản nói nói, hãy xem chúng làm!“. 
Còn một vị mà nói ra sợ đụng chạm tới anh bạn tôi, vì nghe nói vị đó, là bố anh bạn, từng phụ trách an ninh Bắc Việt thời những năm 1945-46, với thời nay chắc chắn sẽ là Thứ hay Bộ trưởng Công An, đã từng nói: „Không thể bạc hơn cộng sản được“. Mà ở đây tôi phải nhận xét là vị đó nói quá nhẹ, không thể lưu manh và thậm chí tàn bạo, ô trọc, tráo trở – tức là phải dùng những ngôn từ tệ hại nhất có thể cho họ – hơn cộng sản được!
Chủ nghĩa phát xít với Hitler đã khốn nạn lắm rồi, nhưng còn phải gọi chủ nghĩa cộng sản bằng cụ vì Chủ nghĩa phát xít bài Do Thái và tôn thờ dân tộc Đức nên rồi bị cả thế giới hợp lại tiêu diệt, thế nhưng chủ nghĩa cộng sản Mao-Hồ (chỉ thua có mỗi Pol Pot thôi!) với „Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ“ tiêu diệt giới tinh hoa của chính dân tộc mình, thì dân tộc đó – khi để cộng sản cầm quyền – không muốn phát triển, quá đúng rồi còn gì! 
Mác-Lê nhân danh giai cấp công nhân để giành chính quyền, Mao-Hồ nhân danh giai cấp nông nhân để giành quyền lực, bây giờ thành „tư bản đỏ“, họ cấm công đoàn và hội nông dân độc lập, hành xử ra sao với công nhân ở Bình Dương, với nông dân Thanh Hóa, Nghệ An, Hài Phòng... rồi nhất là Vũng Áng thế nào, bạn đọc xem mạng quá rõ! 
Với môi trường thì họ coi mạng sống cả dân tộc này không hơn con kiến!
Và cuối cùng cũng phải nhắc lại ý tưởng tuyệt diệu của người từng đứng đầu ĐCSVN một thời, có lẽ sau „giải phóng Miền Nam“, choáng ngợp với „Sài Gòn hoa lệ“, nên có nói, ở đây, tôi không nhớ nguyên văn, chỉ xin nhắc đại ý mà thôi: „với người nông dân Việt Nam, chủ nghĩa cộng sản là trong nhà có cái tivi, tủ lạnh và cái đồng hồ báo thức là đủ“. Không thể có định nghĩa đơn giản, thậm chí sai lệch hơn về chủ nghĩa cộng sản. Cũng chẳng trách được, dẫu ông cực kỳ tài ba, nhưng trình độ văn hóa của ông có lẽ i tờ!
Thế nhưng, khi có những người như vậy đứng đầu đất nước, thì hy vọng gì „chúng ta tiến nhanh, tiến mạnh lên CNXH“!
Khi toàn dân luôn bị giam hãm trong chính sách ngu dân, bị bịt thông tin „hại cho ta, lợi cho địch“, đâu đâu cũng chỉ thấy „những thế lực thù địch“, sống bằng bộ máy tuyên truyền dối trá khổng lồ với các loại VTV là cụ thể nhất, mà Goebbels có sống lại cũng phải lạy bằng cụ, thì mọi chuyện đều là có thể. 
Tại sao chúng ta không muốn tự đưa ra nhận xét như vậy, lại phải để „người nước ngoài“ nhận xét, dân tộc chúng ta quá ngu chăng? 
Về tuyên truyền dối trá, chắc chắn chúng ta còn hơn hai „ông bạn lớn“ và cũng là „ông thầy“ một thời – hay ngày nay vẫn vậy, chỉ các vị đó biết – là Nga và Tàu – nhiều! Trong khi văn hóa phương Tây với thời Khai sáng huy hoàng đến thế không chịu học, quàng vào cổ cái „chủ nghĩa Mác-Lê“ hủ lậu vào mình, rồi tư tưởng Mao – tôi không nói cái đính kèm nữa là tư tưởng gì gì đó vì cái vị đó – như chính vị ta tự đánh giá – làm gì có cái „tư tưởng“ gì cho cam cơ chứ! 
Nhân đây tôi xin đề nghị, như người Trung Quốc trước đây từng làm với Mao, đã quá đủ thời gian trôi qua để chúng ta đánh giá lại công và tội ông Hồ nói riêng và Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung. Một dân tộc chỉ tiến bộ được khi biết rút kinh nghiệm, biết rút các bài học từ lịch sử, và dĩ nhiên cái sử đó phải là sử thật chứ không phải sử giả!
Kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh, cả ngày Ông Hồ ra đi năm nay năm thứ 47, hy vọng trong 3 năm tới sẽ có TBT mới của cái gọi là ĐCSVN, để khi làm lễ kỷ niệm 50 năm, một người dưới 60 tuổi chẳng những không vướng víu gì với quá khứ, mà lại càng gắn bó với thực tại, thời gian internet và toàn cầu hóa, tức giữa 40 và 50, càng ý thức được hơn về việc „thoát Trung“ sẽ đưa Ông ra khỏi lăng và hỏa táng rồi rải Ông khắp đất nước như Ông hằng ước trong Di chúc, để Ba Đình trở thành vườn hoa của con trẻ, chứ không phải một cái biểu tượng của bảo thủ, của quan chức và những người ngu muội, không muốn phát triển – tất nhiên cũng không phải đưa Ông Hồ ra khỏi lăng rồi các vị lại giành nhau trong chia chác, hay là bán lấy tiền tiêu như Công viên Thống Nhất mà rất, rất gần đây ông Chủ tịch mới của Hà Nội, vốn là dân công an, đã „dọa“ dân Hà Nội là sẽ cắt một phần để xây khách sạn (trong khi ông Chủ tịch trước tính làm rồi lại không dám làm), không biết hôm nay đã thực hiện hay chưa.
Tôi có dịp „chém gió“ với nhiều bạn trẻ hơn mình, thấy rất nhiều bạn trẻ hăng say với đổi mới, muốn làm lại từ đầu, quá hay! Còn những vị tuổi có thể cao cao, nhất lại là vướng vào quyền chức, dù „Tây học“ hẳn hoi, mà bắt đầu ngại nói lịch sử, ôn quá khứ, duy nhất chỉ vì nó đụng chạm tới quyền lợi các vị, buồn quá!
Nhưng con người là vậy, luôn vui, buồn lẫn lộn, và khi đánh giá lịch sử, công tội nên rõ ràng. 
Phải thành thực, tôi ghét Tàu lắm, vấn đề tình cảm mà – dẫu biết đó là nước lớn, dân đông, văn hóa lâu đời lại luôn có ảnh hưởng lớn tới ta, lại là láng giềng muôn thuở, không bao giờ khác được nữa, Chúa đã sinh ra như vậy rồi!
Thế nhưng họ đi trước chúng ta nhiều, cũng chẳng lạ, chúng ta vì họ mà hứng chịu bao nhiêu cuộc chiến tranh, trong đó biết bao nhiêu cuộc chiến tranh với chính họ, được nhiều thua ít, nếu không chúng ta đã không tồn tại. Và họ đã dám phê phán công tội của Mao công khai – đầu tiên 100% đúng, dần dà 70%, 50%, 30%,... bây giờ chắc chỉ hoàn toàn tội lỗi.
Với Ông Hồ rồi chúng ta cũng phải làm như vậy. Bản thân tôi hiện giờ đánh giá công tội ông Hồ như nhau, fifty fifty, nghĩa là ông có công dựng nước (điều này tôi còn phân vân lắm, có phải ông cướp nước của Chính phủ Trần Trọng Kim hay không, xin các nhà sử học minh giải giúp cho, tôi xin cám ơn nhiều nhiều - NHT), còn cái tội vô cùng lớn là rước chủ nghĩa cộng sản với các „cha“ Xít và Mao về đây khiến nó bám rịt lấy dân tộc một tấc không rời! 
Thế nên công tội hòa nhau là cái nhẹ nhất mà tôi có thể làm cho ông đó được!
Vẫn biết đánh giá lịch sử là có thể bắn một phát súng lục để nhận một viên đại bác, nhưng việc cần làm thì phải làm và cần làm ngay! Như một vị lãnh đạo đã nói, nhưng vị đó chắc chắn là một tên bán nước với Hiệp định Thành Đô! Xin miễn bàn! 
Vì khi cần dũng cảm thì cũng phải dũng cảm!
Còn những gì vừa xảy ra ở Yên Bái cho thấy, những gì mà vị TBT của ĐCSVN nói ở Đại hội XII vừa diễn ra chưa đầy năm về „thành công, đoàn kết, dân chủ đến thế là cùng“ chỉ là một lời dối trá trơ trẽn mà ai cũng biết. Những người còn chút ít lương tri trong cái đảng đó phải thấy chủ nghĩa cộng sản lẽ ra phải cáo chung 1989 với Gorbatchov và khối Đông Âu, nhưng nó chỉ còn tồn tại được (cho đến nay) ở những nước chậm tiến nhất thế giới, „không muốn phát triển“ chỉ duy nhất vì những lãnh đạo ở đó quá ư độc tài toàn trị, phát xít, thi hành chế độ công an trị quá khốc liệt để họ vẫn yên chí tại vị, chính sách tuyên truyền, ru ngủ, ngu dân quá ư thành công mà thôi. 
Nay thì cuộc thanh trừng lẫn nhau của „các nhóm lợi ích“ đã quá rõ. Họ tranh ăn nhau quá ư khốc liệt, và tất cả những gì nói về „của dân, do dân, vì dân“ chỉ là lời dối trá mị dân vô tiền khoáng hậu.
Hy vọng Ng... không biết Hữu Phúc hay Vô... sẽ là người cầm đầu Chính phủ cuối cùng của cái thể chế quá ư bảo thủ, lạc hậu, phản dân hại nước này!
Chỉ ít lời như vậy, kiến thức tôi nông cạn lắm, xin bạn đọc lượng thứ cho, và cũng để cho các bạn có thời gian nghỉ ngơi, được nghỉ lẫn 4 ngày cơ mà, thậm chí có thể đi chơi xa được, sang Thái, đi Mẽo, hay về lại Mỹ... Tho?
N.H.T.
Tác giả gửi BVN. Bài viết được đăng với tinh thần bàn bạc, trao đổi trong một diễn đàn chung, trong đó quan điểm và phong cách ngôn từ là thuộc về từng người viết.

Thư của Trung Tâm Minh Triết kêu gọi quyên góp cho giải thưởng thơ đặc biệt

Thư của Trung Tâm Minh Triết kêu gọi quyên góp cho giải thưởng thơ đặc biệt

bauxitevnSat 7:32 AM


Hà Nội 26 tháng 8 năm 2016.
Kính gửi các quý Anh, Chị,
Trung tâm Minh triết nhận thấy bài thơ 
“Đất nước mình ngộ quá phải không anh”
của cô giáo Trần Thị Lam ở Hà Tĩnh quả thật đã đạt được những phẩm chất “minh triết”:
- Tư tưởng, tình cảm chân thành, sâu sắc và da diết, rất “kim nhật kim thì”.
- Nghệ thuật, ngôn từ bình dị mà có sức lay động lòng người.
Bài thơ đã đạt tới một trình độ nghệ thuật cao, sức lan tỏa lớn, có thể gọi là “xuất thần”. Đó là một dấu ấn nghệ thuật đóng vào không thời gian đầy bi hùng này của chúng ta.
Trung tâm Minh Triết quyết định trao Giải thưởng Minh Triết cho tác giả với bài thơ ấy.
Xin các quý Anh Chị tán đồng và hỗ trợ chúng tôi. Xin hãy quyên góp và vận động quyên góp để chúng ta có một khoản “Prix lớn” (giá trị giải thưởng). Mỗi khoản tiền của quý anh chị sẽ như là một lá phiếu khẳng định giải thưởng và cũng là lòng cảm ơn và khen ngợi của tất cả chúng ta đối với tác giả và bài thơ xuất sắc ấy.
Tiền góp vào giải thưởng xin gởi về tài khoản:
Số TK: <050.001.060.000.125.>. Chủ tài khoản: Trung tâm Minh Triết. Ngân hàng Bắc Á - Chi nhánh Kim Liên TP Hà Nội. Ghi rõ Giải thưởng Trần Thị Lam. 
Chúng tôi sẽ kết thúc việc nhận tiền trao giải thưởng vào ngày 15 tháng 10-2016, và sẽ công bố tổng số tiền cùng danh sách trong tháng 10. Giải thưởng sẽ tổ chức trao vào giữa tháng 11 (nhân ngày Nhà giáo) tại Hà Tĩnh.
Kính,
Nguyễn Khắc Mai. 
GĐ TT Minh Triết.
Ghi chú : Chủ tịch Hội đồng Giải thưởng: Nhà thơ nữ Ý Nhi.
Trưởng ban tổ chức: Nguyễn Khắc Mai GĐ TT Minh triết.
Kế toán trưởng: Nhà văn nữ Nguyễn Nguyên Bình
Phụ trách in tập kỷ yếu: Bài thơ, Tiểu sử tác giả. Một số bài bình luận chọn lọc, bản nhạc phổ thơ. Bài giới thiệu của nhà thơ Ý Nhi, Chủ tịch Hội đồng giải.
Trung tâm Minh Triết cậy đăng trên BVN

Thứ Bảy, 27 tháng 8, 2016

Tỷ lệ Blackstone


Tỷ lệ Blackstone


Café Luật Khoa 
—
Sir William Blackstone (1723-1780) là một luật sư, thẩm phán, và nhà luật học người Anh thế kỷ 18. Tốt nghiệp trường đại học Oxford và gia nhập luật sư đoàn khi vừa 23 tuổi, Blackstone nhanh chóng nhận ra rằng việc hành nghề luật sư không thật sự hứng thú lắm với ông. Sau vài năm hành nghề, Blackstone quyết định chuyển sang nghiên cứu và giảng dạy luật. Quyết định này của ông có ảnh hưởng sâu sắc đến nền thông luật Anh quốc nói riêng và cho luật học thế giới nói chung.
William Blackstone (Nguồn ảnh: faculty.cua.edu)
Sir William Blackstone (Nguồn ảnh: faculty.cua.edu)
Trước Blackstone, việc học và nghiên cứu luật thông luật tại Anh quốc không nằm trong chương trình của các trường đại học. Việc học để trở thành luật sư hoàn toàn là nhờ việc tự học, tự đọc sách, và thông qua thực tập trong các văn phòng luật và các “inns of court”, có thể hiểu là các hội nhóm hành nghề luật sư. Hệ thống này giúp đảm bảo Anh quốc có một lực lượng luật sư lành nghề nhưng không tạo điều kiện cho việc nghiên cứu một cách có hệ thống và theo hướng học thuật. Việc nghiên cứu luật trong các trường đại học Anh khi ấy vẫn chủ yếu là nghiên cứu luật lục địa (Civil Law) và luật La Mã (Roman Law) thay vì thông luật Anh vốn đầy sức sống và đang ngày càng phát triển.
Blackstone ban đầu xin một chân nghiên cứu và dạy luật La Mã tại trường cũ của ông là đại học Oxford nhưng đơn xin của ông bị từ chối. Tình cờ ngay lúc đó trường Oxford đang mở một khóa học về thông luật và một vị anh cả trong nghề của Blackstone là William Murray (sau này là thượng nghị viên Mansfield) động viên Blackstone nên nhận dạy khóa này. Blackstone chấp nhận và trở thành vị giáo sư thông luật Anh đầu tiên trong lịch sử trường đại học Oxford và lịch sử nước Anh.
Các nghiên cứu và bài giảng của Blackstone sau này được tổng hợp hết trong một bộ sách có thể xem là một trong những bộ sách kinh điển có ảnh hưởng sâu rộng nhất của nền thông luật Anh-Mỹ: Bình Luận Luật Anh Quốc (Commentaries on the Laws of England). Bộ sách này sau này trở thành bộ sách ‘gối đầu giường’ của nhiều thế hệ luật sư nổi tiếng của nền thông luật, trong số đó có nhiều tổng thống Mỹ hành nghề luật sư, từ John Adams đến Abraham Lincoln và về sau.
Bộ sách Bình Luận Luật Anh Quốc của Sir William Blackstone (Nguồn ảnh: baumanrarebooks.com)
Bộ sách Bình Luận Luật Anh Quốc của Sir William Blackstone (Nguồn ảnh: baumanrarebooks.com)
Một trong những nguyên tắc đáng nhớ nhất mà Blackstone hệ thống được trong bộ Bình Luận Luật Anh chính là nguyên tắc sau này hay được gọi là tỷ lệ Blackstone(Blackstone Ratio):
“Mọi bằng chứng cho cáo buộc tội hình sự (felony) phải được chấp nhận một cách cẩn trọng; vì luật quy định rằng thà để mười kẻ tội phạm chạy thoát, còn hơn là để một người vô tội phải khổ.”
Tỷ lệ Blackstone từ lâu đã trở thành một ‘hòn đá tảng’ dưới chân hệ thống thông luật Anh-Mỹ, nhưng nó không phải là không bao giờ phải hứng chịu phê bình. Trong những người phê bình nguyên tắc này có cả nhà triết học Anh Jeremy Bentham, người bình luận là nguyên tắc này dựa trên “một song đề tiến-thoái-lưỡng-nan giả: có thể hoàn toàn bảo vệ người vô tội mà không phải chiếu cố cho sự bãi miễn tội ác”.
Tranh luận cùng hướng này của Bentham là giáo sư nghiên cứu Công Lý Hình sự Richard L. Lippke của trường đại học Indiana (Mỹ). Phần trích dẫn sau đây đến từ  bài báo học thuật “Phạt kẻ có tội, không phạt người vô tội” (Punishing the Guilty, Not Punishing the Innocent) đăng trên tạp chí Triết Học Đạo Đức (Journal of Moral Philosophy) năm 2010 của giáo sư Lippke.
—
Trích đoạn “Phạt kẻ có tội, không phạt người vô tội” 
(Punishing the Guilty, Not Punishing the Innocent) 
Richard L. Lippke  – Tạp chí Triết Học Đạo Đức (Journal of Moral Philosophy) số 7 năm 2010
“…Có thể thấy rõ là có hai ý riêng biệt bên trong lời răn của Blackstone. Ý thứ nhất là phải có sự ưu tiên không trừng phạt kẻ có tội so với việc trừng phạt người vô tội. Ý thứ hai là mức độ của sự ưu tiên đó, thể hiện qua con số người có tội có thể được thả trong so sánh với số người vô tội có thể bị trừng phạt.
Chúng ta không cần tìm đâu xa để có được các phiên bản khác nhau [của nguyên tắc tỷ lệ Blackstone] với những con số khác nhau thể hiện sự ưu tiên này tùy lúc mạnh hơn hay yếu hơn. Nhưng những phiên bản này đều khuyến nghị là chúng ta nên để nhiều người có tội tự do hơn là trừng phạt một người vô tội.
Luận điểm của tôi thì cho rằng nguyên tắc này của Blackstone phần lớn là vô ích trong việc giúp chúng ta đối mặt với vấn đề làm cách nào để cân bằng việc trừng phạt những kẻ có tội với việc tránh không trừng phạt những người vô tội.
Không phải là vì tỷ lệ 10 chọi 1 trong nguyên tắc này sai, cho dù tôi sẽ cho thấy rằng việc biện hộ cho tỷ lệ này là một công việc rất khó nhằn. Cũng không phải là vì chúng ta hiếm khi nào có thể có nhiều hơn là những ước tính rất lởm khởm về tỷ lệ những người có tội so với những người vô tội bị trừng phạt trong bất kỳ hệ thống công lý hình sự nào.
Lý do chính là vì lựa chọn thật mà chúng ta phải có liên quan đến rủi ro của việc không trừ phạt những kẻ có tội và rủi ro của việc trừng phạt những người vô tội.
Chúng ta có thể thiết kế các định chế của chúng ta để giảm thiểu tối đa rủi ro những kẻ có tội thoát khỏi việc bị trừng phạt, hay giảm thiểu tối đa rủi ro những người vô tội bị trừng phạt. Hoặc là chúng ta có thể cố gắng làm cả hai. Có lẽ không ngạc nhiên gì tôi sẽ tranh luận là điều khôn ngoan nhất là phải làm cả hai.
Tôi cũng sẽ tranh luận là có một sự hợp lý nhất định trong việc xem rằng các hệ thống công lý hình sự hiện đại đang cố gắng làm cả hai việc đó. Những hệ thống này cung cấp lượng nhân tài vật lực và quyền lực rất lớn cho các viên chức nhà nước trong khi cùng lúc áp dụng các nguyên tắc tố tụng và nguyên tắc bằng chứng có vẻ là có lợi cho những bị cáo hình sự. Cách tiếp cận này có vẻ có ý nghĩa nếu nó mang lại sự cân bằng mà chúng ta đang tìm kiếm, một sự cân bằng mà trong đó các rủi ro của việc không trừng phạt những kẻ có tội có thể được cân đong đo đếm so với các rủi ro của việc trừng phạt người vô tội.
Comp 1_00000
Về thực tế, nếu xem tỷ lệ Blackstone, hay một phiên bản khác của nó, như là một nguyên tắc dẫn dắt chúng ta trong việc thiết kế một hệ thống công lý hình sự, thì tôi cho rằng chúng ta buộc phải tước đi nhiều uy quyền và nhân tài vật lực của bên cảnh sát và của bên công tố.
Rất ít khả năng chúng ta sẽ làm điều đó vì việc không trừng phạt những kẻ có tội, đặc biệt khi tội ác của chúng là nghiêm trọng, là một việc rất xấu. Dĩ nhiên, trừng phạt những người vô tội, đặc biệ khi những hình phạt họ phải gánh chịu là những hình phạt nặng nề, cũng là một việc rất xấu.
Nếu tôi có thể đưa ra một châm ngôn thay thế châm ngôn của Blackstone, nó sẽ đại loại như thế này: “Tăng tối đa số kẻ có tội bị trừng phạt và trừng phạt theo tỷ lệ thuận với mức độ nghiêm trọng của tội ác, trong khi cùng lúc giảm thiểu nhất số người vô tội bị trừng phạt.”. Thêm vào đó có thể là: “Trong trường hợp ngặt nghèo nhất, thiết kế hệ thống sao cho việc không trừng phạt kẻ có tội được làm lựa chọn ưu tiên so với việc trừng phạt người vô tội. Nhưng không ưu tiên quá mạnh mẽ.” Tôi chấp nhận là theo tiêu chuẩn các châm ngôn, châm ngôn của tôi rõ ràng thiếu đi sự đơn giản và sự tinh tế nghệ thuật…
Việc kết án oan sai có những hậu quả khôn lường không chỉ cho người bị kết án (Nguồn ảnh: Matteo Parrini từ trang managementresources.files.wordpress.com)
Việc kết án oan sai có những hậu quả khôn lường không chỉ cho người bị kết án (Nguồn ảnh: Matteo Parrini từ trang managementresources.files.wordpress.com)
…1. Tại sao các con số của Blackstone không có ý nghĩa?
Chúng ta có nên ưu tiên lựa chọn việc để cho mười kẻ có tội tự do thay vì trừng phạt một người vô tội?
Thứ đầu tiên cần để ý là dường như ở đây có một giả định ngầm về những tội ác của hai bên trong vế so sánh này. Khá chắc chắn là chúng ta không nên ưu tiên lựa chọn để mười kẻ giết người tự do thay vì phạt nhẹ một người vô tội bị buộc tội ăn cắp đồ. Cho dù người vô tội đó phải chịu phạt một cách không công bằng, anh hay cô ta sẽ không phải chịu khổ quá nhiều, trong khi đó thì tội ác của những kẻ giết người không bị trừng phạt là rất nghiêm trọng.
Rõ ràng là châm ngôn của Blackstone yêu cầu chúng ta so sánh những tội ác (vốn sẽ được tha bổng hay sẽ bị trừng phạt một cách oan sai) với mức độ nghiêm trọng gần như nhau. Vì thế, ý của châm ngôn này có vẻ là: Thà để cho mười người phạm một tội nào đó tự do, còn hơn là trừng phạt một người vô tội cho cùng một tội danh đó.
Chúng ta phải công nhận rằng việc trừng phạt người vô tội, đặc biệt cho những tội ác nghiêm trọng, gây ra những oan nghiệt khủng khiếp cho họ. Họ không chỉ phải hứng chịu sự lên án của công chúng và những dị nghị đi kèm với việc bị kết những tội ác nghiêm trọng, họ sẽ bị tước đi tự do thân thể, tự do hội họp, sự riêng tư, và nhiều thứ khác nữa chừng nào họ còn phải chịu án tù.
Những mất mát đó rất tệ hại, chúng cắt cụt và bó buộc cuộc sống của những cá nhân vô tội này, và tệ hơn nữa nếu chúng ta biết được rằng những người phải chịu những mất mát đó không hề đáng phải bị như vậy. Khi những người vô tội ấy được thả, giả định là họ còn được thả, những khốn khổ của họ sẽ tiếp diễn thông qua sự ghẻ lạnh của cộng đồng, sự khó khăn trong việc tìm việc làm, và những vết thương xúc cảm từ những năm tháng dài bị giam cầm.
Một yếu tố khác cũng quan trọng là phần đông những người bị buộc tội oan sai cũng có người thân và những người phụ thuộc vào họ. Những người này cũng phải chịu đau khổ với họ không chỉ khi họ đang chịu tù đày mà còn cả sau đó khi việc tìm công ăn việc làm ổn định và sự tái hòa nhập xả hội là rất khó khăn.
Những bị kịch khôn cùng mà những vụ oan sai như thế thể hiện là không thể chối cãi ngay cả khi những vụ việc này là do sai sót pháp lý thay vì là do hành vi cố tình làm điều sai trái của các viên chức nhà nước nhẫn tâm và tắc trách.
Một phần lý do cho sự cuốn hút của châm ngôn Blackstone có thể đến từ sự dễ dàng trong việc tưởng tượng bản thân chúng ta hay những người khác sẽ ra sao nếu phải chịu những hình phạt oan sai, và tưởng tượng chúng ta sẽ mất đi những quyền đạo đức và pháp lý mà chúng ta thường có như thế nào.
Những trường hợp trừng phạt oan sai là những ví dụ mang tính điển hình nhất của hành vi lạm dụng quyền lực nhà nước, và châm ngôn Blackstone, nếu không có gì khác, có vẻ là mang trong nó một sự thể hiện sống động lời cảnh cáo mà chúng ta muốn nhà nước nhớ đến khi họ thực thi quyền lực của mình. Tôi không tranh cãi về sự cần thiết của lời cảnh cáo này – thực tế tôi sẽ tranh luận rằng một số nét đặc trưng của các hệ thống công lý hình sự hiện đại có cơ sở từ chính lời cảnh cáo đó.
Thế nhưng chúng ta đồng thời không thể quên rằng việc làm nạn nhân của một tội ác nghiêm trọng cũng là một việc tệ hại. Những tổn thất của những tội ác nghiêm trọng bao gồm cả tính mạng, những tổn thất lớn về thể chất và tâm lý, sự đánh mất phẩm giá, và sự mất mát hay hủy hoại tài sản mà các cá nhân có thể phụ thuộc vào vì lý do sinh kế. Ngay cả những nạn nhân không mất mạng cũng phải chịu khó khăn nhiều năm vì những thương tật của họ. Trong nhiều trường hợp, chất lượng cuộc sống của các nạn nhân bị suy giảm vĩnh viễn.
Hơn nữa, vì phần lớn các hệ thống luật pháp hiện đại điều chỉnh hình phạt ban ra cho những kẻ phạm tội tùy theo mức độ phạm tội trong thực tế của chúng, nhiều khả năng sẽ có những trường hợp mà những kẻ thủ ác đã gây ra những tổn thất nói trên cho nạn nhân, ngay cả khi phải nhận những hình phạt tương ứng với mức độ nghiêm trọng của tội ác, thực sự ra không chịu khốn khổ dài lâu như những nạn nhân của chúng.  Ví dụ, những nạn nhân của hành vi ngộ sát hay vô ý giết người không thể sống lại được, trong khi đó, những kẻ bị trừng phạt vì những tội này lại giữ được mạng sống, cho dù phải chịu bó buộc tù đày trong quá trình thụ án tù.
Bên cạnh đó, các nạn nhân hiếm khi chịu khổ một mình vì họ cũng có người thân và những người phụ thuộc vào họ. Những người này cũng phải hứng chịu đau khổ và khốn khó khi có một người nhà mất mạng, hay chịu tổn thất sức khỏe và tâm lý. Trong một số trường hợp, các nạn nhân và những người thân của họ còn phải chịu thêm một gánh nặng của việc phải nhìn thấy những kẻ gây ra tội ác không phải chịu hình phạt gì.
Có lẽ rằng gánh nặng sẽ gây ra những sự thất vọng và tuyệt vọng lớn cho các nạn nhân và những người thân của họ. Thật sự bởi vì châm ngôn của Blackstone mời gọi chúng ta so sánh tình cảnh của những người bị phạt oan sai với tình cảnh của những kẻ thoát tội một cách sai trái, có vẻ là chúng ta phải đưa vào đánh giá của mình những nỗi khốn khổ mà các nạn nhân có thể cảm thấy khi biết những kẻ thủ ác thoát tội…
… Các học thuyết theo lý luận ứng báo (retributive justice theories – các học thuyết cho rằng cách phản ứng tốt nhất đối với tội ác là sự trừng phạt tương ứng với mức độ nghiêm trọng của tội ác – ND) thường đưa ra những lý do khác nhau để giải thích tại sao nhà nước nên trừng phạt những kẻ đáng bị trừng phạt, cho dù là để tước đoạt những lợi thế mà những kẻ phạm tội đã giành được một cách không xứng đáng, vô hiệu hóa thông điệp đạo đức giả dối mà các hành vi tội ác của những kẻ phạm tội thể hiện, khiển trách những kẻ phạm tội tùy theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm, hay khuyến khích những kẻ phạm tội phát triển một nhận thức ăn năn sám hối về tội ác của chúng.
Trong tất cả các học thuyết này, nhà nước có thể phạm phải hai điều sai trái nếu họ trừng phạt một người vô tội (1. vừa phạt nhầm một người có tội, 2. vừa để kẻ có tội chạy thoát – ND), nhưng chỉ có thể phạm một điều sai trái nếu nó không xử phạt một kẻ có tội.
Nhưng nếu nhà nước chọn việc để cho mười, hay năm, hay ba cá nhân có tội thoát thân thay vì trừng phạt một cá nhân vô tội, thì nhà nhà nước có thể phạm mười, hay năm, hay ba điều sai trái, và thật khó để thấy được tại sao như thế thì tốt hơn là chỉ có thể phạm hai điều sai trái.
Cách tiếp cận vấn đề dựa trên các lý thuyết sử dụng mục đích giảm thiểu tội ác (crime reduction)  làm lý do chính đáng cho các hình phạt pháp lý có thể đưa ra một luận điểm có sức thuyết phục ủng hộ cho việc lựa chọn không trừng phạt kẻ có tội thay vì trừng phạt người vô tội. Những gánh nặng và phí tổn cho việc trừng phạt người vô tội thường sẽ lớn hơn rất nhiều so với những gánh nặng và phí tổn cho việc không trừng phạt kẻ có tội.
Khi những người vô tội bị trừng phạt, họ và những người phụ thuộc vào họ phải chịu khổ đau (và khổ đau lớn nếu như hình phạt nặng), trong khi đó kẻ có tội thực sự lại đang tự do để có thể gây thêm tội ác, đây vốn cũng là một phí tổn tiềm tàng lớn.
Ở đây có một vài rắc rối cho những người ủng hộ thuyết giảm thiểu tội ác bởi vì việc trừng phạt người vô tội có thể có hiệu ứng ngăn chặn cận biên (marginal deterrent effects – hình phạt, cho dù oan sai, vẫn phát tín hiệu răn đe những kẻ có khả năng phạm tội khác – ND) (bản thân những người theo thuyết giảm thiểu tội ác từ lâu đã có luận điểm này) và còn có hiệu ứng vô hiệu hóa nếu như bản thân người vô tội bị oan sai thực ra cũng có khuynh hướng phạm tội đó.
Tuy nhiên, chính cái kẻ thủ ác đã thoát tội (trong khi người vô tội chịu phạt – ND) kia mới có vẻ là kẻ có khả năng phạm tội trong tương lai nhiều nhất trong hoàn cảnh các điều kiện khác giữ nguyên, và nếu kẻ đó thực sự gây ra thêm tội ác, thì phí tổn của việc để hắn ta thoát sẽ là rất lớn.
Trong trường hợp những kẻ có tội không bị trừng phạt, chúng ta không thể nói là không có các hệ quả xấu, đặc biệt nếu những kẻ có tội đó phạm thêm các tội ác nghiêm trọng khác.
Tuy vậy, như chúng ta đã thấy, chính những hệ quả xấu đó cũng tồn tại trong trường hợp người vô tội bị trừng phạt. Và những hệ quả xấu này còn bị tăng nặng bởi những khốn khổ của người vô tội và những người phụ thuộc vào người đó. Bên cạnh đó là gánh nặng lên xã hội trong việc chi trả cho hình phạt lên một cá nhân ít có khả năng phạm tội.
Tất cả những lý do này có vẻ là đủ để biện minh cho một sự chọn lựa rõ ràng việc để một người phạm tội trốn thoát hơn là trừng phạt một người vô tội, dĩ nhiên nếu chúng ta giả định, lần nữa, là tội ác của cả hai bên được so sánh là tương đương…”
Tìm đọc thêm:
ĐỌC THÊM