Bài đăng nổi bật

Việc Cuba thả tù nhân không bao gồm những người chỉ trích

  Việc Cuba thả tù nhân không bao gồm những người chỉ trích. Chính phủ nên trả tự do vô điều kiện cho những người bị giam giữ vì bất đồng ch...

Thứ Ba, 21 tháng 4, 2015

Đôi điều lạm bàn về lịch sử hiện đại Việt Nam từ sau Tháng Tám năm 1945


Đôi điều lạm bàn về lịch sử hiện đại Việt Nam từ sau Tháng Tám năm 1945

bauxitevn7:06 AM


Trần Quí Cao 
Bài 4: Hậu quả của cuộc “Kháng chiến chống Mỹ cứu nước”
Dưới đây là các hậu quả dễ thấy của cuộc “Kháng chiến chống Mỹ cứu nước”:
1) Đẩy dân tộc vào một cuộc chém giết khủng khiếp. Một phần rất lớn sinh lực của đất nước bị thiêu cháy trong lò lửa chiến tranh chống lại cường quốc quân sự mạnh nhất thế giới. Các ước tính cho rằng, khoảng 8-10 triệu sinh mạng bị cướp đi. Miền Bắc mất 5-6 triệu, miền Nam mất 3-4 triệu. Nếu so sánh với con số 58 ngàn lính Mỹ thiệt mạng trên chiến trường Việt Nam, chúng ta thấy hơn 99% số thương vong là của người Việt! Cuộc chiến này, dù được trang điểm dưới bất kỳ ngôn từ hoa mỹ nào, cũng không che đậy được bản chất nội chiến.
2) Tàn phá toàn bộ nền kinh tế đất nước. Đẩy miền Nam Việt Nam từ phồn vinh xuống đói nghèo.
Phải chăng Đảng Cộng sản Việt Nam công giải phóng dân chúng miền Nam khỏi đời nô lệ nghèo đói?
Tác giả xin trình bày các số liệu sau:
GDP/đầu người (USD)
 
1960
1965
1970
1975
Nam Việt Nam
223
123
130
44
Thái Lan
101
192
138
351
Nam Hàn (Hàn Quốc)
155
279
106
608
Nguồn: List of countries by past and projected GDP (nominal) per capita, Wikipedia
Năm 1954, Việt Nam vừa ra khỏi cuộc chiến với Hiệp định Genève. Miền Nam Việt Nam bắt tay kiến thiết xã hội, phát triển kinh tế, và tới năm 1956 thì kinh tế Nam Việt Nam bắt đầu tăng trưởng dương. GDP/đầu người năm 1960 cho thấy kinh tế miền Nam Việt Nam phồn vinh hơn hẳn Thái Lan và Nam Hàn (223 USD so với 101 USD của Thái lan và 155 USD của Nam Hàn). Tại châu Á, nếu tính theo GDP/đầu người, miền Nam Việt Nam chỉ thua có Nhật (479 USD), và gần với Mã Lai (299 USD), hơn hẳn Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Nam Hàn…
Khoảng năm 1957, miền Bắc phát động cuộc chiến xâm chiếm miền Nam, bắt đầu với “chiến tranh du kích”. Năm 1960 Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được thành lập, chiến tranh càng lan rộng. Từ năm 1964, khi Mỹ đưa quân vào miền Nam (1965), Đảng Cộng sản Việt Nam gia tăng cường độ chiến tranh và toàn bộ miền Nam trở thành bãi chiến trường. 
Rất tương ứng với các biến chuyển của thời cuộc chiến tranh, GDP/đầu người các năm 1965, 1970 và 1975 cho thấy kinh tế miền Nam Việt Nam biến chuyển từ phồn vinh trở thành yếu kém rồi rất yếu kém so với Thái Lan và Nam Hàn. Từ gấp đôi Thái Lan năm 1960 thành một phần tám của Thái Lan năm 1975. Từ gấp rưỡi Nam Hàn năm 1960 thành ít hơn một phần mười ba của Nam Hàn năm 1975.
Cuộc chiến tranh Giải phóng miền Nam rõ ràng đã đẩy dân chúng miền Nam từ đời sống giàu có vào nghèo đói. 
Thực ra, cuộc chiến đã tàn phá kinh tế toàn bộ đất nước. Nếu tính GDP/đầu người chung cho toàn bộ Việt Nam, gồm cả miền Nam và miền Bắc, thì năm 1960 con số ước tính là là 148 USD, năm 1970 là 120 USD và năm 1975 là 70 USD, chỉ bằng 50% so với năm 1960. Trong thời gian đó, Thái Lan phát triển gấp 3,5 lần, Nam Hàn phát triển gấp 4 lần.
3) Sự chia rẽ đầy hận thù Quốc - Cộng được đẩy lên tột đỉnh. Hai thành phần của một dân tộc biến thành “Ta” với “Địch”, thành kẻ thù hay thậm chí kẻ tử thù của nhau.
4) Cuộc chiến nhiều lần tàn phá các thành phố lớn, gieo rắc vào dân tộc tính độc ác man rợCuộc Tổng tiến công nổi dậy Mậu Thân thực chất là một cuộc vi phạm thỏa thuận ngừng bắn giữa hai phe tham chiến, trong đó phe Cộng sản lật lọng và tiến công miền Nam giữa lúc thỏa thuận ngừng bắn để dân chúng đón Tết cổ truyền vẫn còn hiệu lực. Trận chiến Tết Mậu Thân là cuộc thảm sát giữa người Việt theo phe miền Bắc đối với người dân miền Nam. Riêng tại Huế, cả thành phố phải chít trắng khăn sô: những kẻ cầm súng theo Cộng sản đã giết mấy ngàn thường dân không phương tiện tự vệ. Con số nạn nhân đã kinh hoàng, cách thức và tính dã man của việc giết người càng kinh hoàng hơn.
5) Việt Nam mất đi các đảo trong quần đảo Hoàng Sa về tay Trung Cộng. Khi cuộc chiến lên cao độ, khi toàn bộ sinh lực miền Nam phải dồn vào chống trả cuộc xâm lăng miền Bắc, Trung Cộng, nước đồng minh viện trợ vũ khí, lương thực để miền Bắc tấn công miền Nam, đánh chiếm đảo Hoàng Sa của miền Nam. Chính phủ miền Nam kiên quyết đánh trả. Đây là bước ngoặc bi thảm cho dân tộc vì tạo đà cho Trung Cộng lần lượt chiếm các đảo khác của Việt Nam, lấy mất một phần lớn tài nguyên biển và tạo gọng kìm quân sự uy hiếp toàn bộ lãnh thổ của chúng ta sau này.
Trước việc xâm chiếm này, chính quyền miền Nam yêu cầu miền Bắc hợp tác cùng lên tiếng phản đối Trung Cộng trên các diễn đàn quốc tế thì miền Bắc im lặng. Trong khi đó họ tuyên truyền trong giới chiến binh của họ rằng “Trung Quốc là bạn của Việt Nam, Họ chiếm Hoàng Sa là chiếm cho miền Bắc, chờ khi miền Bắc thắng miền Nam thì các đồng chí Trung Quốc sẽ trả các đảo đó lại cho nước Việt Nam thống nhất”.
6) Việt Nam đã chống lại Mỹmột siêu cường không có tham vọng xâm chiếm lãnh thổ nước khác, một việc mà nhà chính trị xuất sắc của thời đại, ông Lý Quang Diệu, cho là ngu ngốc. Lịch sử thế giới thời đó và tới tận bây giờ cho thấy các nước đồng minh của siêu cường này đều phát triển kinh tế xã hội vượt bậc. Trong khi đó Việt Nam lại buộc mình vào vòng lệ thuộc Trung Cộng, một quốc gia luôn có tham vọng lấn chiếm lãnh thổ các nước láng giềng và nuôi giấc mộng trở thành siêu cường quân sự vài chục năm sau.
6) Toàn bộ Việt Nam bị đặt dưới chính thể Độc đảng và Toàn trị, mở ra một thời kì nhiều bi thảm và bế tắc cho dân tộc. 
Tiếp theo cuộc “Kháng chiến 9 năm chống Pháp”, cuộc “Kháng chiến chống Mỹ cứu nước” mang lại những tai họa khủng khiếp và lâu dài cho dân tộc như đã trình bày ở trên, và chắc hẳn rằng đa số người Việt Nam đã cùng nhìn thấy.
Nếu như sự cần thiết của cuộc “Kháng chiến 9 năm chống Pháp” là đề tài còn được tranh cãi, thì Tính phi lý của “cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước” đã được đa số tán thành. Tác giả tin chắc rằng, nếu tiến hành điều tra xã hội học một cách thực sự khoa học và độc lập, đại đa số ý kiến nhân dân sẽ cho rằng cuộc “Kháng chiến chống Mỹ cứu nước vô nghĩa và tai hại”. Tất nhiên, Đảng Cộng sản đương quyền không bao giờ dám tiến hành một công việc như vậy, và cũng không bao giờ cho phép các thành phần độc lập trong xã hội làm điều đó.
Trong lúc cuộc chiến nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn đang được Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân danh Chống Mỹ cứu nước, quyết tâm tiến hành, nhà lãnh đạo miền Nam, ông Ngô Đình Nhu, Cố vấn chính trị của Tổng thống Ngô Đình Diệm đưa ra nhận định:
Thực ra thì dù chính sách của Pháp có thiển cận, chúng ta cũng có thể đòi lại độc lập với ít tổn thất sinh lực hơn. Chính lập trường Cộng sản lệ thuộc Nga Xô và Trung Cộng đã khiến cho phe Cộng sản Việt Nam chọn chiến tranh thay vì đấu tranh chính trị. Nếu các nhà lãnh đạo Việt Nam hiểu rõ ý đồ của Nga và Trung Cộng, thì có thể họ đã từ chối làm đồng minh với Cộng sản như Ấn Độ.
Dù không đồng ý, chúng ta cũng thông cảm việc các nhà lãnh đạo Cộng sản Việt Nam đồng minh với Nga Xô để giành độc lập. Nhưng sau đó, để lãnh đạo công cuộc phát triển đất nước, họ phải thoát khỏi vòng ảnh hưởng của hai khối Tự do và Cộng sản, nếu họ nhận thức rõ:
1) Thâm ý chiến lược của Nga và Trung Cộng. Chủ nghĩa Cộng sản thực ra chỉ là một phương tiện tranh đấu của người Nga trước đây, và của Trung Cộng hiện nay.
2) Cần chấm dứt đồng minh với Cộng sản khi không còn ích lợi cho dân tộc.
3) Đối với Việt Nam, Trung Hoa của Mao Trạch Đông, cũng như Trung Hoa của các triều đại Tống, Nguyên, Minh, Thanh là một đe dọa truyền kiếp. 
Tai họa thay, các nhà lãnh đạo Bắc Việt đã không thoát ra khỏi ảnh hưởng đó, và Việt Nam biến thành chiến trường của tranh chấp Tự do - Cộng sản. Mâu thuẫn giữa hai khối, lẽ ra là cơ hội, biến thành tai họa tàn phá khủng khiếp sinh lực của đất nước! (Ngô Đình Nhu, Chính đề Việt NamPhần III, Điều kiện nội bộ). 
Ông Ngô Đình Nhu tiên đoán:
Việt Nam đã ra ngoài vòng chi phối của Trung Hoa gần một thế kỉ. Nay, khi tự đặt mình dưới sự chi phối của Trung Hoa, các nhà lãnh đạo miền Bắc đã đặt dân tộc trước viễn cảnh khủng khiếp là lệ thuộc Trung Hoa, mà kinh nghiệm ngàn năm qua cho thấy thực là tàn khốc.
Hiện nay miền Bắc đang tiến hành xâm chiếm miền Nam. Sự tồn tại của miền Nam, dưới ảnh hưởng của khối Tự do, có vai trò cực kì quan trọng: nó chưa cho phép Trung Cộng thống trị Việt Nam. Giả sử mà Nam Việt bị Bắc Việt thôn tính, thì sự Trung Cộng thôn tính Việt Nam chỉ là một vấn đề thời gian. Vậy chúng ta bảo vệ miền Nam không chỉ cho miền Nam, mà còn giữ một lối thoát cho miền Bắc và cứu dân tộc khỏi ách thống trị một lần. (Ngô Đình Nhu, Chính đề Việt NamPhần III, Điều kiện nội bộ).
Từ đó ông Ngô Đình Nhu đề nghị:
Và vì vậy cho nên, chúng ta thành khẩn mong mỏi các nhà lãnh đạo miền Bắc, kịp thời nhận định đã đến lúc, vì sự tiến hóa của dân tộc, không còn nên tiếp tục sự trụ đóng vào phương tiện Cộng sản nữa. (Ngô Đình Nhu, Chính đề Việt NamKết luận)
Đến nay đã hơn 55 năm kể từ ngày mất của hai ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, đã 40 năm sau ngày miền Bắc chiến thắng miền Nam. Đối chiếu những gì ông Nhu viết với các thực tế đã xảy ra từ đó tới nay, chúng ta ngạc nhiên vì mức độ chính xác của những lời tiên đoán. Với quan điểm không hề tôn sùng bất kì cá nhân nào, lãnh tụ nào, mỗi khi đọc lại tác phẩm Chính đề Việt Nam của ông Ngô Đình Nhu, tác giả thấy rõ rệt, trên từng dòng chữ, kiến thức và tầm nhìn của một nhà chính trị có viễn kiến cùng tấm lòng thiết tha với vận mệnh lâu dài của đất nước.
Các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, những người đưa dân tộc vào cuộc “Kháng chiến chống Mỹ cứu nước” vô nghĩa và thảm khốc, có tấm lòng này không? Có kiến thức và tầm nhìn này không?
Nếu nhìn lại tiến trình lịch sử, cùng các hậu quả của nó, cuộc “Kháng chiến chống Mỹ cứu nước” do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo mang lại hạnh phúc hay tai họa cho đất nước?
Cuộc “Kháng chiến chống Mỹ cứu nước” đưa Việt Nam tiến bước lên hàng ngũ các nước độc lập, giàu mạnh, văn minh hay đẩy Việt Nam vào vòng lệ thuộc, chậm tiến, suy thoái?
T.Q.C.
Tác giả gửi BVN.

Đôi điều lạm bàn về lịch sử hiện đại Việt Nam từ sau Tháng Tám năm 1945


Đôi điều lạm bàn về lịch sử hiện đại Việt Nam từ sau Tháng Tám năm 1945

bauxitevnTue 7:33 AM


Trần Quí Cao 
Bài 3: Hai Miền Nam Bắc sau Hiệp định Genève
Sau trận chiến Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève được ký kết mang lại hòa bình cho Đông Dương. Kể từ đó Việt Nam tạm thời chia làm hai miền:
1) Phía Bắc sông Bến Hải là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức chính trị xã hội theo hệ thống xã hội chủ nghĩa dưới quyền cai trị của ông Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam.
3) Phía Nam sông Bến Hải là Việt Nam Cộng Hòa tổ chức xã hội theo hệ thống tư bản chủ nghĩa với hệ thống Tam quyền phân lập, trong đó quyền Lập pháp thuộc về Quốc hội lưỡng viện do dân trực tiếp bầu ra.
4) Mỗi bên tự xây dựng phần lãnh thổ của mình trong hòa bình, sau hai năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử thống nhất đất nước. 
Trước khi việc chia cắt được thực hiện triệt để, có một khoảng thời gian cho người dân hai miền tự do di chuyển tìm đến nơi mình muốn sống. Chính quyền không được ngăn cản mà phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển này.
Ở miền Nam các cán binh Cộng sản có những điểm tập kết an toàn để chuyển ra miền Bắc. Người dân miền Bắc di cư vào Nam được Chính quyền tiếp nhận và tổ chức định cư chu đáo. Nhà nước bắt đầu trù hoạch các chương trình tái thiết quốc gia. Hệ thống giáo dục với chương trình giảng dạy từ tiểu học tới đại học… được nâng tầm với sự tư vấn của chuyên gia các nước phát triển. Sự trao đổi văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật với Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Canada, Úc… được tiến hành thường xuyên. Dân chúng được hưởng nền giáo dục phổ cập tới lớp 9 (nghĩa là trẻ em đi học do Chính phủ đài thọ, gia đình không phải trả bất kì chi phí giáo dục nào). Đây là một hệ thống giáo dục tiến bộ so với các nước trong khu vực thời đó. Hệ thống Y tế liên hoàn và tương đối hoàn chỉnh được triển khai toàn miền. Tại Sài Gòn những bệnh viện công và tư khang trang bảo đảm cung cấp dịch vụ y tế đạt tiêu chuẩn cao. Các bệnh viện công, mà người dân gọi là nhà thương thí vì không phải trả tiền (như Chợ Rẫy, Bình Dân…) cũng sạch đẹp mà không có tình trạng một giường hai bệnh nhân... Đã xuất hiện những kế hoạch kinh tế như Khu Công nghiệp tập trung Nhà Bè (mà nếu không có chiến tranh đã trở thành một kiểu như Khu Chế xuất Tân Thuận sau này, nhưng được tiến hành trước đó vài chục năm), các vùng nông nghiệp chuyên canh, v.v. Cho tới cuối những năm 1950, trước khi quân đội miền Bắc thâm nhập vào miền Nam trên quy mô lớn, Việt Nam Cộng hòa vẫn còn xuất khẩu lúa gạo, nông sản chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Thời kỳ này, GDP bình quân đầu người của Việt Nam Cộng hòa gấp 2,2 lần Thái Lan, và 1,49 lần Hàn Quốc. Nền kinh tế Việt Nam đầy triển vọng với giá trị đồng tiền ổn định. Các giá trị văn hóa, đạo đức được tôn trọng.
Ngược lại với miền Nam, miền Bắc lại là bức tranh với gam màu xám. Rất nhiều đồng bào miền Bắc muốn di cư nhưng chính quyền Cộng sản đã dùng nhiều biện pháp ngăn chặn. Tuy nhiên, chỉ trong một thời gian ngắn cũng đã có hơn một triệu người đã thoát được vào Nam. Nhân cơ hội này, Cộng sản miền Bắc tìm cách gài mật vụ của mình vào các nhóm di cư, đồng thời bí mật tổ chức cho các cán binh ở lại miền Nam chôn giấu vũ khí, chuẩn bị cơ sở vật chất cho các cuộc “tấn công nổi dậy” sau này.
Khi “bức màn sắt” buông xuống trên miền Bắc, mọi khuynh hướng nghiêng về tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tinh thần pháp trị… bị đàn áp triệt để. Chiến dịch “Trăm hoa đua nở” bỏ tù và bức tử nghề nghiệp hàng loạt các nhà báo, nhà văn hóa có tư tưởng cách tân, có tinh thần tự do học thuật. Đây thực chất là một chiến dịch “Cải cách ruộng đất” trong lãnh vực văn hóa, tư tưởng.
Kể từ đó, miền Bắc chỉ có một đảng lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam, và một siêu thần tượng là ông Hồ Chí Minh. 
Từ những gì thấy được qua cách điều hành đất nước của chính quyền Cộng sản miền Bắc, các nhà quan sát có thể dự đoán, cuộc Tổng Tuyển cử chưa chắc được tổ chức như quy định trong Hiệp định Genève. Và trong thực tế, vì nhiều lý do, cuộc Tổng Tuyển cử đã không được tiến hành.
Bộ máy tuyên truyền cho cuộc chiến của Đảng Cộng sản Việt Nam trên miền Bắc, trước đây hoạt động âm thầm, nay mở hết công suất đưa báo chí, phát thanh, mít tinh, tuần hành… vào cuộc:
1) Chế độ miền Nam không tuân thủ hiệp định Genève, cản trở việc tổ chức Tổng Tuyển cử.
2) Đế quốc Mỹ xâm lược nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên, nô dịch đồng bào miền Nam.
3) Chế độ miền Nam dâng miền Nam cho Mỹ. 
4) Chế độ miền Nam lê máy chém giết hại đồng bào yêu nước, bỏ thuốc độc giết tù chính trị.
5) Chế độ miền Nam thực chất là chính quyền Ngụy, là chế độ bán nước cho Mỹ, tiếp tay Mỹ đày đọa, bóc lột thậm tệ dân chúng miền Nam và biến họ thành nô lệ… 
Sau “bức màn thép”, không một tin tức trung thực nào về đời sống ấm no và tiến bộ của miền Nam đến người dân miền Bắc. Chỉ có một chiều: dân chúng miền Nam đang sống đời nô lệ khổ đau, đang bị bóc lột cùng cực bởi chế độ Mỹ Ngụy. 
Do đó, miền Bắc cần “giải phóng miền Nam”, giành độc lập cho miền Nam, cứu dân miền Nam khỏi kiếp nô lệ đói nghèo…
Giải phóng Miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước,
Diệt đế quốc Mỹ, phá tan bè lũ bán nước.
Ôi xương tan máu rơi
Lòng hận thù ngất trời… (Lời ca khúc Giải phóng miền Nam)
Thế là miền Bắc, chưa kịp hưởng thanh bình mấy bữa, đã, với “lòng hận thù ngất trời”, dốc tất cả nhân lực và tài lực vào cuộc chiến “giải phóng” miền Nam. Trong thời đại máy bay, tên lửa, bom nguyên tử…, tuổi trẻ Việt Nam được đốc thúc “cầm gươm ôm súng xông tới”, đối đầu với các loại vũ khí tối tân của của đội quân hùng mạnh và văn minh nhất thế giới! Phải tiêu diệt kẻ thù cho dù phải “đốt cháy cả dãy Trường Sơn!”.
Hàng triệu sinh mạng, trong đó đa số đang lứa tuổi thanh xuân, bị thiêu cháy trong lò lửa chiến tranh. Hàng triệu con người “sinh Bắc tử Nam”, trở về quê trong quan tài hay bị mất tích trong chiến tranh, trở thành phế nhân trên quê hương tan nát, điêu tàn… để ngày 30/4/1975 những chiếc xe tăng T54 của quân miền Bắc húc đổ cổng sắt tiến vào Dinh Độc Lập, tổng hành dinh của miền Nam. Các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam bước lên vũ đài thống trị toàn bộ đất nước!
T.Q.C.
Tác giả gửi BVN.

Đôi điều lạm bàn về lịch sử hiện đại Việt Nam từ sau Tháng 8 năm 1945


Đôi điều lạm bàn về lịch sử hiện đại Việt Nam từ sau Tháng 8 năm 1945

bauxitevnMon 12:49 AM


Trần Quí Cao 
Bài 2: Cuộc Kháng chiến chín năm giành độc lập từ Pháp.
Nếu không có cuộc Cách mạng Tháng Tám (CMT8) thì rất có thể các đảng phái khác nhau, các thành phần khác nhau của dân tộc VN đã đoàn kết trên một mặt trận đối phó với Pháp. Hoàn cảnh đó, thực lực đó, Việt Nam có thể giành được độc lập mà không phải trả giá bằng cuộc chiến 9 năm. Nhà sử học và nhà hoạt động văn hóa chính trị đáng kính của Việt Nam, người từng nghiêng về ủng hộ cuộc kháng chiến 9 năm, ông Hoàng Xuân Hãn, nhớ lại: “Chiến tranh sở dĩ xảy ra vì bên ngoài ta không thuyết phục được Pháp tôn trọng chúng ta hơn, bên trong ta không dẫn dắt được dân chúng đấu tranh hòa bình”.
Dù sao cuộc chiến cũng đã nổ ra. Truyền thống chống ngoại xâm được hun đúc ngàn năm đã biến Việt Nam thành một chiến trường toàn diện.
1) Trên toàn lãnh thổ Việt Nam, nơi nào cũng có thể trở thành chiến trường.
2) Các thành phần dân tộc đồng loạt xung phong lao ra trận. Cả đất nước xếp lại mọi sinh hoạt đời thường để cầm vũ khí xông vào bắn giết.
Cuộc chiến 9 năm là cuộc ra trận của cả một dân tộc. Từ những nông dân chân lấm tay bùn, người thợ lam lũ cực nhọc trong nhà máy, cho tới ông Thầy giáo dạy chữ, vị Bác sĩ cứu người, các Đại điền chủ điền sản bạt ngàn, các ông Quận trưởng, Đô trưởng đầy đủ tri thức và tài năng quản trị, các nhà chuyên môn trong mọi mọi ngành nghề, tất cả bỏ hết quyền lợi riêng tư, đem cả gia đình vào kháng chiến. Họ không biết chủ nghĩa Cộng sản, chỉ theo tiếng gọi Độc lập cho Tổ Quốc, Hạnh Phúc cho Nhân dân: “Người sau kẻ trước lao vào giặc/Lưu lại ngàn thu một giống nòi” ( Hoàng Cầm)
Đối với rất nhiều người trong họ, cuộc kháng chiến chống Pháp là cuộc chiến thiêng liêng, là lẽ sống cao nhất của cuộc đời. 
Trong khi rất kính trọng nhân cách của đa số con người tham gia kháng chiến, trong khi nghiêng mình trước những hy sinh quá lớn lao mà họ tự nguyện chấp nhận vì công cuộc giành độc lập cho tổ quốc, Tôi vẫn thường tự hỏi:
1) Những ai chủ trương đưa dân tộc vào cuộc “Kháng chiến trường kỳ” làm hao tổn nguyên khí Quốc gia, mài mòn sinh lực và tài lực của đất nước? 
2) Có phải không còn cách nào để đoàn kết toàn dân đấu tranh chính trị, ngoại giao với Pháp?
3) Tại sao trong khi nền độc lập non trẻ của nước nhà đang “ngàn cân treo sợi tóc” lại tiến hành loại bỏ không khoan nhượng những đảng phái khác cũng đang hoạt động cùng mục tiêu bảo vệ nền độc lập đó?
Tôi tin rằng nhiều người Việt Nam cũng thắc mắc với những câu hỏi như trên hay những câu tương tự. Đặt ra những câu hỏi đó không phải là bới móc lịch sử, mà là để hướng tới xây dựng tương lai. Không thể xây dựng tương lai với quyết tâm và tinh thần mạnh mẽ vượt mọi khó khăn, nếu không biết rõ quá khứ.
Những câu hỏi này bị cấm đoán hay chưa từng được nêu lên rộng rãi trong dân chúng, nhất là các nhân sĩ, trí thức, với mục đích phản biện trong tinh thần thực sự khoa học và cầu thị. Chúng phải được trả lời bởi những sử gia, chính trị gia công tâm. Không thể tìm câu trả lời trong tinh thần “minh họa”, “chứng minh” cho một đường lối, một chính sách của đảng Cộng sản Việt Nam.
Trở lại cuộc chiến tranh với người Pháp , cuộc chiến mà Đảng Cộng sản Việt Nam tự hào là đã lãnh đạo toàn dân “kháng chiến thành công”. Cuộc chiến bắt đầu từ “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” tháng 12 năm 1946 của ông Hồ Chí Minh và kết thúc bằng trận Điện Bên Phủ mà phần bại thuộc về đội quân viễn chinh Pháp. Ta hãy phân tích xem, sau “cuộc kháng chiến thần thánh” đó, những người Cộng sản Việt Nam đã đem lại những thành quả gì cho dân tộc xứng đáng với hàng núi xương sông máu họ đã tự nguyên hy sinh.
Hậu Quả của Cuộc Chiến:
1) Các số liệu thống kê cho thấy khoảng ba triệu người Việt Nam ưu tú đã nằm xuống. Hãy nhớ, trong ba triệu vong nhân đó, có không ít trí thức nổi tiếng với kỹ năng quản trị, có trình độ chuyên môn cao được đào tạo từ các nước văn minh có nền giáo dục tiên tiến. Đó là cái vốn nhân lực quý giá để xây dựng và phát triển đất nước phồn vinh trong tương lai. Một điều cần ghi nhận nữa là, hầu hết trong số ba triệu người ngã xuống đó đang trong lứa tuổi thanh niên. Những người trẻ tuổi đồng loạt hy sinh tất yếu là nguyên khí Quốc gia hao tổn, phải nhiều thế hệ sau mới bù đắp được.
2) Cả nước biến thành chiến trường trong suốt chín năm. Thời gian chiến tranh gần gấp đôi thời gian Thế chiến thứ 2. Cơ sở hạ tầng và nền kinh tế (chủ yếu là nông nghiệp) bị tàn phá nặng nề.
3) Nền tảng văn hóa truyền thống bị phá vỡ, đạo đức xã hội bị xuống cấp nghiêm trọng.
4) Hận thù được gieo rắc và nuôi dưỡng.
5) Nước Việt Nam chính thức bị chia đôi. Lịch sử phân tranh Trịnh-Nguyễn tái lập với cấp độ tàn khốc gấp rất nhiều lần.
Dọc theo 9 năm chiến tranh, trong khi máu đang chảy thành sông, xương đang chất thành núi, thì những người lãnh đạo kháng chiến lại phát động cuộc thảm sát man rợ trên quy mô lớn dưới chiêu bài Cải cách ruộng đất. 
Tại sao gọi là thảm sát man rợ?
1) 172.008 * người vô tội bị đấu tố, sát hại dưới mọi hình thức trên diện tích khoảng 20 ngàn km vuông, chỉ với một dân số khoảng 5 triệu người (vùng giải phóng miền Bắc), trong khoảng thời gian tương đối ngắn.
2) Việc giết người được quyết định bởi những mệnh lệnh sai lầm của những người Cộng sản cực tả (do các Cố vấn Tàu chỉ đạo), thiểu năng trí tuệ nhưng thừa lập trường “đấu tranh giai cấp” kiên định.
3) Việc giết người được thi hành trước đám đông cuồng nhiệt, mà lòng căm thù mang hội chứng bầy đàn bị kích động bởi những kẻ cuồng tín ngu dốt.
4) Việc giết người được tiến hành ngay lập tức bằng cách treo lên cao hay trói vào cột, rồi cho năm bảy dân quân xả súng bắn, thậm chí có nơi còn đào hố chôn đến cổ rồi cho trâu bừa lên.
5) Việc giết người được tiến hành trước sự chứng kiến của dân làng, trong đó có nhiều trẻ em.
(Hãy so sánh với cách thức xử tử con tin mà phiến quân IS tiến hành và quay phim tung lên mạng hiện nay, để cảm nhận mức độ man rợ của những người chủ trương Cải cách ruộng đất đối với đồng bào của mình 60 năm trước) 
Qua 9 năm chiến tranh, mâu thuẫn xã hội bị đẩy lên cao. Dân tộc bị phân chia làm “ta” và “địch”. Không có thành phần đứng giữa hay đứng ngoài. Người nào không cầm súng chiến đấu trong phe “ta”, người đó là “địch”. Người Việt không được quyền sống hòa bình và yên ổn. Người Việt không được quyền làm thường dân, nếu sống trong vùng Pháp kiểm soát thì đương nhiên là theo Pháp. Người Việt không được quyền sống theo tôn giáo của mình, giáo dân có khuynh hướng được xếp vào hàng ngũ địch.
Để có ngân sách theo đuổi chiến tranh, càng về sau, mức độ lệ thuộc của Việt Nam vào nước Tàu Cộng sản càng sâu. Cố vấn Tàu có ảnh hưởng lớn đến đường lối cai trị của ban lãnh đạo Việt Nam. Những giọt nước mắt của ông Hồ chí Minh khi xin lỗi đồng bào về hậu quả Cải cách ruộng đất, cùng những lập luận Việt Nam tiến hành CCRĐ là do áp lực của Tàu, với mục đích chạy tội, càng chứng tỏ Việt Nam lệ thuộc Tàu tới chừng nào!
Cuối cuộc chiến, khi đất nước bị chia đôi, rất nhiều người Việt không chấp nhận sống dưới chế độ Cộng sản. Do chính quyền Cộng sản lúc đó chưa hoàn toàn kiểm soát được tình hình, và việc thi hành hiệp định Geneve được đặt dưới sự giám sát của Quốc tế, chính quyền phải chấp nhận việc đồng bào miền Bắc di cư vào Nam. Tuy nhiên, chính sách bắt ép dân ở lại vẫn được tiến hành không chính thức. Rất nhiều người không đi được , bị Chính quyền bạc đãi, phân biệt đối xử, bị tù đày, bị thủ tiêu… chính là nguyên nhân của lòng hận thù dân tộc không thể hóa giải được trong một sớm một chiều.
Sau cuộc chiến 9 năm, rất nhiều gia đình lại có con em bị đẩy vào cuộc chiến 20 năm được gọi bằng dánh xưng mỹ miều là “Chống Mỹ Cứu Nước”, để rồi sau năm 1975 mới ngộ ra mình chỉ là con tốt trên bàn cờ chính trị. Tấm lòng yêu nước bằng truyền thống và tinh thần chống ngoại xâm của của những người tham gia cuộc chiến thực đáng kính trọng. Khi đối chiếu tấm lòng của họ, sự hy sinh của họ với thực tế thoái hóa trầm trọng trên hầu như tất cả các mặt của đất nước hôm nay, lòng tôi lại dâng niềm thương cảm và đau xót. 
Hãy phóng tầm mắt sang các lân bang có cùng cảnh ngộ:
Phi Luật Tân độc lập năm 1945; Indonesia độc lập năm 1945; Ấn Độ độc lập năm 1947; Mã Lai độc lập năm 1957; Thái Lan không chịu hoàn cảnh thuộc địa.
Những nước này độc lập mà không phải trải qua một cuộc chiến khốc liệt nào, đất nước không phải chia cắt, dân tộc đoàn kết xây dựng cuộc sống hạnh phúc, không hận thù, trốn chạy và truy sát lẫn nhau. Nền dân chủ của họ ngày càng bền vững, người dân được hưởng các quyền tự do căn bản trong một thể chế tiến bộ, làm bệ khai phóng cho đất nước phát triển một cách hài hòa với mỗi cá nhân. Các nước này, hiện nay có mức phát triển kinh tế cao hơn hẳn Việt Nam, có GDP/đầu người cao hơn Việt Nam ba bốn lần.
Cuộc kháng chiến 9 năm đã nên hay đã không nên nổ ra?
Do đó, trong khi những câu hỏi ở đầu chương này chưa được công khai nêu lên với đông đảo đồng bào, tôi bắt buộc phải có những câu hỏi khác:
Khi quyết định đưa dân tộc vào một cuộc chiến tranh lớn và lâu dài tới như vậy, những người lãnh đạo cuộc chiến này:
1) Họ thực lòng yêu nước chống ngoại xâm hay lợi dụng lòng yêu nước chống ngoại xâm để chiếm độc quyền thống trị? Họ có yêu qúy đất nước không? Có trân trọng mạng sống của người dân không? Có trân trọng tài nguyên, nguyên khí của dân tộc để dành cho sự phát triển lâu dài?
2) Họ có kiến thức chính trị đủ rộng và đủ sâu để nắm bắt khuynh hướng chính trị của Thế giới, thời cơ Quốc tế, vận hội Quốc gia, thực lực và tiềm năng dân tộc mà vạch ra hướng đi có lợi nhất cho Tổ quốc hay không?
T.Q.C.
Tác giả gửi BVN
Ghi chú:
*Số liệu đươc công bố chính thức của Đảng CSVN

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2015

Đôi điều lạm bàn về lịch sử hiện đại Việt Nam từ sau Tháng 8 năm 1945



Đôi điều lạm bàn về lịch sử hiện đại Việt Nam từ sau Tháng 8 năm 1945

bauxitevnSun 7:20 AM


Trần Quí Cao 
Đặt vấn đề
Đảng Cộng Sản Việt Nam (viết tắt: đảng CSVN) thường nói đảng CSVN có vị thế chính đáng để lãnh đạo đất nước lâu dài. Chính nhân dân Việt Nam đã chọn đảng CSVN, chớ không chọn ai khác, làm lãnh đạo, vì trong bảy chục năm qua Đảng đã tổ chức và lãnh đạo nhân dân giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, và do đó Đảng có công lao trời biển đối với đất nước.
Các thành tích lớn Đảng CSVN thường nêu lên là:
1) Lãnh đạo nhân dân Việt Nam làm cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành độc lập từ tay phát xít Nhật.
2) Khi Pháp quay lại Đông Dương, Đảng CSVN đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc Kháng chiến chín năm giành độc lập từ Pháp.
3) Khi Pháp thua trận Điện Biên Phủ phải rút khỏi Đông Dương, nước Việt Nam bị chia thành hai miền Nam, Bắc theo các thể chế khác nhau, Đảng CSVN đã lãnh đạo nhân dân tiếp tục công cuộc giành độc lập bằng cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước“đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”.
4) Sau khi thống nhất đất nước bằng bạo lực cách mạng “hai mười năm nội chiến từng ngày”, Đảng CSVN tiếp tục lãnh đạo toàn diện nhân dân xây dựng nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa phát triển mọi mặt và có vị trí quốc tế quan trọng.
Về lý thì vậy, nhưng trên thực tế chưa bao giờ trong nước có một cuộc hội thảo khoa học đúng nghĩa về những chủ đề trên. Các thành tích mà Đảng CSVN tự hào đã mang lại những hậu quả gì cho dân tộc? Những hội thảo, hội nghị được gọi là “khoa học” nhưng lại mang tính phong trào, nghĩa là tổ chức nhân dịp những ngày đại lễ mừng chiến công của Đảng, và chỉ có mục đích chứng minh cho lập luận của Đảng CSVN. Ai cũng biết, các hội thảo, hội nghị như vậy không hề có tính khoa học , bởi vì chúng thiếu mất hai khâu quan trọng là khách quan và trung thực
Loạt bài viết này có thể xem như một tổng hợp các quan điểm, cách nhìn khác với quan điểm chính thống, nhằm phân tích xem cuộc “Cách mạng Tháng Tám”, cuộc “Kháng chiến chín năm”, cuộc “Kháng chiến chống Mỹ cứu nước” và sự lãnh đạo toàn diện đất nước dưới chế độ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Đảng CSVN đã thực sự mang lại những gì cho dân tộc này.
Bài 1. Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Thế chiến thứ 2 là cuộc chiến giữa phe Trục dẫn đầu bởi các nước Đức, Ý, Nhật và phe Đồng Minh dẫn đầu bởi các nước Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nga. Thế chiến 2 bắt đầu năm 1939 và kết thúc năm 1945 với sự đầu hàng của Nhật và Đức.
Những năm đầu Thế chiến, phe Trục thắng liên tiếp trên các mặt trận lớn. Pháp bị Đức đánh bại và đầu hàng. Nước Pháp suy yếu, khiến chính quyền Pháp tại Đông Dương cũng yếu theo. Năm 1941 Nhật tấn công và phá hủy gần như toàn bộ Hạm đội Mỹ đóng tại Trân Châu Cảng, căn cứ hải quân chính của Mỹ tại Thái Bình Dương. Từ đó Nhật hùng cứ Thái Bình Dương và sau đó chiếm đóng Bán đảo Đông Dương. 
Vào thời điểm ấy, Việt Nam đúng là đang bị một cổ hai tròng. Tuy nhiên, hai tròng đó đang dần dần được cởi bỏ bởi:
a) Sự đấu tranh bền bỉ của dân tộc Việt Nam trong 80 năm dưới sự đô hộ của Thực dân Pháp, và
b) Mâu thuẫn của hai phe trong thế chiến thứ hai
Tại Đông Dương mâu thuẫn này được thể hiện bởi tranh chấp Pháp Nhật, để cuối cùng, Nhật đảo chính Pháp vào tháng 3/1945. Lúc này “tròng Pháp”, đã được cởi bỏ. Tròng còn lại, “tròng Nhật”, thực ra đang ngày càng yếu ớt vì Nhật đang rơi vào thế hạ phong. Nhiều nhà quan sát và hoạt động chính trị đã nắm rõ tình hình và thấy trước hướng biến thiên thời cuộc sắp tới. Dù đã lật đổ Pháp và đang nắm quyền cai trị Đông Dương, Nhật chắc chắn sẽ nhanh chóng bại trận trước phe Đồng Minh. Lúc đó Đông Dương sẽ có khoảng trống quyền lực trước khi Pháp kịp quay trở lại. Những phe phái chính trị tại Việt Nam đã vạch ra kế hoạch nắm thời cơ giành độc lập.
Thời kỳ này, Đảng Cộng sản đang hoạt động ngoài vòng pháp luật. Họ tích cực chuẩn bị cho thời cơ “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (tựa một bài báo của ông Trường Chinh).
Lúc đó, một nhóm các nhà hoạt động xã hội có tâm huyết gồm các ông Hoàng Xuân Hãn, Phan Anh… bàn bạc rồi tìm cách thuyết phục vua Bảo Đại lập Chính phủ để chuẩn bị tuyên bố độc lập khi Nhật đầu hàng. Việc này cũng phù hợp với nhu cầu của Nhật là lập một Chính phủ người Việt cho danh chính ngôn thuận với phong trào Đông Á do Nhật khởi xướng từ những năm trước.
Đây là nguồn gốc của sự ra đời Chính phủ Trần Trọng Kim, được thành lập ngày 17/4/1945.
Dù được hình thành dưới thời Nhật chiếm Đông Dương, nội các Trần Trọng Kim thực chất là một Chính phủ lợi dụng thời cơ phát sinh từ mâu thuẫn giữa phe Đồng minh và phe Trục trong Thế chiến thứ 2 để mưu cầu độc lập cho Việt Nam. Chính phủ gồm các nhà hoạt động chính trị, xã hội đương thời, hầu hết là những trí thức có trình độ học vấn cao và tư cách đáng kính trọng. 
Bốn tháng sau, ngày 15/8/1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng.
Trong thời gian ngắn ngủi đó, Chính phủ Trần Trọng Kim đã lầm được những việc quan trọng:
1) Thiết lập một Chính phủ Việt Nam thống nhất, tạo điều kiện và thúc đẩy quần chúng tham gia các sinh hoạt chính trị công khai, chuẩn bị tinh thần hướng giành độc lập dân tộc.
2) Thu hồi các thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và, quan trọng hơn, sáp nhập được Nam Kỳ trở lại thành một phần của nước Việt Nam thống nhất.
3) Xác nhận nền độc lập của Việt Nam ngày 18/8/1945
4) Chuyển đổi thành công nền giáo dục từ hệ thống dùng tiếng Pháp sang hệ thống dùng tiếng Việt từ bậc tiểu học tới bậc đại học. Điều này rất quan trọng nhằm phổ biến kiến thức văn hóa, khoa học, kỹ thuật… cho dân chúng để nâng cao dân trí. Nó cũng nhắm vào mục tiêu nung đúc tinh thần tự chủ của dân tộc, chuẩn bị cơ sở mềm tiếp nhận độc lập khi Nhật đầu hàng. 
Trong điều kiện khó khăn như vậy và trong một thời gian ngắn như vậy, các thành quả nói trên thực đáng kinh ngạc và khâm phục. Không phải là một Chính phủ có tâm huyết với nền độc lập dân tộc và tương lai phát triển đất nước, không thể làm được. Nếu so sánh những kỳ tích trong bốn tháng đó với những gì chính quyền của Đảng CSVN làm trong 40 năm sau khi nước nhà thống nhất, ta sẽ thấy sự khác biệt không chỉ ở thành quả, mà rõ rệt hơn, ở đẳng cấp của tri thức và ở tấm lòng của Chính phủ Trần Trọng Kim đối với vận mệnh đất nước và dân tộc Việt Nam.
Trên thực tế, Chính phủ Trần Trọng Kim đã thực sự điều hành đất nước một cách tự chủ, trong đó có việc sáp nhập các phần lãnh thổ trước đây bị chia cắt vào một quốc gia thống nhất, và, sau ngày Nhật đầu hàng Đồng Minh, Việt Nam đã thực sự độc lập. Chỉ cần tranh thủ sự công nhận của cộng đồng quốc tế là hoàn tất mọi thủ tục về pháp lý của một Nhà nước độ lập.
Ngày 17/8/1945, hai ngày sau khi Nhật tuyên bố đầu hàng, Chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức tập họp các công chức làm lễ mừng độc lập và thống nhất lãnh thổ. Tuy nhiên, trong ngày lễ đó, phe Việt Minh chiếm diễn đàn và tuyên bố giành chính quyền tại Hà Nội. Do không muốn tranh giành, có thể tổn đến hại sự đoàn kết dân tộc trong hoàn cảnh nền độc lập nước nhà đang trong thế rất chông chênh, Chính phủ Trần Trọng Kim đồng ý giao chính quyền cho Việt Minh và vua Bảo Đại thoái vị ngày 25/8/1945. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, ông Hồ Chí Minh tuyên bố nước Việt Nam độc lập tại một cuộc mít tinh ở vườn hoa Ba Đình, nơi sau này được đổi tên thành Quảng trường Ba Đình. Ngày 2/9 sau này được chọn là ngày Quốc khánh của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.
Như vậy, chúng ta có thể thấy:
Cách mạng Tháng Tám thực chất là một cuộc cướp quyền điều hành đất nước của Chính phủ Trần Trọng Kim do ông Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam tiến hành.
Chính phủ Trần Trọng Kim lúc đó thực chất là Chinh phủ của một nước Việt Nam độc lập và thống nhất, có chính quyền Trung ương tập quyền trên suốt lãnh thổ Việt Nam. 
Chính phủ Trần Trọng Kim là Chính phủ gồm những người ưu tú của đất nước, sau bốn tháng thành lập, đã có những thành quả cực kỳ to lớn, nhưng đã bị Việt Minh vu cáo là tay sai Nhật. Chính phủ đó, trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng, đáng lẽ ra phải được ủng hộ để đối phó hữu hiệu với nguy cơ xâm lược ngoại bang, lại bị lật đổ.
Việt Minh lúc ấy, do Đảng Cộng sản thao túng, tranh cướp chính quyền, nên, Cách mạng Tháng Tám đã phá vỡ cơ hội đoàn kết và hợp tác giữa các thành phần và đảng phái dân tộc nhằm đấu tranh với Pháp đang tìm cách quay lại Đông Dương. 
Ai cũng thấy chính sách đối với thuộc địa sau năm 1945 của Pháp là thiển cận và không hợp thời. Lúc đó, nếu phải đối diện với một nước Việt Nam đoàn kết vì mục đích độc lập, tự do thì chúng có hung hăng đến mấy cũng không dám nổ súng tái xâm lược nước ta. Cuộc chiến chống Pháp giành độc lập chẳng những đã cướp đi hàng triệu sinh mạng và tài sản mà còn đánh mất đi những cơ hội lịch sử quý hơn vàng để chấn hưng đất nước.
Cách mạng Tháng Tám là điểm khởi đầu cho một tâm lý chính trị rất xấu là giành quyền điều hành đất nước bằng bạo lực thay vì cạnh tranh lành mạnh, hợp tác xây dựng một nhà nước dân chủ đa nguyên để mọi thành phần dân tộc có thể góp sức phục vụ đất nước. Kể từ đó, lịch sử chính trị Việt Nam bị chi phối rất nặng nề bởi chế độ độc tài toàn trị, trong đó, quyền lợi dân tộc, vận mệnh đất nước được/bị xếp dưới quyền lợi của Đảng.
Vậy thì, Cách mạng Tháng Tám đem lại phúc hay họa cho dân tộc Việt Nam? Điều này thiết tưởng chẳng cần phải nói trắng ra, tôi nghĩ rằng, mỗi người dân bình thường trong chúng ta đều có sẵn câu trả lời cho chính mình.
T.Q.C.
Tác giả gửi BVN

Quân Phỏng D*’i: Quân Giải Phóng và những câu chuyện và ký ức của nhân dân miền Nam


11130690_824506844296321_435243843_n

Quân Phỏng D*’i: Quân Giải Phóng và những câu chuyện và ký ức của nhân dân miền Nam

Featured image: History.com

Giới thiệu

Vậy là đất nước ta lại sắp chuẩn bị kỷ niệm 40 năm ngày Giải Phóng Miền Nam, thống nhất đất nước. Hòa chung với niềm vui chung của cả nước, tôi xin góp vài mẫu chuyện văn hóa có thật để giúp các bạn có thêm niềm vui trong ngày chiến thắng vĩ đại này của dân tộc. Khi quân giải phóng (quân Cộng Sản Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam) tiến vào Sài Gòn, họ đã bị sốc văn hóa bởi sự khác biệt về cơ sở vật chất và văn hóa ứng xử. Bài viết này là một bài sưu tầm một số ký ức, kỷ niệm và câu chuyện về quân Giải Phóng của người dân Miaền Nam. Khi đọc thì không biết nên vui hay cười. Mời các bạn đọc.

Nhng ấn tượng ban đầu sau 30/4/1975

  1. Một anh sĩ quan quân Giải phóng lái xe tăng vào Sài Gòn ngày 30/4/1975, bỗng dừng lại hỏi người dân bên đường: “Dinh Độc Lập đi đường nào vậy chú?” Ơ hay, các anh đi cả ngàn km để đến đây rồi mà cái bản đồ thành phố không biết đọc hay là các anh đi đánh trận mà không cần bản đồ hả?
  2. Bộ đội vô quán cà phê kêu cà phê: “Cô cho ly cà phê nấu nồi trên cái cốc nhá.”
  3. “Kem ngoài Bắc ăn chả hết nên phải đem phơi nắng đấy.” Mấy anh bộ đội tưởng ”kem” là chả cá, thịt cá, có thể phơi khô. Miền Bắc thời đó ít ai được ăn kem nên không biết kem là gì.
  4. Bắt được người vượt biên: “Chúng mày đi đâu, trốn sang Mỹ à, bộ đội cụ Hồ sẽ giải phóng luôn Mỹ, chúng mày có chạy đằng trời.”
  5. 2 anh bộ đội vào nhà người thân chơi, cô chị mở cái quạt trần, ngay lập tức 2 anh bộ đội liền cầm súng và chửi “máy chém, chị định giết bọn em đấy hả?”
  6. Bệnh Viện Phụ Sản Từ Dũ sau Giải phóng được đổi tên thành “Xưởng Đẻ”. Nhưng sau này đã đổi tên lại vì thấy có gì đó không hay.
  7. Ngày xưa (sau 1975) lúc đó bộ đội không biết cái cầu tiêu là gì. Chuyện này tôi từng dạy và chỉ cho họ ngồi. Cầu tiêu đối với họ là hồ cá và rọng cá trong đó khi đi chợ về, giựt cầu một cái con cá đi luôn. Cứ đi tè và vệ sinh thì vào cuối hẻm mà làm tới! Mình phải dọn và chỉ cho một đám bộ đội vào chiếm những căn nhà lớn ở khu (hồ tắm Chi Lăng) chuyện nghĩ lại buồn cười và tội cho họ thật.
  8. “Cho chúng ông 1 ny… Sữa Hon-đa nhá! Khẩn trương nên lào…”
  9. “Nhà có phân thì đem ra hợp tác xã để trồng rau đấy nha.”
  10. Mấy anh sĩ quan bộ đội đi đâu cũng cầm theo cái máy radio để khoe, làm như nó quý giá lắm không bằng.
  11. Mấy anh bộ đội khi vào phòng vệ sinh thấy bồn cầu ngồi thì dùng đó để rửa tay, xong dội nước.
  12. Bộ đội khi tới Dinh Độc Lập thấy cái hồ nước liền tới hồ lấy nước rửa chân và múc uống. Nước đó không biết sạch hay dơ (bẩn). Có một bức ảnh rất nổi tiếng chứng minh sự kiện đó.

Bộ Đội Cù Lần

Sau khi cưỡng chiếm Miền Nam! Bọn cán bộ cù lần khí phách kẻ thắng, lang thang đầy đường.. Thấy con gái Miền Nam bèn chọc ghẹo. Hai cô đi trước. Các cán.. lẻo đẽo theo sau buột miệng nói:
”Con gái Miền Nam đẹp thế nhỉ! Đít lại có gân.. cười hí..hí… (đường ren của quần lót)”
Một cô nói:
“Đồ.. bộ đội cù lần.”
”Khiếp.. dân Miền Nam hay nói tiếng ngọai quốc thế nhỉ!”
”Cù lần là tiếng Miền Nam, chứ đâu phải tiếng ngoại quốc.”
”Thế các cô có thể bảo cho chúng tôi biết, cù lần nghĩa là gì được không hả?”
”Ấy chết! Đừng nói. Nói nó cho ở tù đó!”
Đang lúng túng để tìm câu đấu khẩu. Một cô nhanh trí, dí dõm nói:
”Cù lần là đẹp giai ấy!..”
”Ớ giời! Thế thì ngoài Bắc các anh.. đa số là cù lần.. khối ra!?…”
Các cô bụm miệng, không nhịn cười được.. bỏ chạy toáng…

Vượt mặt Mỹ

Sau ngày 30-4-1975; hai anh em, một Nam một Bắc gặp lại sau bao nhiêu năm xa cách cùng nhau ra quán nhậu lai rai. Anh cán bộ miền Bắc nói:
”Nay hòa bình rồi, nước ta XHCN là đỉnh cao trí tuệ và trong một ngày rất gần sẽ tiến mạnh và vượt xa các nước trên thế giới, vượt qua cả Mỹ nữa.”
Anh miền Nam ở Sài-gòn nói:
”Ấy, đừng nên vượt qua mặt Mỹ, chỉ nên đi ngang hàng thôi.”
Anh cán bộ miền Bắc hỏi:
”Tại sao lại không vượt qua mặt mà chỉ đi ngang hàng thôi, khờ thế!”
Anh Sài Gòn nói:
”Nếu vượt qua mặt Mỹ, Mỹ nó thấy quần mình rách đít.”

Chuyện của năm 1975

Khi thấy các chú lính miền Bắc vục mặt vào bồn nước công cộng rửa ráy tay chân, mặt mũi và lấy nước đó để nấu cơm, thì một người dân Sài Gòn mới nói:
”Các chú ơi, nước ở đây dơ lắm, mấy năm nay lo đánh đấm chạy trốn nên không ai thay nước cả, các chú hãy vào nhà dân mà tắm rửa và xin nước nấu ăn cho sạch sẽ.”
Bị xấu hổ quá nên các chú ấy liền chạy vào nhà dân xin tắm rửa, nhưng khốn nỗi bước vào toilet của người dân bị Mỹ giày xéo không có thùng nước nào vì toàn dùng vòi labô các chú ngoài Bắc đâu thèm xài những thứ này, cả lũ đang đứng tần ngần, một chú chỉ cái bồn cầu bệt hét to:
”Đ*t mẹ, có cái giếng mà cũng đé* có tiền đào cho to ra mà dùng, ai mà đào được một tý thế này.”
Chú khác nói:
”Người ta bị áp bức, bóc lột nên không có tiền, thôi có nước rồi anh em lại thay nhau tắm rửa rồi đi nấu ăn.”
Nói xong anh ta đi lại bồn cầu, vục mặt xuống lấy nước ở đáy bồn cầu tạt lên mặt rửa ráy, xong còn làm một vốc bỏ vào miệng súc miệng, rồi làm ực một cái nuốt hết nước rồi đứng lên đi ra để nhường cho một người khác đang đứng chờ.

Sự tích “lê máy chém khắp miền Nam”

Còn nhớ khi các anh bộ đội cụ Hồ vào miền Nam lần đầu tiên thấy người dân người ta mở quạt trần, các anh hết hồn la toáng lên là máy chém, có anh đang đứng thấy quạt quay vù vù sợ quá chui cả vào gầm giường để nấp máy chém.
Tếu hơn là khi bộ đội cụ Hồ lần đầu tiên uống Coca Cola… thấy “Phỏng Giái quân” tràn vào nhà, ko biết là có bắt bớ hay tịch thu nhà cửa gì ko; dân miền Nam ai cũng nơm nớp trong lòng, cho nên vừa thấy bộ đội vào là lấy Coca ra ngay để mời các anh cu Hồ giải khát. Lúc bật nắp, nghe thấy tiếng xì xì các anh cứ tưởng lựu đạn lại nhẩy vào gầm giường nấp quả lựu đạn (Coca Cola).
Đấy, Mỹ nó lúc đi rồi mà còn để máy chém chạy đầy nhà dân miền Nam, làm bộ đội ta phải nấp gầm giường… cho nên sau này đảng ta đã thuật lại đúng y chang là “Mỹ – Diệm lê máy chém khắp miền nam”.

Sưu tầm bởi: Ku Búa
Biên Soạn: Ku DXD
19/4/2015

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2015

Nhận thức và những giải pháp cụ thể cho vấn đề “hòa hợp dân tộc” ở Việt Nam hiện nay


Nhận thức và những giải pháp cụ thể cho vấn đề “hòa hợp dân tộc” ở Việt Nam hiện nay

bauxitevnWed 11:42 PM


Nguyễn Trọng Bình
Trước hết phải nói rằng, thực hiện bài viết này bản thân tôi luôn ý thức đây là vấn đề rất khó khăn và phức tạp vì đã được nhiều nhân sĩ, trí thức trong và ngoài nước bàn bạc, thảo luận suốt 40 năm qua nhưng nhìn chung vẫn là một sự bế tắc. Vì lẽ đó, hoàn toàn không có ý “múa rìu qua mắt tiều phu”, tuy nhiên, nếu vì thế mà bản thân không dám nói ra những điều mình nghĩ thì chẳng khác gì đang lừa dối chính mình? Thật khó chịu và bứt rứt vô cùng nếu cứ phải sống trong tâm trạng như vậy.
I. NHẬN THỨC CHUNG
Lâu nay khi bàn đến vấn đề “hòa hợp dân tộc”, nhiều người chủ yếu chỉ quan tâm đến chuyện làm sao để hàn gắn những “vết thương lòng” từ cuộc chiến hai mươi năm (1954-1975) giữa “bên thắng cuộc” và “bên không thắng cuộc”. Cụ thể, đó là làm sao hóa giải lòng thù hận giữa một bên là những người đang nắm quyền lãnh đạo, điều hành đất nước (cũng là đại diện còn sót lại hoặc là “hậu duệ” trực tiếp của “bên thắng cuộc”) và một bên là phần lớn kiều bào đã, đang (buộc) phải tha hương, lưu lạc khắp nơi trên thế giới – đại diện cho “bên không thắng cuộc”từ sau ngày 30/4/1975 cho đến nay. 
Tuy vậy, trong cái nhìn của riêng tôi thì ngay lúc này đây vấn đề “hòa hợp dân tộc” ở Việt Nam còn một chuyện vô cùng cấp bách và quan trọng khác, đó là phải làm sao kết nối và ổn định lại lòng dân trong nước. Bởi, hiện nay có thể thấy, sợi dây liên hệ giữa Đảng, Nhà nước VN với đại bộ phận nhân dân đang ngày một trở nên căng thẳng và mong manh hơn bao giờ hết. Người dân phần đông tuy không trực tiếp nói ra  (hoặc đã rất nhiều lần nói ra trong một không gian và hoàn cảnh kín đáo của riêng họ) nhưng nếu chịu khó quan sát biểu hiện, thái độ của họ trong cuộc sống sẽ thấy họ đang vô cùng hoang mang và thất vọng nếu không muốn nói bất mãn và hoàn toàn mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền. Vì vậy, nếu không chú ý vấn đề này và tìm cách hóa giải nó thì tình hình đất nước sắp tới đây sẽ rất nguy hiểm. 
Từ đây, về mặt nhận thức chung, tôi cho rằng trước hết Đảng, Nhà nước Việt Nam phải dũng cảm đối mặt với hai vấn đề trên; đồng thời phải nghiêm túc tự kiểm điểm vì sao đã 40 năm rồi nhưng chuyện “hóa giải hận thù” giữa hai bên “thắng cuộc” và “không thắng cuộc” vẫn không có tiến triển gì đáng kể; và tại sao giờ đây lòng dân ngày một thêm bức bối, “không yên”? Tất cả sự kiểm điểm này phải trên nền tảng của sự chân thành và chủ động đối thoại với mọi tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước chứ không chỉ “độc thoại một chiều” như thời gian qua. 
Và để có cơ sở pháp lý vững chắc cho vấn đề này, Đảng, Nhà nước Việt Nam cần nhanh chóng ra một bản Nghị quyết mới cho vấn đề “hòa hợp dân tộc”, phù hợp với điều kiện và tình hình mới hiện nay. Phải xem đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu của đất nước và dân tộc trong một vài năm tới. 
II. NHẬN THỨC VÀ GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ HÀN GẮN “VẾT THƯƠNG CHIẾN TRANH” VỚI ĐỒNG BÀO NGOÀI NƯỚC
Về chuyện này, rõ ràng ai cũng thấy đã 40 năm trôi qua, thế nhưng, những “vết thương lòng” do cuộc chiến hai mươi năm (1954-1975) gây ra cho cả “bên thắng cuộc” và “bên không thắng cuộc” vẫn chưa hoàn toàn “ráo mủ”. Công bằng mà nói, thời gian qua “bên thắng cuộc” không phải không có những bước đi, những động thái nhằm hàn gắn và xoa dịu “vết thương” này. Tuy vậy, nhìn chung những động thái này là chưa đủ và tiến độ thực hiện thì không những rất chậm mà còn rất qua loa; trong từng việc làm cụ thể vẫn chưa cho thấy một thái độ cầu thị và chân thành nhất; có vẻ như chỉ có một số ít người thật lòng muốn hàn gắn “vết thương” chiến tranh nhưng tiếc thay tiếng nói của họ lại không đủ “trọng lượng”... 
Từ đây, tôi cho rằng để tạo ra bước ngoặt nhằm hóa giải, chữa lành vĩnh viễn “vết thương lòng” cho cả hai bên, trước hết “bên thắng cuộc” nhất định phải gạt bỏ những suy nghĩ bảo thủ và định kiến hẹp hòi đặc biệt là suy nghĩ “thắng làm vua” nên muốn nói gì thì nói mà không thèm quan tâm đến cảm nhận của bên “không thắng cuộc”... 
Trên tinh thần như vậy, tôi mạo muội đề xuất 5 nhóm giải pháp cụ thể cho vấn đề này như sau: 
1. NHÓM GIẢI PHÁP THỨ NHẤT
Thành lập ban chỉ đạo về vấn đề hàn gắn, hóa giải hận thù, hòa giải dân tộc (có sự tham gia của đại diện “bên không thắng cuộc”) nhằm đánh giá khách quan trung thực tất cả các vấn đề đã làm được và chưa làm được kể từ sau khi nước nhà thống nhất đến nay. Từ đó tham mưu, đề xuất những chính sách cụ thể nhằm chào đón tất cả các thế hệ người Việt trên khắp năm châu bốn biển trên tinh thần gác lại quá khứ, tôn trọng sự khác biệt, không nghi kỵ, không kích động thù hận để cùng chung tay xây dựng một Việt Nam thịnh vượng, hùng cường trong tương lai.
2. NHÓM GIẢI PHÁP THỨ HAI
Đảng, Nhà nước Việt Nam cần chấm dứt những hoạt động tuyên truyền một chiều liên quan đến lịch sử về cuộc chiến giữa hai miền Nam – Bắc giai đoạn từ 1954 đến 1975 trên tất cả các phương tiện truyền thông trong dịp 30/4 hàng năm. Bởi đây là nguyên nhân chủ yếu làm cho cái hố ngăn cách giữa hai bên ngày một trầm trọng hơn.
Theo quan sát của tôi, mỗi năm từ tháng 3 dương lịch trở đi thì trên khắp các phương tiện truyền thông cả nước (báo in, báo mạng, các truyền hình từ trung ương đến địa phương) lại đồng loạt mở màng “chiến dịch” tuyên truyền về “đại thắng mùa xuân năm 1975” bằng cách cho phát đi phát lại những bộ phim tài liệu với nội dung và quan điểm, góc nhìn rất lạc hậu, cũ kỹ. Đặc biệt có nhiều bộ phim, bài báo chỉ thuần ngợi ca, kể lể một chiều về vô số những “chiến công oanh liệt của quân và dân ta”  đồng thời không quên lên án “tội ác của địch” trong sự hả hê, khoái chá mà không nghĩ gì đến tâm trạng và nỗi niềm của người “anh em” bên kia chiến tuyến.  
Ngoài ra, là vô số cuộc mít tinh lớn nhỏ được tổ chức rầm rộ trên khắp cả nước nhằm mục đích “ôn lại truyền thống” và “giáo dục thế hệ trẻ về lòng yêu nước”. Theo tôi, trong hoàn cảnh hiện nay, đây là việc làm rất thiếu thiện chí nếu như lãnh đạo Đảng và Nhà nước hiện nay thực sự và quyết tâm muốn “hóa giải hận thù”, “hòa hợp dân tộc”. 
Thật ra, chúng ta có nhiều cách để tuyên truyền giáo dục lòng yêu nước cho lớp trẻ chứ không nhất thiết phải nói đi nói lại những vấn đề liên quan đến cuộc chiến này với quan điểm, góc nhìn, tâm thế và thái độ kỳ thị và hả hê, vui sướng như vậy. 
Còn nhớ sinh thời, Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng nói: “Lịch sử đã đặt nhiều gia đình miền Nam rơi vào hoàn cảnh có người thân vừa ở phía bên này, vừa ở phía bên kia, ngay cả họ hàng tôi cũng như vậy. Vì thế, một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là một vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm nó thêm rỉ máu”. Vì vậy, nếu không nhanh chóng thay đổi quan điểm trong việc tuyên truyền này thì câu nói“ngày 30/4 hàng năm có hàng triệu người vui nhưng cũng có hàng triệu người buồn” của Cố Thủ tướng Võ văn Kiệt sẽ không bao giờ được giải quyết trong tình đoàn kết, yêu thương, máu mủ, ruột rà...
Trước đây, có ý kiến đề nghị Đảng, Nhà nước Việt Nam không nên tổ chức lễ kỷ niệm ngày 30/4 hàng năm, tuy vậy với quan điểm cá nhân, tôi cho rằng chúng ta cần phải tổ chức lễ kỷ niệm này nhưng là tổ chức với tinh thần như sau: 
Thứ nhất, trong hoàn cảnh “hai bên” còn tồn tại nhiều quan điểm khác biệt về cuộc chiến này, cách tốt nhất là hãy tạm thời gác nó lại, để cho lịch sử và thế hệ cháu con đời sau nhìn nhận và phán xét. 
Thứ hai, chúng ta chỉ nên làm sao để tất cả đồng bào trong và ngoài nước hiểu ngày 30/4/1975 là ngày kết thúc cuộc chiến giữa hai miền Nam - Bắc; là ngày giang sơn Việt Nam đã thu về một mối; dân tộc được sum họp một nhà. Chỉ vậy thôi và không bàn tán gì thêm nữa nhằm tránh cho những vết thương của cả hai bên không bị nhầy nhụa thêm ra.
Và để tránh những mâu thuẫn liên quan đến vấn đề gây tranh cãi hiện nay là: “ai giải phóng ai?”sau ngày 30/4/1975, tôi đề nghị Đảng Nhà nước tạm thời không sử dụng câu “Ngày 30/4/1975 là ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước” để tuyên truyền nữa, mà thay vào đó là câu: “Ngày 30/4/1975 là ngày kết thúc chiến tranh giữa hai miền Nam - Bắc, thống nhất đất nước”. Vấn đề này cần ghi vào bản Nghị quyết về “Hòa hợp dân tộc” (như tôi đề cập ở phần “Nhận thức chung”)  để triển khai thực hiện trong toàn dân chúng. 
Thứ ba, nếu cần phải “ôn lại” truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của cha ông cho thế hệ mai sau thì chỉ nên “ôn lại” những bài học về 1000 năm chống giặc ngoại xâm phương Bắc đã được ghi lại trong sử sách và không có gì để tranh luận, bàn cãi... 
3. NHÓM GIẢI PHÁP THỨ BA
Cụ thể hóa ý tưởng xây dựng một nghĩa trang chung cho những người lính chưa xác định được danh tính của cả hai miền Nam – Bắc (cũng là ý tưởng và ước mơ của Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt trước đây). Tạo điều kiện, hỗ trợ cho các gia đình có người thân là những người lính miền Nam đã hy sinh trong chiến tranh đến nay cũng chưa tìm được hài cốt giống như việc hỗ trợ các gia đình có người thân là những người lính ở miền Bắc. 
Nói cho cùng thì trong cuộc chiến trước đây, những người lính không may đã ngã xuống ở cả hai bên tham chiến, tất cả họ đều là những công dân yêu nước. Có điều do hoàn cảnh xã hội, do thời cuộc nghiệt ngã nên mỗi bên đã ra sức chiến đấu và phụng sự cho quan điểm và lý tưởng riêng mà họ theo đuổi. Giờ thì tất cả đã không còn nữa thì hà cớ gì chúng ta - những người còn sống đây cứ kỳ thị, phân biệt “lính Quốc gia” hay “lính Cộng sản”?  
Nếu làm được điều trên, tôi tin là những người Việt (nhất là kiều bào ở khắp nơi trên thế giới) có thân nhân là những người lính miền Nam đã tham chiến và hy sinh sẽ vô cùng vui sướng. Và đây mới thật sự là nét đẹp văn hóa ngàn đời của dân tộc:“nhiễu điều phủ lấy giá gương/người trong một nước phải thương nhau cùng...”
Nhân đây, tôi cũng đề nghị cho tạc vào tượng đài “Mẹ Việt Nam anh hùng” ở Quảng Nam hiện nay bốn câu thơ như sau:
“Mẹ chẳng biết trong những đứa con của bà
Đứa nào là quốc gia, đứa nào là cộng sản
Mẹ chỉ biết có những buổi chiều rất tím
Và máu thằng anh cũng đỏ như máu thằng em!”
Đây là  4 câu thơ tôi tình cờ đọc được trong quyển “Khi tựa gối khi cúi đầu”của GS Cao Huy Thuần khi ông bàn về chuyện “hòa hợp dân tộc” cách đây đã khá lâu. Cho dù tượng đài Mẹ VN anh hùng hiện nay được Đảng và Nhà nước Việt Nam xây dựng lấy cảm hứng từ nguyên mẫu là mẹ Nguyễn Thị Thứ ở Quảng Nam (có 11 người con, cháu thuộc “bên thắng cuộc” đã hy sinh trong chiến tranh) nhưng ai cũng biết ý nghĩa của việc xây dựng tượng đài này là nhằm dựng nên một biểu tượng về một bà mẹ VN chung cho cả dân tộc. Vì vậy, theo tôi, bốn câu thơ trên không những thể hiện rất rõ tinh thần hóa giải hận thù mà còn là một bài học rất có ý nghĩa cho thế hệ con cháu mai sau về tấm lòng, sự yêu thương, đức hy sinh của người Mẹ Việt Nam; đồng thời cũng là bài học về tình ruột rà máu mủ: “Khôn ngoan đối đáp người ngoài/ Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”!
4. NHÓM GIẢI PHÁP THỨ TƯ
Việc biên soạn SGK, giáo trình các môn khoa học xã hội (đặc biệt là lịch sử, văn học) để giảng dạy cho học sinh, sinh viên liên quan đến giai đoạn 1954-1975 phải trên tinh thần nhân văn, nhân ái; không nhằm mục đích tuyên truyền một chiều kiểu “địch thua, ta thắng”, “địch tàn bạo dã man, ta nhân hậu, anh hùng”... mà phải làm sao cho giới trẻ hiểu sự tàn khốc của chiến tranh từ đó biết quý trọng, gìn giữ những phút giây hòa bình, yên ổn của đất nước. Phải làm sao cho thế hệ trẻ hiểu rằng, người Việt Nam, dân tộc Việt Nam chỉ có một kẻ thù duy nhất là bọn xâm lược ngoại bang chứ không có kẻ thù nào khác. “Anh em trong nhà” tuy có lúc rầy rà và xảy ra “va chạm” nhưng mãi mãi vẫn là “anh em” chứ không phải là kẻ thù. 
Những người viết sử hôm nay không nên tiếp tục gieo vào đầu thế hệ mai sau những hạt mầm định kiến, sự hẹp hòi, nhỏ nhen, ích kỷ mà phải làm sao vun đắp, nuôi dưỡng lòng bao dung và nhân ái. Lịch sử dân tộc cho thấy, người Việt đã từng rất bao dung với chính những kẻ thù mang quân xâm lược và giày xéo quê hương mình thì không có lý do gì người Việt hôm nay lại thiếu sự bao dung với nhau...
          Nhất định những bài học lịch sử liên quan đến giai đoạn đau thương này của dân tộc và đất nước phải được nhìn lại, viết lại với tinh thần như thế.
5. NHÓM GIẢI PHÁP THỨ NĂM
Muốn “hóa giải hận thù”, “hòa hợp dân tộc” thật sự thì cả hai bên phải chân thành và “có qua có lại”. Vì thế, ở đây (hoàn toàn không có ý “lên lớp” hay “dạy đời”), tôi cho rằng về phía “bên không thắng cuộc” cũng nên “chín bỏ làm mười” nếu như “bên thắng cuộc” đã chủ động thể hiện sự chân thành để hòa giải. Bởi lẽ, nếu người ta đã chân thành chìa tay ra nhưng anh kiên quyết từ chối không chịu bắt thì cũng không thể trách người ta mãi được. 
Ngoài ra, thiết nghĩ “bên không thắng cuộc” cũng không nên vì chuyện yếu kém của “bên thắng cuộc” trong lãnh đạo điều hành đất nước 40 mươi năm qua để rồi khước từ cái bắt tay “hóa giải hận thù” trong sự nghi kỵ hoặc công kích bằng những lời lẽ nhiều khi cũng rất cực đoan, thô bạo. Bởi nói cho cùng đây là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau nên cần có sự rạch ròi để tìm ra giải pháp chứ không nên đánh đồng để rồi cuối cùng chẳng có vấn đề nào được giải quyết rốt ráo. Có câu “chúng ta không thể giải quyết vấn đề nào đó bằng nhận thức sai lầm của chính những kẻ đã gây ra ra nó”.
Tóm lại, trong vấn đề này nếu một trong hai bên không chân thành, không tôn trọng sự khác biệt của nhau thì chắc chắn mọi giải pháp sẽ chỉ là mớ “lý thuyết màu xám” không hơn không kém.
III. VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG LẠI NIỀM TIN VÀ ỔN ĐỊNH LÒNG DÂN TRONG NƯỚC
Đây là vấn đề mà tôi tin là Đảng, Nhà nước VN hiện nay đã nhìn thấy từ lâu. Tuy vậy, dường như đang có tâm lý chủ quan thậm chí cố tình “bưng tai giả điếc” của không ít người nên họ vẫn chưa nhìn thấy nguy cơ“tức nước vỡ bờ” hay “con giun xéo lắm cũng oằn”... trong dân chúng hiện nay. 
Hãy nhìn vào sự thất vọng và mất niềm tin của người dân Thủ đô với lãnh đạo chính quyền Hà Nội trong vụ đốn hạ cây xanh vừa qua thì biết. Theo tôi, qua vụ việc này (nhất là khi người dân tự giác xuống đường tuần hành để phản đối), lãnh đạo, chính quyền hiện nay sẽ không còn cơ sở nào để nói “đây là chiến lược diễn biến hòa bình của những thế lực thù địch đang điên cuồng chống phá ta”như mọi khi. Và cũng xin đừng đổ oan cho giới truyền thông, báo chí “chính thống” đã “chuyện bé xé ra to”. Trong chuyện này, tôi tin là ngoài tư cách của một nhà báo thì với tư cách là một công dân, những người cầm bút chân chính trong giới truyền thông “chính thống” hiện nay đã không cho phép lương tâm họ làm ngơ và tiếp tục im lặng để bị mang tiếng là “kén chọn đề tài” hay thậm chí là “hèn nhát”,... Do tính chất đặc thù của nghề báo, họ phải đi nhiều, tiếp xúc nhiều, tận mắt chứng kiến nhiều cảnh bất công, ngang trái của xã hội nhưng vì miếng cơm manh áo đôi khi họ buộc phải nhắm mắt làm ngơ chứ không phải họ không biết trăn trở hay không có bức xúc về những điều “trái tai gai mắt”... 
Ngoài ra, nói cho cùng, vấn đề “lòng dân không yên” vốn có quan hệ mật thiết với phẩm chất và đạo đức của những người lãnh đạo và nắm quyền điều hành đất nước hiện nay. Đây là điều mà cụ Nguyễn Trãi đã đề cập cách nay đã mấy trăm năm:
“Việc nhân nghĩa cốt ở an dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”.
Nói cách khác, nguyên nhân cốt tử của vấn đề“lòng dân không yên” trước hết là do nhiều lãnh đạo hiện nay ở Việt Nam không có tấm lòng nhân nghĩakhông biết và không chịu“trừ gian diệt bạo” cho dân. Không những vậy, nhiều kẻ còn biến chất, sa đọa, làm quan chỉ với mục đích duy nhất là chứng tỏ uy quyền và “đè đầu cưỡi cổ”“ăn không chừa một thứ gì” của dân... 
Vì vậy, nếu lãnh đạo Đảng và chính quyền hiện nay không nhanh chóng sửa đổi để củng cố và xây dựng lại niềm tin trong nhân dân thì đừng mong gì chuyện “nội lực dân tộc”, “nội lực quốc gia” sẽ mạnh thêm lên; đừng mong gì một sự phát triển bền vững và ổn định của đất nước trong tương lai,... Không chỉ vậy, về lâu dài nếu “lòng dân cứ mãi không yên” thì chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra! 
Từ đây, tuy chưa thể gọi là giải pháp cụ thể nhưng về mặt ý tưởng (có thể ít nhiều trùng lắp với nhiều người đã lên tiếng trước đây) tôi cũng mạo muội nêu lại số vấn đề mang tính nguyên tắc nhất định Đảng và Nhà nước hiện nay phải thực hiện nếu muốn ổn định lòng dân để “hòa hợp dân tộc” như sau:
1. Thứ nhất: Thay đổi cách tư duy về thể chế chính trị hiện nay; từng bước xóa bỏ tư tưởng độc quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng nhằm phát huy tinh thần tự do, dân chủ thật sự cho mọi tầng lớp nhân dân trên tất cả các phương diện của đời sống, xã hội. Cần phải tạo cơ chế và một hành lang pháp lý thật cụ thể để người dân được nói ra tất cả những gì họ nghĩ chứ không phải chỉ được phép nói và nghĩ “trong những điều Đảng nghĩ” . Hay nói như cố nhà văn Nguyễn Khải là “người dân có cái đầu để suy nghĩ nhưng cũng bị trưng thu luôn”.
Nhân đây, cũng nói thêm là lâu nay nhiều người trong Đảng khi nghe dân chúng đề cập đến chuyện “xóa bỏ tư tưởng độc quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng” là lập tức nổi nóng và quy chụp bằng nhiều hình thức rất nặng nề. Trường hợp nhà báo Nguyễn Đắc Kiên bị sa thải mấy năm trước là một ví dụ điển hình nhất cho vấn đề này. 
Ai đời sống trong một xã hội “tự do”,“công bằng, “dân chủ”, “văn minh” nhưng chỉ vì bày tỏ quan điểm cá nhân qua một bài viết (trên trang blog cá nhân) mà số phận một con người lập tức bị thay đổi theo hướng không thể nào chua chát và lố bịch hơn? Thử hỏi, còn gì giả dối hơn khi một mặt anh cứ hô hào, kêu gọi người dân góp ý, bày tỏ chính kiến của mình nhưng khi họ bày tỏ thì anh lại quy kết họ “phản động”, “chống phá” hay thậm chí xem họ như kẻ thù cần phải tiêu diệt? Về nguyên tắc, một khi người ta góp ý, anh có quyền nghe hoặc không nghe nhưng anh không được tùy tiện quy chụp họ này nọ. Và kinh khiếp hơn nữa là không chỉ cá nhân họ bị quy chụp mà gia đình họ cũng bị liên lụy là sao? 
Từ đây, với quan điểm cá nhân, tôi cho rằng, xóa bỏ tư tưởng độc quyềncủa Đảng trước hết là phải trả Đảng về đúng với vị trí của Đảng. Đồng ý hiện nay Đảng đang nắm quyền lãnh đạo duy nhất nhưng nói cho cùng đất nước đang trong thời bình, Đảng cũng chỉ là một tổ chức chính trị bình thường. Vì thế, Đảng không thể đứng trên pháp luật (cao nhất là Hiến pháp) và càng không thể đứng trên Tổ quốc. 
Dân số Việt Nam hiện nay khoảng 90 triệu người trong đó có khoảng 4 triệu Đảng viên thế nhưng suy nghĩ của 4 triệu Đảng viên này lại quyết định suy nghĩ và số phận của 86 triệu người còn lại thì về lý thuyết không thể nói đây là sự hòa hợp hay thống nhất giữa “ý Đảng lòng dân” được (nếu chưa có một cuộc trưng cầu dân ý khoa học và nghiêm túc). Phải nói đây là sự bất công, sự duy ý chí và áp đặt thô bạo của 4 triệu người trong Đảng lên 86 triệu dân chúng ngoài Đảng thì đúng hơn. 
Cho nên, theo tôi để xóa bỏ tư tưởng độc quyền này việc quan trọng nhất là phải triệt để thay đổi về tư duy và nhận thức để có một nền tư pháp độc lập.
Bên cạnh đó cần rà soát để sửa đổi tất cả những quy định pháp luật đi ngược lại với những điều đã ghi trong hiến pháp về quyền con người, quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do biểu tình, lập hội... Song song với đó là xóa bỏ tư tưởng về “chủ nghĩa lý lịch” cùng những “quy định ngầm” phải là Đảng viên mới được ứng cử hay được phân công, bổ nhiệm nắm giữ những chức vụ lãnh đạo trong bộ máy Nhà nước. 
Làm được điều này ngoài chuyện góp phần cụ thể hóa quyền tự do, dân chủ thật sự của người dân điều quan trọng hơn là khuyến khích người tài tham gia vào bộ máy công quyền để phụng sự cho đất nước; góp phần khắc phục và xoa dịu nỗi bất bình, bất mãn của đại bộ phận người dân hiện nay (nhất là giới trẻ) trong vấn đề tìm việc làm trong bộ máy công quyền (hệ lụy của vấn đề lý lịch và “con ông cháu cha”). 
2. Thứ hai: Đảng, Nhà nước Việt Nam phải chân thành nhìn nhận một cách khách quan và trung thực để thay đổi và phát huy vai trò của lực lượng báo chí truyền thông “chính thống” trên tinh thần từng bước tháo dỡ những rào cản về kiểm duyệt, tiến tới tư nhân hóa hoạt động báo chí. Trong xu thế hiện nay, nếu cứ tiếp tục đặt ra những rào cản để hạn vế vai trò và tiếng nói của lực lượng báo chí chẳng khác nào Đảng, Nhà nước đang tự “vẽ nhọ bôi hề” vào mặt mình.
Trước năm 1945, đất nước bị cai trị bởi chủ nghĩa thực dân thế nhưng người dân cũng không bị chính quyền thời ấy “cấm mở miệng” với mức độ khắt khe và nghiệt ngã như bây giờ. Bằng chứng là, thời ấy, tuy cũng kiểm duyệt nhưng chính quyền thực dân lại cho phép tư nhân hóa báo chí vì vậy mà báo chí thời ấy phát triển rất rầm rộ và thoải mái. Chính nhờ vậy mà tư tưởng Marxism trên thế giới mới có điều kiện xâm nhập và len lỏi vào suy nghĩ của người dân, sau đó nhiều người đã chân thành, tự nguyện đi theo tiếng gọi của Đảng, đứng lên “đánh Tây, đuổi Nhật” giải phóng dân tộc.
Trong cái nhìn so sánh, đất nước đã được độc lập 40 năm và so với trước đó đã gần một thế kỷ vậy mà (như nhiều người nói vui) cả nước hiện nay có mấy trăm cơ quan báo chí truyền thông nhưng chỉ có một ông “tổng biên tập” duy nhất (ông “Trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương”) thì thử hỏi đây là bước sự tiến bộ hay thoái bộ trong vấn đề tự do tư tưởng, tự do ngôn luận?
Tóm lại, đã đến lúc Đảng, Nhà nước hiện nay phải tự phản tỉnh chứ không nên tiếp tục ngụy biện theo kiểu “cả vú lấp miệng em” bằng cụm từ sáo rỗng “tự do trong khuôn khổ” để rồi thủ tiêu vai trò quan trọng của báo chí “chính thống” trong vấn đề tham gia đấu tranh phòng chống tham nhũng; hay vạch trần sự hách dịch, cửa quyền, sa đọa của các quan chức lãnh đạo trong bộ máy công quyền trong quan hệ với nhân dân. 
3. Thứ ba: Đảng, Nhà nước cần xác định những nhóm vấn đề đang gây nhiều bức xúc, bất mãn nhất trong dân hiện nay để tháo gỡ trên tinh thần đặt quyền lợi của người dân lên trên hết. Trong cái nhìn này, theo tôi hiện nay có 3 nhóm vấn đề cần phải được nhanh chóng giải quyết đó là: 
Một, vấn đề quan hệ với Trung Quốc trong tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông; hai, vấn đề chống tham nhũng và ba, vấn đề thu hồi đất của nhân dân trong các dự án phát triển kinh tế, xã hội.
Có thể nói, đây là 3 vấn đề gây bức xúc và mất niềm tin nhất của nhân dân hiện nay. Nếu như  ở vấn đề thứ nhất, người dân hoặc là mù tịt hoặc rất mơ hồ vì Đảng, Nhà nước gần như chỉ mới “he hé” cho nhân dân về chiến lược đối phó với sự bành trướng và hung hăng của Trung Quốc thì hai vấn đề còn lại chủ yếu chỉ nói và hô hào chứ thực làm thì chẳng được bao nhiêu. Để tháo gỡ những vấn đề này, tôi đề nghị những cách làm sau:
Về chuyện quan hệ và đấu tranh với Trung Quốc về chủ quyền ở Biển Đông, điều quan trọng nhất là phải dựa vào ý chí và nguyện vọng của 90 triệu dân chứ không phải ý chí và nguyện vọng của 4 triệu Đảng viên; phải triệt tiêu quan điểm “yêu Đảng là yêu nước và ngược lại” hay “mọi chuyện đã có Đảng và Nhà nước lo”... Bên cạnh đó, phải tuyệt đối tôn trọng và nhất là không được trù dập những người yêu nước vì không cùng quan điểm và suy nghĩ với Đảng. Điều này không những làm cho họ bất mãn mà còn nhụt chí khi Tổ quốc đứng bên bờ nguy khốn.
Về vấn đề chống tham nhũng: Người dân giờ đây hay nói vui rằng việc chống tham nhũng ở Việt Nam chẳng qua là chuyện “quan tham cấp cao xử quan tham cấp thấp”, hoặc không cũng là những chiêu trò “câu giờ” để “lờ” đi những vụ việc vụ liên quan đến những cán bộ cấp cao, đặc biệt là những người trong Đảng. Hãy thật lòng trao đổi với nhau về chuyện “tấm ảnh oan nghiệt” liên quan đến ông nguyên Tổng Bí Thư vừa rồi. Nói cho cùng, ngoài chức vụ trong Đảng (và đã về hưu) ông ấy cũng là một công dân bình thường như mọi công dân khác trên đất nước Việt Nam thế thì tại sao khi có “dư luận không hay” về tài sản khủng nhưng không thấy pháp luật sờ gáy? 
Cho nên, nếu thật sự quyết tâm chống tham nhũng thì trước hết Đảng, Nhà nước phải biết xấu hổ về điều này nếu không sẽ không bao giờ “ổn định được lòng dân”. Đặc biệt theo tôi, dứt khoát phải xây dựng một nền tư pháp độc lập, có như vậy mới xử lý được tội phạm tham nhũng bất kể người đó là ai. Ngoài ra, tôi đề nghị cần nghiên cứu đưa vào bộ luật hình sự xem tham nhũng như là tội “chống đối và phá hoại đất nước”.
Về vấn đề thu hồi đất của dân: có thể nói trong vấn đề này, những người dân “sức yếu thế cô” bao giờ cũng là người thua cuộc và trắng tay do những quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ không những chồng chéo mà quan trọng hơn là thiếu sự minh bạch khi Nhà nước quy hoạch và thu hồi đất. Đây là điểm mấu chốt gây nên sự bất bình và phẫn uất của dân chúng.  
Để khắc phục vấn đề này, tôi cho rằng điều quan trọng nhất hiện nay là phải điều chỉnh lại cơ chế bồi thường hỗ trợ cho người dân có đất bị thu hồi dựa trên nguyên tắc: cho dù hiện nay luật quy định là“đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân” nhưng một khi Nhà nước đã công nhận và giao quyền sử dụng đất cho một cá nhân nào đó thì không có lý do gì Nhà nước lại áp đặt giá cả bồi thường mà không qua thương lượng với họ dù là với danh nghĩa nào đi nữa. 
Nói cho cùng, dù là dự án về an ninh quốc phòng hay các công trình công cộng (giao thông, bệnh viện, trường học...) thì tất cả đều là gián tiếp phục vụ cho lợi ích chung của toàn dân tộc hoặc một cộng đồng dân cư nào đó. Vì vậy, không có lý do gì một dự án mang lại lợi ích chung cho tất cả mọi người nhưng chỉ một số ít người dân phải “hy sinh” quyền lợi chính đáng và hợp pháp của họ. Và càng bất công hơn là những dự án liên quan đến vấn đề phát triển kinh tế của địa phương (như xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị, khu dân cư...) do Nhà nước giao cho các tổ chức, tư nhân làm chủ đầu tư nhưng lại can thiệp vào vấn đề giá cả bồi thường giữa người dân và chủ đầu tư ấy. 
Thực tế cho thấy, hầu hết các dự án như thế này đều bị chi phối bởi các “nhóm lợi ích”. Nói cách khác, đây chính là kẽ hở của luật đất đai hiện nay vô tình tạo điều kiện cho các “liên minh ma quỷ” giữa những cán bộ tha hóa, biến chất với những kẻ đầu cơ bất động sản nhằm trục lợi trên xương máu người dân. Thực lòng mà nói, nhiều người gọi đây là những “dự áncướp đất” của dân giữa ban ngày được thực hiện theo “đúng quy trình”và “phù hợp với quy định của pháp luật” cũng không có gì là quá đáng. Người dân vì thế, không “nổi khùng” và vùng lên chống đối chính quyền mới là chuyện lạ.
IV. THAY LỜI KẾT
Trong khi hoàn thành bài viết này, tôi biết ở ngoài kia - trên khắp các nẻo đường của đất nước đang tưng bừng chuẩn bị cờ hoa, băng- rôn, khẩu hiểu cho mùa kỷ niệm ngày 30/4 sắp đến. Thật lòng mà nói, trong những ngày này không hiểu sao (từ khi “hiểu chuyện” đến nay), bản thân tôi chưa bao giờ có được cái cảm giác được “hòa vào niềm vui và niềm tự hào chung của cả dân tộc” dù rằng không phải bản thân không nghĩ đến những điều mà vô số thế hệ cha anh đi trước đã làm cho đất nước để tôi ngồi viết những dòng hôm nay. 
Thử hỏi, vui sao được khi văng vẳng bên tai mình những ngày qua là vô số lời chửi rủa, lăng mạ, sỉ nhục giữa những người Việt với nhau trên các phương tiện truyền thông “chính thống” lẫn “không chính thống”? Bên thì tự cho mình là “anh minh”, “tài tình”, “sáng suốt” và chửi mắng anh, em mình là “bọn ngụy quân, ngụy quyền”,“bọn ôm chân Mỹ”, “các thế lực thù địch và phản động” còn một bên thì đáp trả lại: “Cộng sản là quái thai của thời đại”, “một lũ hèn nhát”, “lũ bán nước, dâng đất cho Tàu...”.Thử hỏi, 40 năm qua lòng người cứ ngày một phân tán và chia cắt như thì có gì mà vui và tự hào?
Không những vậy, đất nước hòa bình độc lập đã 40 năm rồi mà vẫn cứ loay hoay đi vay nợ nước ngoài để ăn, vẫn loay hoay làm sao để thoát nghèo chứ đừng nói gì đến chuyện “hóa rồng”! Đó là nói về kinh tế, còn văn hóa giáo dục thì ôi thôi, tất cả đều đang “xuống cấp” đến mức “chạm ngưỡng”, “chạm đáy” của sự tha hóa... Đất nước như thế thì phỏng có muốn vui cho giống thiên hạ cũng khó mà làm cho được. Có chăng cũng chỉ “vui là vui gượng kẻo là...” mà thôi! 
Tôi biết, khi nói ra tất cả những điều trên hẳn nhiều người sẽ khó chịu và không hài lòng hay thậm chí sẽ “ném đá” và quy chụp về “lập trường tư tưởng” này nọ. Thôi thì, sẵn đây tôi cũng xin nói luôn, trong cuộc sống tôi chỉ có một lập trường tư tưởng duy nhất đó là “chân thành, nhìn thẳng và nói thật”, nói nôm na như kiểu người Nam bộ là “có sao nói vậy người ơi!”. Nếu vì cái lập trường tư tưởng này mà bị người đời “ném đá” thì tôi cũng xin phép mượn một câu trong một bài hát của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn để gửi lại người đã “ném đá” mình như sau:
“...Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ!”
Cần Thơ, 13/4/2015
N.T.B.
Nguồn: