Bài đăng nổi bật

Bức tường Berlin (Phần 1): Nước Đức chia cắt

  Bức tường Berlin (Phần 1): Nước Đức chia cắt 12/08/2021 Nguyễn Thọ 12-8-2021 Vào ngày này cách đây 60 năm, đêm 12, rạng sáng ngày 13.08.19...

Thứ Hai, 1 tháng 11, 2021

Đường đi của tham nhũng

 

Đường đi của tham nhũng

Có thể nhiều bạn chưa hình dung được cơ chế của tham nhũng, xin ví dụ thế này cho dễ hiểu. Hồi còn đi dạy, tôi làm tổ trưởng chuyên môn của tổ Văn, do đặc thù trường chuyên nên một số “môn chính” quyền tuyển dụng giáo viên sẽ do tổ trưởng quyết.

Chúng ta đều biết để “xin” được vào một trường công lập, lại là trường chuyên thì không dễ, cái giá chạy việc ở nhiều nơi là rất cao, lên đến hàng trăm triệu như báo chí nêu nhan nhản. Nếu tham lam thì chỉ cần ở vị trí tép riu như tôi thôi, sau dăm năm là có thể giàu.

Ai giám sát được tôi? Về cơ bản là không ai cả, các giáo viên hiện có mặt trong tổ đều “dưới trướng” tôi, BGH hay người tổ khác thì không rành về chuyên môn, sao có thể danh chính ngôn thuận mà đánh giá được.

Cứ thế, nếu vì tiền mà tuyển dụng thì hậu quả sẽ thế nào? Thì tôi sẽ tuyển được một đội ngũ vừa kém về tư cách và chưa chắc đã ổn về chuyên môn, nếu không nói là dốt.

Hơn nữa, người ta sẽ nhìn nhau mà cư xử. Khi tôi tuyển dụng bằng tiền (hay quen biết, máu mủ) thì những người dù có năng lực nhưng không có tiền cũng đành chịu. Thế là họ phải lựa chọn, bước đầu tiên là đau đớn cất cái tư cách của mình vô một cái xó nào đó mà thường là ít khi lôi ra dùng lại nữa; tiếp theo là đi vay mượn hoặc bán đất đai để “xin việc”.

Vòng luẩn quẩn sẽ tiếp diễn. Giữa thời buổi đất chật người đông, có được một công việc là điều may mắn phúc đức, khi họ vào trường thì dù có thấy sai trái bất công cũng đành im để giữ chỗ đứng của mình. Rồi những thứ tệ lậu khác sẽ tiếp nối sinh ra, khi mà người ta đã bỏ tiền “đầu tư” thì phải thu hồi vốn và phải có lãi. Dạy thêm, lạm thu, rút ruột v.v. từ đây mà nảy nở.

Một cung cách tuyển dụng như thế hoặc chỉ tuyển được người kém cỏi hoặc sẽ hủy hoại luôn những người tử tế, và nó tạo thành một môi trường làm việc yếm khí: không đấu tranh, không cất tiếng; tệ bè phái, xu nịnh sinh ra. Những người tử tế sẽ chọn cách ra đi hoặc sống mòn, cơ quan thành nơi cho bọn người tồi tệ tung hoành. Mọi thứ cứ theo đó mà hủ bại dần.

Đây là bức tranh “xin việc” đang phổ biến hiện nay trong hầu khắp các lĩnh vực công. Một giáo viên được tuyển theo cách ấy thì chỉ làm hỏng một số học trò; nhưng nếu một ông quan cai quản cả một xã, một huyện, một tỉnh, một ngành mà nếu cũng theo cách ấy thì thử hỏi làm sao xã hội không bị phá nát cho được? (Ở điểm này tôi không đồng tình với ông Khổng tử khi ông ấy cho rằng làm thầy mới là hệ trọng nhất).

Cho nên, muốn thay đổi giáo dục (hay bất kỳ lĩnh vực nào thì cũng thế) phải bắt đầu từ việc làm trong sạch khâu tuyển dụng. Nếu không có được một cơ chế chọn người một cách khoa học, minh bạch, và một hệ thống đánh giá, giám sát khách quan có tính đối chọi thì mọi nỗ lực khác đều đổ sông đổ biển.

Làm sao để tôi không thể nhận tiền khi tuyển người? Về bản chất, nếu cấp trên tuyển thay cho cấp dưới thì cũng thế, không thay đổi được gì. Ví dụ, sở giáo dục đứng ra tuyển giáo viên rồi giao về cho trường thì tình hình còn tệ hơn. Vì đó là ngành dọc, vẫn là “trong nhà” bảo nhau. Nó không thể là một cách làm đáng tin.

Trước hết, một mình tôi không thể được quyền tuyển; một hội đồng mà toàn “phe tôi” thì cũng vô ích. Tại sao các trường ở nước ngoài có quyền phong giáo sư nhưng họ lại gửi hồ sơ của ứng viên cho các giáo sư ngoài trường chấm? Tại sao họ có các trung tâm khảo thí độc lập với nhà nước? Vì để đảm bảo tính khách quan, minh bạch, công bằng. Ta vừa tự tuyển, tư dùng, vừa tự kiểm tra, tự đánh giá, tự cất nhắc; trong khi chất lượng giáo dục thì “cha chung không ai khóc”. Tóm lại là người tuyển dụng không phải chịu trách nhiệm trước xã hội thì làm sao không mục nát cho được.

Như vậy, chỉ khi nào không còn tập quyền nữa, khi đó vấn đề mới được giải quyết. Cơ chế sinh ra tham nhũng, phải sửa cái cơ chế ấy, chứ không thể ra sức “đập ruồi trên bãi rác” mà được.

Lịch sử thường hay dẫm vào chính vết chân mình | Tiếng Dân

 

Lịch sử thường hay dẫm vào chính vết chân mình | Tiếng Dân

Ảnh chụp màn hình

Tôi rất nóng lòng muốn nói về cuốn sách của mình, về động cơ để tôi ngồi xuống viết ròng rã nhiều tháng trời, sau khi đã nghĩ về nó suốt cả chục năm. Tôi cũng muốn chia sẻ cơ duyên nào để nó đến được Đài Loan. Tôi còn muốn kể với các bạn những chuyện thú vị liên quan đến việc dịch cuốn sách, đã khiến tôi được khai sáng bởi các dịch giả như thế nào. Nhưng trước hết tôi muốn kể ngay một câu chuyện nhỏ có ý nghĩa rất lớn đối với cá nhân tôi và có lẽ với rất nhiều người Việt Nam quan tâm đến đất nước của các bạn, đến các giá trị tốt đẹp mà họ không ngừng chia sẻ.

Chuyện là thế này. Trong một buổi gặp mặt với bạn bè gồm các nhà văn, quan chức và luật sư, tôi hào hứng khoe với họ rằng, cuốn sách “Sống với Trung Quốc” của tôi, mặc dù không được cấp phép xuất bản tại Việt nam, nhưng đang được dịch sang hai thứ tiếng: tiếng Đài Loan và tiếng Trung Quốc, để xuất bản và phát hành rộng rãi ở Đài Loan. Tôi đã nói với các bạn tôi như vậy. Trước khi chúc mừng tôi, họ cùng bày tỏ sự ngạc nhiên. Thậm chí sau đó họ còn đồng loạt cười phá lên. Họ có nghe nhầm không? Họ muốn hỏi ngay rằng tôi có nhầm lẫn gì không khi thông báo như vậy.

Bởi theo họ, theo sự hiểu biết vẫn đang khá thịnh hành ở Việt Nam, thì làm gì có tiếng nói và chữ viết Đài Loan, để phân biệt với tiếng nói và chữ viết Trung Quốc! Họ lưu ý tôi Đài Loan chỉ là Trung Quốc thu nhỏ, sử dụng ngôn ngữ Trung Quốc. Họ bày tỏ sự hiểu biết một cách rất bác học rằng, Đài Loan chỉ khác Trung Quốc ở cách viết chữ Hán. Trung Quốc dùng lối viết giản thể, tức là lược bớt nét, còn Đài Loan thì vẫn giữ lối viết phồn thể truyền thống, tức là để nguyên đầy đủ các nét.

Lẽ dĩ nhiên là tôi đã mỉm cười thông cảm với các bạn tôi. Bởi chính tôi cũng đã nghĩ như họ suốt một thời gian dài, cho đến khi được đọc cuốn sách: “Đầu lưỡi và ngọn bút, lịch sử văn học tiếng mẹ đẻ Đài Loan” của Liêu Thụy Minh, bằng tiếng Việt. Bởi nhờ cuốn sách ấy mà tôi thay đổi hoàn toàn cách hiểu cũng như những đinh ninh của mình về Đài Loan. Vì thế, trước sự ngạc nhiên của bạn bè, tôi hoàn toàn tự tin như kẻ nắm chắc phần thắng! Tôi bèn từ tốn giải thích cho các bạn tôi, thực ra là phổ biến với họ một số kiến thức quan trọng mà tôi thu được qua công trình hợp tác vừa kể. Đến lượt họ há mồm kinh ngạc.

Hóa ra ngôn ngữ Đài Loan và ngôn ngữ Trung Quốc, tức tiếng Hoa, là hai thứ ngôn ngữ hoàn toàn khác nhau, hiện tại cùng được sử dụng trên lãnh thổ Đài Loan. Thậm chí, trước thế kỉ 15 như tôi đọc được từ cuốn sách, tiếng nói và chữ viết Đài Loan là ngôn ngữ bao trùm gần như tuyệt đối xứ Formosa, với hơn 90 % người sử dụng. Những ngôn ngữ khác, trong đó có tiếng Hoa, dù có lúc được dùng phổ biến, thực chất chỉ là sản phẩm của di dân và xâm lược.

Tôi hiểu thế, có gì chưa đúng, có gì còn hời hợt về mặt kiến thức và lịch sử, xin được các bạn lượng thứ và chỉ bảo.

Nhưng vấn đề không dừng lại ở chuyện ngôn ngữ của riêng Đài Loan, một lĩnh vực kiến thức mà tận giờ này tôi vẫn còn biết rất ít. Từ chỗ coi Đài Loan chỉ là một hòn đảo, nói tiếng Trung Quốc, nhận thức của tôi giờ đây: Trong lịch sử xa xưa, Đài Loan đã luôn là một quốc gia, hoàn toàn độc lập và bình đẳng, trên mọi phương diện, với bất cứ quốc gia nào. Ví dụ giờ đây tôi có thể hoàn toàn tự tin khi nói văn hóa Đài Loan, đặt nó một cách độc lập bên cạnh văn hóa Trung Quốc mà không sợ mình nói bừa. Vậy là chỉ thông qua một cuốn sách, mà biết bao suy nghĩ, kiến thức, định kiến của tôi về một vùng đất hoàn toàn thay đổi. Công lao này thuộc về những người dịch thuật và tôi rất biết ơn họ. Họ xứng đáng được vinh danh, được nhớ đến không chỉ trong ngày hôm nay.

Ảnh: FB tác giả

Và tôi bỗng thấy tiếc cho các bạn sao quá chậm trễ trong việc phổ biến ra thế giới những cuốn sách như tôi vừa kể. Tôi không biết lý do của sự chậm trễ này nằm ở đâu. Nhưng tôi mong nó nên được các bạn khắc phục càng sớm càng tốt. Chúng tôi từng lâm vào hoàn cảnh như các bạn, liên tục bị người láng giềng phương Bắc chèn ép về truyền thông khiến nhiều sự thật khi đến được với thế giới bị bóp méo, liên tục bị đe dọa, liên tục bị ngăn cản, liên tục bị làm khó dễ khi tiến hành bang giao với bạn bè…

Vì vậy hơn ai hết, chúng tôi hiểu sự quan trọng của công cuộc truyền bá văn hóa, truyền bá kiến thức, nhất là kiến thức về lịch sử của tiến trình phát triển mà mỗi quốc gia trải qua. Bằng vào những Hội nghị mang tầm quốc tế về dịch thuật được tổ chức chuyên nghiệp như thế này, các bạn đang nỗ lực làm rất tốt điều phải làm.

Không có sự nỗ lực ấy, sách của tôi đã không thể vinh dự được xuất hiện tại đất nước xinh đẹp và hiền hòa của các bạn. Và đây là điều thứ hai tôi muốn kể trong buổi giao lưu này và xin được các bạn thể tất lắng nghe.

Tình cờ tôi được gặp mặt nhóm các giáo sư, chuyên gia văn học, dịch thuật Đài Loan do nhà thơ Tưởng Vi Văn dẫn đầu, trong lần sang giao lưu với các đồng nghiệp Việt Nam. Mọi người khác trong đoàn tôi chưa nghe tên, riêng giáo sư nhà thơ Tưởng Vi Văn thì đã quá nổi tiếng ở đất nước chúng tôi. Ông là người bạn mà chúng tôi luôn kính trọng. Hôm đó, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện thân tình như những người có chung nhiều điều để chia sẻ. Gần lúc chia tay, tôi bèn tặng giáo sư Tưởng Vi Văn cuốn “Sống với Trung Quốc” còn lại duy nhất trên giá sách của tôi.

Tôi phải xin lỗi những thành viên khác trong đoàn vì cuốn sách không được thừa nhận chính thức, không được cấp phép xuất bản và phổ biến đại trà. Tôi nói với đoàn rằng, cuốn sách tôi tặng giáo sư Tưởng Vi Văn hoàn toàn làm thủ công. Tuy thế, rất may là có mạng xã hội nên hàng vạn người Việt trong và ngoài nước, đủ các thành phần, chủ yếu là trí thức, chính khách cũng đã kịp đọc nó. Tôi nhận được từ giáo sư một nụ cười đầy thấu hiểu. Cảm động nhất với tôi là ông đã bỏ thời gian để đọc một cách cẩn thận. Và đó là toàn bộ cơ duyên để hôm nay nó có mặt trang trọng trên các kệ sách tại Đài Loan.

Sau đây, khi cuốn sách đã đến tay nhiều bạn đọc hơn, tôi mong và rất vui sướng nếu được có dịp trao đổi, thảo luận cởi mở với tư cách không chỉ là tác giả, mà còn là người có cùng mối quan tâm, với các bạn, về những luận điểm mà tôi trình bày chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết trong cuốn sách. Hôm nay, do điều kiện hạn chế vì dịch bệnh Covid Vũ Hán, tôi chỉ có thể nói trước đôi điều, một cách vắn tắt, về đứa con tinh thần của mình.

Nếu các bạn, chỉ cần đọc qua lịch sử hình thành nên nước Việt Nam hôm nay thôi, cũng sẽ thấy điều đặc biệt sau đây: Phần lớn lịch sử ấy gắn với các cuộc chiến tranh chống xâm lược từ ngoại bang. Có thể nói, để tồn tại như một quốc gia, người Việt đã chiến đấu ròng rã mấy ngàn năm trời, ngay trên mảnh đất của mình. Vì thế, không có gì lạ khi bất cứ người Việt Nam nào cũng bẩm sinh là một chiến binh, một nhà quân sự và tôi không là ngoại lệ.

Thời gian chiến tranh chúng tôi trải qua như đã nói, chủ yếu dành để chống lại các cuộc xâm lược đến từ phương Bắc mà ngày nay định hình nên nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Chúng tôi chỉ vừa chấm dứt cuộc chiến đẫm máu với họ hơn bốn thập kỉ và giờ đây, hàng ngày trước khi lên giường, hoặc từ trên giường bước xuống, mỗi người Việt Nam, dù ý thức hay vô thức, đều tự hỏi: Khi nào thì Trung Quốc gây ra cuộc chiến tiếp theo? Đây là câu hỏi bi thảm cho cả chúng tôi và người dân Trung Quốc, bởi tôi tin phần lớn họ đều yêu hòa bình. Nhưng chỉ có chúng tôi là phải chuẩn bị để đưa ra câu trả lời cho chính mình. Và chúng tôi luôn biết mình cần phải làm gì, như cha ông chúng tôi vẫn làm trong suốt chiều dài lịch sử, để tồn tại.

Tôi đã luôn suy ngẫm về chủ đề này, mà nếu gọi chính xác phải là “bi kịch của địa lý”. Các bạn cứ thứ hỏi người Ấn Độ, người Lào, người Mianma, người Mông Cổ…, chắc chắn cũng sẽ nhận được ở họ câu trả lời tương tự. Rằng làm thế nào để có thể sống yên ổn bên cạnh một nước Trung Quốc khổng lồ ngày càng lớn mạnh, nhưng do tư tưởng bá quyền đại Hán tiếp tục được tung hô một cách nguy hiểm và sai lầm, nên cũng ngày càng hung hãn? Câu hỏi đó chưa bao giờ thôi riết róng với riêng chúng tôi.

Ngay cả khi họ đã thua ông cha chúng tôi trong mọi cuộc chiến tranh, vốn đều chỉ được chúng tôi tiến hành đáp trả khi không còn lựa chọn nào khác, thì đó chưa bao giờ là điều chúng tôi thích thú. Nói cách khác, chiến tranh luôn là lựa chọn bất đắc dĩ của người Việt Nam, khi chống lại sự xâm lược để tiếp tục xác lập quyền tự chủ bên cạnh Trung Quốc. Chúng tôi chưa bao giờ muốn điều đó. Chúng tôi luôn muốn sống với họ trong hòa bình.

Nhưng ý muốn là một chuyện, thực tế cuộc đời cứ luôn là câu chuyện khác. Chẳng hạn đôi khi bạn chiến đấu không phải để tìm kiếm sự thỏa mãn cảm hứng chiến thắng, mà trước hết là để sống sót. Tôi tin rằng, không có dân tộc nào chán ghét vũ khí như dân tộc chúng tôi. Sau khi bắt nhà Minh, (mà nếu tôi không nhầm thì cũng là triều đại thôn tính Đài Loan của các bạn) ôm mối nhục không bút nào tả xiết, vua Lê Thái Tổ của chúng tôi đã thực hiện ngay việc trả lại gươm thần. Ông mong đất nước không bao giờ còn cần đến nó nữa. Dù đó là sự thật lịch sử hay truyền thuyết, thì nó cũng phản ánh khát khao hòa bình của chúng tôi. Hôm nay, nếu có đồng nghiệp nào của Trung Quốc tham gia Hội nghị này, tôi hân hạnh được nói điều đó với cả các bạn ấy.

Cuốn sách của tôi vinh dự được giới thiệu tại Đài Loan hôm nay, bởi một đội ngũ dịch giả tài ba và đầy tình yêu với chữ nghĩa, chủ yếu là để nói về cách thức chúng tôi có thể sống và thịnh vượng bên cạnh Trung Quốc khổng lồ mà không cần đến súng đạn. Tôi không hề phải mất công lựa chọn khi đặt cho nó cái tên “Sống với Trung Quốc”. Trong tiếng Việt và có lẽ trong mọi ngôn ngữ, từ “Với” có một vị trí và vai trò rất đặc biệt. Nó kết nối trong thể bình đẳng, chủ động, sòng phẳng. Quan điểm bao trùm của tôi trong cuốn sách bất cứ ai cũng có thể đọc được: Thượng sách là hòa bình. Trung sách là hòa bình. Chiến tranh luôn là hạ sách. Nhưng tôi cũng muốn nói thêm rằng, sẽ là tối hạ sách nếu người bị bắt nạt, bị truy sát chấp nhận buông xuôi không làm gì cả, chỉ biết sợ hãi và bó giáo xin hàng.

Tôi hy vọng tôi cũng đang nói thay cho hàng triệu bạn đọc của tôi cả ở Việt Nam và Đài Loan.

Tôi có đủ kinh nghiệm để hiểu rằng, cuộc sống không phải lúc nào cũng đơn giản theo kiểu nói phải củ cải cũng nghe. Có lúc lẽ phải mà bạn đưa ra chả có ý nghĩa gì cả, không những thế còn bị giễu cợt, bị lăng nhục tàn nhẫn. Khi ấy bạn sẽ làm gì? Đơn giản nhất, nói theo văn hào Nga Lép-tônxtôi, những người công chính, những người muốn vinh danh sự sống, lẽ công bằng trên trái đất sẽ phải liên kết với nhau để tạo ra sức mạnh. Lịch sử mà chúng ta chứng kiến đã từng cho thấy, chỉ vì các cường quốc bị chia rẽ về quyền lợi ngắn hạn, chỉ vì những kẻ yếu thế nhụt chí, mà bọn Quốc Xã đã có cơ hội tàn phá hầu hết thành quả của nhân loại xây dựng trong hàng ngàn năm.

Mà lịch sử thì thường hay dẫm vào chính vết chân mình! Lịch sử hoàn toàn có nguy cơ lặp lại. Trong cuốn sách, tôi đã dành ra một phần quan trọng để nói riêng với người Mỹ điều này và mong đó chỉ là sự cẩn trọng thái quá.

Các bạn Đài Loan thân mến! Tôi mong các bạn hãy đọc cuốn sách của tôi để chúng ta có cơ hội tiếp tục kéo dài cuộc giao lưu thú vị này. Về phần mình, tôi đủ kiên nhẫn và sự hồi hộp để chờ đợi. Do chúng ta đang hướng về cùng một phía, vì thế, đây là dịp để tôi bày tỏ sự ngưỡng mộ với đất nước của các bạn, cùng với những giá trị cao quý mà các bạn đóng góp cho nhân loại.

Tuy ở rất xa về địa lý, thế mà tại căn phòng bé nhỏ của mình, tôi lại vẫn như nghe thấy trái tim các bạn đang cất lên lời ngợi ca tình bạn và hòa bình.

Xin cảm ơn sự quan tâm của các bạn và chúc “Hội thảo Quốc tế về Phiên dịch Văn học Đài Loan” thành công ngoài mong đợi.

Minh oan cho đảng Cộng sản Việt Nam trong vụ BBC, RFA, VOA bị đổi tên

 

Minh oan cho đảng Cộng sản Việt Nam trong vụ BBC, RFA, VOA bị đổi tên

Jackhammer Nguyễn

1-11-2021

Ít nhất là lần này, tôi đồng ý với báo Quân đội Nhân dân của đảng Cộng sản Việt Nam. Tờ báo này nói rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam không can dự vào chuyện chế nhạo các trang Facebook của các “đài địch” RFA, BBC, VOA qua bài viết: Nhiều fanpage chống phá Đảng, Nhà nước bị đổi tên: Đừng nên gán ghép suy diễn.

Báo Quân đội nhân dân là một tờ báo theo sát “chủ trương đường lối” của đảng CSVN. Báo này “chống diễn biến hòa bình” tới cùng.

Chuyện các trang Facebook của RFA, BBC, VOA bị đổi tên sáng 30/10/2021, giờ Việt Nam, trang của RFA (Á châu Tự do) bị đổi thành “Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm”; trang VOA (Đài Tiếng nói Hoa Kỳ) bị biến thành “Nhân dân Đông Lào muôn năm” (Đông Lào là cụm từ khôi hài, chỉ nước Việt Nam ngày nay, ám chỉ trình độ dân trí, quan trí thấp kém, kinh tế lạc hậu) và trang BBC (Đài phát thanh Anh Quốc) bị biến thành “Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Chỉ trong vòng hai giờ, các đài này đã lấy lại được tên của mình. Sau đó, RFA cho chạy ngay một bài viết: “Động thái lạ của Hiếu PC sau vụ Fanpage các đài Âu, Mỹ bị đổi tên ủng hộ ĐCSVN”, ngầm ý cáo buộc thủ phạm là một nhân vật từng vào tù ở Mỹ, đã được cơ quan an ninh mạng Việt Nam tuyển dụng.

Nhưng tôi không đồng ý với những nguyên nhân dựa trên những câu cú dài lê thê rất tối nghĩa mà tờ Quân đội Nhân dân … lý luận. Tôi đồng ý với Quân đội Nhân dân dựa trên một số suy luận chủ quan của tôi sau đây:

Mặc dù trên một số tờ báo, chủ yếu là các tờ báo do công an quản lý, hay tờ Quân đội nhân dân này, hoặc tờ báo Nhân Dân của Đảng, người ta hay thấy ra rả các bài viết “chống diễn biến hòa bình”, “chống thế lực thù địch”,… thường hài tên RFA, BBC, VOA mà mắng mỏ, nhưng nếu chúng ta xem kỹ thì đó chỉ là những công thức cũ kỹ nhai đi nhai lại, chủ yếu là tạo việc làm cho đám văn chương tuyên giáo mà chế độ lỡ đào tạo, và vẫn đang lỡ đào tạo, nhiều quá.

Thứ hai, với sự hợp tác của Facebook, các trang Facebook RFA, BBC, VOA chẳng lan tỏa được vào bên trong Việt Nam được bao nhiêu.

Thứ ba, chính phủ Việt Nam sử dụng tường lửa để chặn những tin tức, quan điểm mà họ không thích, rất hữu hiệu (có người nói với tôi rằng các tường lửa này được sự giúp đỡ từ người anh em đồng ý thức hệ, là Trung Quốc).

Thứ tư, đa số dân chúng Việt Nam hiện nay không quan tâm đến chính trị. Đó là nói chuyện trước dịch Covid, còn hiện nay với sự thất bại thảm hại trong việc chống dịch, dân chúng Việt Nam, với thói quen nhẫn nhịn, lại càng không quan tâm, mà lo chạy bữa ăn hàng ngày, chạy trốn bệnh hoạn chết chóc do dịch gây ra.

Thứ năm, các cơ quan tuyên truyền kiểu “ăn chơi nhảy múa” của Đảng có rất đông độc giả, khán giả trong nước, BBC, VOA, RFA liệu chiếm được 10% số độc giả, khán giả ấy chưa? Các kênh ăn chơi nhảy múa này của Đảng còn chiếm lĩnh cả một số độc giả không ít ở hải ngoại.

Với tất cả những lý do này, tôi không nghĩ rằng đảng Cộng sản Việt Nam lại chủ trương “tấn công” các “đài địch” đó làm gì cho mang tiếng, mà lợi bất cập hại nữa.

Lợi bất cập hại ở chỗ nào?

Nhiều người Việt Nam hoạt động trên Facebook rất tò mò, nhảy vào ba trang kể trên để xem, trong khi trước đó họ không biết. Ngay như tôi đây rất ít xem các kênh kể trên cũng bị hút vào sau khi vụ đổi tên xảy ra.

Phải công nhận rằng, ba cái tên mới đặt cạnh ba cái tên cũ, trông rất hài hước, trong tình trạng ý thức chính trị của người Việt trên thế giới rất phân cực hiện nay. Một tư duy hài hước như vậy thường không thuộc về các đầu óc tuyên giáo đặc cứng Mác Lê, hay là đám dư luận viên Ak47 rất vô học, chỉ biết chửi bới là chính.

Không rõ thủ phạm có cảm tình với nhà nước Cộng sản Việt Nam hay không, nhưng có vẻ dư luận chung đang dựa trên quan điểm xem rằng, cả ba “đài địch” kể trên là nạn nhân, thì sẽ cho rằng thủ phạm là người thân với Nhà nước Việt Nam.

Cũng có là như vậy, nhưng ý kiến chủ quan của tôi nghiêng về phía một kẻ có óc khôi hài nào đó thôi.

Có một tình huống thứ ba nữa, đó là những cá nhân hoạt động độc lập, nhưng lại được “Đảng và Nhà nước” dung túng, vì có lợi cho họ.

Chúng ta đã chứng kiến những trường hợp như vậy, trong đó nổi bật là các YouTube tin vịt ở hải ngoại được người dân trong nước xem thoải mái vì chúng tấn công vào hình ảnh nền dân chủ Mỹ, hay là trường hợp kênh Nguyễn Phương Hằng, đang được sử dụng để tấn công vào các hoạt động dân sự nằm ngoài sự kiểm soát của Đảng. Cách thức này không xa lạ với truyền thống “cứu cánh biện minh cho phương tiện” của những người cộng sản. Cách này nó mang lại “thắng lợi” cho Đảng, nhưng về lâu dài, là sự trì độn của người Việt bị biến thành một đám đông nghe tin vịt như ăn cơm hàng ngày.

Lần này, nếu “Đảng và Nhà nước” dùng cách này thì quả là … phù thủy lụy âm binh, vì số người vào xem “đài địch” tăng mạnh trong mấy ngày qua, điều mà hiện nay mặc dù Đảng không lo ngại nhưng hoàn toàn không muốn.

Chính sách của Mỹ đối với miền Nam Việt Nam sau năm 1954

 

Chính sách của Mỹ đối với miền Nam Việt Nam sau năm 1954

Đỗ Kim Thêm

31-10-2021

Bối cảnh mới

Ngay từ buổi đầu, với tư cách Quan sát viên Hội nghị Genève 1954, Hoa Kỳ đã tỏ ra dè dặt khi tham gia. Khi chính phủ Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ký kết Hiệp định ngày 20 tháng 7 năm 1954 về việc ngưng chiến và phân chia tạm thời lãnh thổ Việt Nam, Hoa Kỳ cũng minh xác chỉ tiếp tục quan tâm theo dõi tình hình trong khi Chính phủ Quốc gia Việt Nam cũng không trực tiếp kết ước và chịu một trách nhiệm nào.

Trước tình thế đổi thay nghiêm trọng là Cộng sản Trung Hoa và Việt Nam đã lập ra được một căn cứ địa tại miền Bắc Việt Nam để mở rộng âm mưu bành trướng khắp vùng Đông Nam Á, Hội đồng An ninh Quốc gia tại Washington xem kết quả Hội nghị là một thảm hoạ chung cho chiến lược an ninh khu vực.

Để đối phó, Hội đồng có đề ra một chính sách mới với hy vọng là miền Nam Việt Nam ít ra cũng còn có cơ hội để thoát khỏi ảnh hưởng của Cộng sản. Hai mục tiêu chính cho bối cảnh mới được bắt đầu thảo luận.

Một là, để kịp thời thay thế cho lý tưởng Cộng sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo, miền Nam Việt Nam phải đẩy mạnh việc xây dựng một lực lượng chống Cộng theo một tinh thần quốc gia dân tộc, công việc đầu tiên là phải loại bỏ nhanh chóng ảnh hưởng chính trị của chế độ thực dân Pháp để lại.

Hai là, để ngăn chặn ảnh hưởng của trào lưu Cộng Sản trong toàn khu vực, Mỹ phải tạo ra một cấu trúc mới về an ninh và cần hành động kết hợp với các đồng minh.

Theo đề xuất của Ngoại trưởng John Foster Dulles, ngày 8 tháng 9 năm 1954, Mỹ hợp tác với Anh, Úc, Tân Tây Lan, Pháp, Philippines, Thái và Pakistan để thành lập một tổ chức mang tên Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (Southeast Asian Treaty Organisation, SEATO).

Hội nghị thượng đỉnh các quốc gia thuộc khối SEATO tại Manila năm 1966. Nguồn: WriteWork

Các quốc gia kết ước trong khối SEATO cùng theo đuổi một nhiệm vụ chung là tham khảo ý kiến trong trường hợp bị Cộng sản đe doạ. Trong một văn kiện riêng biệt có quy định thêm là các thành viên sẽ mở rộng việc áp dụng Hiệp ước đối với các nước Lào, Campuchia và Quốc gia Việt Nam.

Nhìn chung, có sự khác biệt cơ bản của khối SEATO và Tổ chức Liên minh Bắc Đại Tây Dương (North Atlantic Treaty Organisation, NATO). Các thành viên của khối NATO tự nguyện tham gia để bảo đảm nền an ninh chung cho khối trong khi khối SEATO chỉ đề ra nhu cầu tham vấn hỗ tương và không tạo thêm một trách nhiệm quân sự nào khác.

Dù mở rộng phạm vi áp dụng cho các quốc gia Đông Dương, nhưng khối SEATO lại cấm đoán việc xây dựng liên minh quân sự, vì như vậy sẽ là vi phạm Hiệp định Genève.

Ngoài ra, Tổng thống Dwight D. Eisenhower và Ngoại trưởng Dulles nhận ra một trở ngại chính trong việc phát huy ảnh hưởng của khối SEATO. Ấn Độ, Miến Điện và Indonesia là những quốc gia đông dân nhất trong khu vực lại không tham gia, vì cho SEATO là một phương tiện cho Mỹ và phần lớn các nước da trắng tìm cách hợp pháp hoá việc can thiệp nội bộ các nước Đông Nam Á.

Mỹ có một quan tâm đặc biệt khác là muốn đưa miền Nam Việt Nam vào trong lĩnh vực ảnh hưởng chính trị của Mỹ mà hợp tác tình báo là phương tiện sử dụng.

Tổng thống Eisenhower, Ngoại trưởng Dulles và người em là Allen W. Dulles, Giám đốc Cơ quan Trung ương Tình báo (Central Intelligence Agency, CIA) cho rằng, trong trường hợp nền ngoại giao Mỹ không thể tiến hành, thí dụ như gặp trở ngại trong phạm vi hiệp ước, va chạm quyền lợi quốc gia, hay diễn biến bất lợi trong tình hình quốc nội, thì cơ quan CIA sẽ âm thầm tham gia để giải quyết và tránh được sự kiểm soát của Quốc hội.

Do đó, các hoạt động tình báo là một phương tiện hữu ích làm cho Mỹ dễ dàng hơn trong việc phát huy thanh thế ngoại giao.

Edward Geary Lansdale và CIA

Trong bối cảnh này, tháng 6 năm 1954, Edward Lansdale, Đại tá Không quân Mỹ, cùng 12 nhân viên khác của CIA đến Sài Gòn nhận việc.

Lansdale là một chuyên gia đã trực tiếp chỉ huy việc đánh bại lực lượng Cộng sản Hukbalahap Philippines. Kinh nghiệm thành công này giúp cho Lansdale tin rằng, khi Mỹ  viện trợ hào phóng trong tinh thần thực dụng và các nước thuộc thế giới thứ ba hợp tác tích cực, thì mô hình theo nền kinh tế thị trường sẽ dần dà hình thành, xã hội dân chủ tự do phát triển, và cuối cùng Cộng sản không thể bành trướng.

John Dulles, Edward Lansdale, Nathan F. Twining và Charles P. Cabell tại Ngũ Giác Đài năm 1955. Nguồn ảnh: Wikipedia

Theo Lansdale, nhiệm vụ cấp thời là các nước phải có chính sách huỷ diệt Cộng sản và các cá nhân phải nêu gương trong hành động cụ thể.

Trước các tướng lãnh Mỹ, Lansdale giải thích: “Chúng ta không nên quên rằng các cán binh Cộng sản ẩn núp trong quần chúng. Khi dân chúng đứng về phía chúng ta, họ không còn che đấu được nửa, chúng ta sẽ nhận ra và bắt họ, thế là xong.”

Trong thập niên 1950, Lansdale là một biểu tượng cao đẹp cho tinh thần dám muốn dám làm của người Mỹ. Hình ảnh của Lansdale đã được Graham Greene tiểu thuyết hoá qua nhân vật Alden Pyle trong tác phẩm Người Mỹ thầm lặng, The Quite American (1954) và William J. Lederer và Eugene Burdick qua nhân vật Đại tá Hillendate trong tác phẩm Người Mỹ xấu xí, The Ugly American (1958). Đó là những chính khách Mỹ am tường nội tình các nước và biết sử dụng khéo léo các phương thức tình báo.

William Colby, Giám đốc CIA, về sau, có nhận định Lansdale là mẫu người đến miền Nam đúng lúc để cứu vãn những gì có thể còn cứu vãn được.

Mục tiêu chính của Lansdale loại bỏ mọi ảnh hưởng của Pháp trong Quân đội và đào tạo các chuyên gia chống du kích chiến. Trước mắt, Lansdale huy động các thủ thuật của CIA về chiến tranh tâm lý, không chỉ nhắm làm cho các cán bộ xa lánh Cộng sản, mà còn cho dân chúng hoang mang.

Cụ thể là CIA tổ chức gởi các toán biệt kích ra miền Bắc để hoạt động phá hoại lẻ tẻ, tung tin giả mạo là nhiều sư đoàn Trung Cộng đang tràn qua biên giới, cướp bóc, hãm hiếp dân chúng và trên đường tiến về thủ đô, bỏ đường vào trong bình xăng xe buýt để làm trở ngại giao thông, bỏ tiền mua chuộc các thầy bói toán để tiên tri tương lai đen tối cho miền Bắc và tổ chức rải truyền đơn trong các khu vực có đông tín đồ Thiên chúa giáo.

Gây ảnh hưởng sôi động nhất trong các hoạt động này là tung tin Đức Mẹ Maria đã vào miền Nam để tránh xa Cộng sản vô thần làm cho gần một triệu người, đa số là Công giáo, tin theo. Hải quân Mỹ cũng tham gia chiến dịch khi gởi chiến hạm đến cảng Hải Phòng giúp cho dân trong việc di cư.

Không những chỉ có nhân viên của CIA mà còn của Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu hoạt động ở Việt Nam. Mục tiêu của cả hai là cố tìm ra một giải pháp lý tưởng cho vấn đề xây dựng miền Nam. Điều kiện cần có cho một đất nước như vậy là dân chúng và chính quyền phải có tinh thần quốc gia dân tộc, có nghĩa là, có các ý thức chống Cộng sản và chống thực dân Pháp; vấn đề ưu tiên là tìm ra những nhân vật lãnh đạo cho phù hợp trong giai đoạn mới.

Phác thảo một mô hình đất nước trong buổi giao thời đã khó, tìm kiếm giới lãnh đạo có đủ các yếu tố lý tưởng này lại càng khó hơn. Trở ngại chính là vì thành phần trí thức người Việt chân chính hay thân Mỹ quá ít; trong quá khứ, họ luôn có ít nhiều hợp tác với Pháp và hưởng được các quyền lợi kinh tế và chính trị. Ngoại trưởng Dulles cho rằng khi tìm ra được ông Ngô Đình Diệm, một người quốc gia không có liên hệ với Việt Minh và Pháp để hợp tác, đó là một trường hợp may mắn đặc biệt.

Ngô Đình Diệm và miền Nam

Vài nét tiểu sử

Ông Ngô Đình Diệm sinh ngày 3 tháng 1 năm 1901 tại làng Đại Phong Lộc (nay thuộc xã Phong Thuỷ), huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình và xuất thân từ một gia đình Công giáo thuần thành và quan lại.

Sau khi tốt nghiệp Trường Hậu bổ năm 1921, ông Diệm lần lượt đảm nhiệm nhiều chức vụ hành chánh cấp địa phương: Tri huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên, Tri phủ Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, Quản đạo phủ Ninh Thuận và Tuần vũ tỉnh Bình Thuận.

Năm 1933, ông nhận chức vụ Lại Bộ Thượng Thư trong nội các của Bảo Đại, tương đương với Bộ trưởng Bộ Nội vụ ngày nay.

Là một vị thượng thư trẻ tuổi nhất và đầy nhiệt huyết, ngay khi nhậm chức, ông đề xuất hai biện pháp cải cách, một là Trung và Bắc Kỳ phải trở thành một cơ cấu hành chánh duy nhất, hai là dành nhiều quyền tự do chính trị cho Viện Nhân dân Đại biểu Trung kỳ. Vì hai đề nghị không được chấp thuận, nên ông từ chức sau ba tháng nhậm chức.

Về Huế, ông chuyển sang dạy học tại trưòng Thiên Hựu (Providence) và lần lượt tham gia nhiều tổ chức chính trị khác nhau như Đại Việt Phục Hưng Hội, Việt Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội và Uỷ Ban Cứu Quốc. Mục tiêu chung là hỗ trợ cho Hoàng thân Cường Để, dựa vào Nhật để chống Pháp. Các giải pháp này không thành công vì Nhật không ủng hộ Cường Để mà là Bảo Đại.

Đầu năm 1945, Bảo Đại lập chính quyền thân Nhật với quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam và có yêu cầu ông Diệm tham chính, nhưng ông từ chối, người thay thế là Trần Trọng Kim.

Năm 1948, Bảo Đại ký kết Hiệp định với Pháp ở Hạ Long với nội dung là Việt Nam được hưởng một nền độc lập hạn chế. Là người kiên định tranh đấu cho một nước Việt Nam độc lập toàn diện, ông Diệm phản đối giải pháp này và cũng từ chối chức vụ Thủ tướng mà Bảo Đại đề nghị.

Khi chính quyền Việt Minh thành lập, ông Hồ Chí Minh cũng tìm cách vận động cho ông tham gia trong chức vụ Thủ tướng, nhưng không có kết quả. Lý do từ chối xuất phát từ việc một người anh của ông là Ngô Đình Khôi bị Việt Minh bắt và sát hại. Ông Hồ có biện minh là không có trách nhiệm trong vụ thảm sát này, vì đó là hành động nhất thời của cán bộ áp tải đại phương trong lúc hỗn loạn.

Để thể hiện lập trường chống cả Pháp lẫn Việt Minh, ông vận động thành lập Đảng Xã hội Thiên chúa Giáo và lý tưởng theo đuổi là: “một cuộc chiến đấu cho độc lập tổ quốc về phương diện chính trị và là một cách mạng xã hội để đem lại độc lập cho nông dân và thợ thuyền Việt Nam.“

Các nỗ lực này của ông ảnh hưởng chỉ hạn chế trong một thiểu số trí thức, không tạo ra tiếng vang trong xã hội.

Khi nhận định là không có cơ hội trực tiếp tham chính, ông dành nhiều thời giờ để tiếp xúc với chính giới ngoại quốc theo Ky Tô giáo. Đáp các lời mời, ông xuất ngoại để vận động chính trị tại Vatican, Nhật và Mỹ.

Sau đó, ông sống ẩn tại Pháp, Bỉ và lâu nhất là ở các tu viện Lakewood, New Jersey và Ossinng, New York, Hoa Kỳ. Tại đây, cơ hội đến cho ông.

Dù là một người Việt chưa tạo tên tuổi và uy tín trên đất Mỹ, ông Diệm bắt đầu mở rộng tiếp xúc với chính giới Mỹ thông qua Đức Hồng Y Spellman.

Từ năm 1955, một nhóm thân hữu Mỹ cho Việt Nam “American Friends of Vietnam” được thành hình, trong đó một số chính khách nổi danh tham gia gồm có Đức Hồng Y New York Francis Spellman, Chánh án tối cao Wlliam O. Douglas, Đại sứ Joseph Kennedy và con trai là Nghị sĩ John F. Kennedy, Nghị sĩ Mike Mansfield, Tướng Wililam “Wild Bill” Donovan, Chỉ huy trưởng Cơ quan Tình báo Mỹ (OSS) trong thời Đệ nhị Thế chiến.

Nhờ tham gia sinh hoạt trong nhóm này mà Ngoại trưởng Dulles phát hiện ra ông Diệm và tin rằng đã tìm ra được một mẩu người thích hợp cho thời cuộc sắp đến của miền Nam. Sau nhiều lần hội thảo, Mỹ đề xuất cho ông về nước làm Thủ tướng.

Trong thực tế, Mỹ không thể độc quyền và âm thầm đưa ông Diệm về nước như các cáo buộc trong các sách vở. Ông Diệm không phải là một mẩu người háo danh, dể cho Mỹ sai bảo và nhẹ dạ.

Qua nhiều lần từ chức trong chính trường đã thể hiện cá tính khó khăn của ông, chính Bảo Đại cũng đã có nhiều kinh nghiệm với ông. Về sau, kể cả Tổng thống John F. Kennedy cũng không thuyết phục ông Diệm dễ dàng.

Việc ông Diệm về nước chấp chính là một quá trình dài và khó khăn, kết qủa là nỗ lực của nhiều phía mà Vua Bảo Đại và ông Diệm là chủ động.

Tình thế đất nước nguy ngập, nhân tâm ly tán, tương lai mờ mịt, Bảo Đại hoang mang, bất lực và nhiều lần yêu cầu ông Diệm chấp chính, nhưng ông từ chối với lý do là không tin tưởng người Pháp.

Sau khi thất bại tại Điện Biên Phủ, Pháp đàm phán và ngỏ ý là trao trả hoàn toàn độc lập cho Việt Nam.

Ngày 16 tháng 6 năm 1954, ông Diệm gặp Bảo Đại tại Pháp và đồng ý làm Thủ tướng với điều kiện là ông được toàn quyền quyết định về chính trị, quân sự và kinh tế. Bảo Đại đồng ý với yêu cầu này.

Về sau, khi nhìn lại quá trình này, Bảo Đại cho biết: “tôi biết rằng ông Diệm là một người khó tính, … Mỹ có thể trông cậy được ông trong việc chống lại chủ nghĩa cộng sản. Đúng, ông chính là người cần thiết cho hoàn cảnh như vậy.”

Do đó, ông Diệm về Sài Gòn ngày 25 tháng Sáu năm 1954 để chấp chính và chính thức được bổ nhiệm làm Thủ tướng. Ngày 7 tháng 7 năm 1954, ông Diệm thành lập nội các gồm 18 người.

Các chống đối

Nhưng thực tế không như Dulles và Bảo Đại kỳ vọng; sau khi nhận việc, ông Diệm gặp chống đối trong giới ngoại giao Mỹ và nhiều tầng lớp người Việt.

Điển hình là Douglas Dillon, Đại sứ Mỹ tại Paris, cho ông Diệm là một con người thần bí hơn là chính khách; Tướng J. Lawton Collins, Đặc sứ Mỹ tại Sài Gòn, xem ông Diệm như là một Thiên sứ không có tin mừng mà chỉ biết một công việc duy nhất là xin viện trợ Mỹ.

Ngay trong vấn đề nội chính, ông Diệm không có thực quyền, vì hầu hết các viên chức quan trọng trong chính quyền của ông đều lệ thuộc Pháp, nhưng chống đối mãnh liệt nhất là Quân đội và Giáo phái.

Pháp chống ông Diệm vì chủ trương là Tổng tuyển cử vào tháng Sáu năm 1956 phải được xúc tiến. Tài liệu về sau cho thấy là Pháp phải vận động ủng hộ cho giải pháp này vì quyền lợi kinh tế của Pháp tại Đông Dương quá lớn, nên Pháp không thể ra đi và muốn tiếp tục đầu tư và hưởng lợi.

Do đó, cùng trong chiều hướng này, phía Quân đội Việt Nam cũng không nhiệt tình ủng hộ cho ông Diệm vì các tướng lãnh còn bị ảnh hưởng nặng nề của Pháp và nhìn ông Diệm là người có khuynh hướng thân Mỹ.

Điển hình là Tướng Nguyễn văn Hinh, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Việt Nam, xuất thân trong binh chủng Không quân của Pháp, có vợ Pháp và quốc tịch Pháp. Các ràng buộc này khó có thể làm cho ông Hinh có tinh thần quốc gia để hợp tác với ông Diệm. Bất hoà với ông Diệm đến độ ông Hinh âm mưu đảo chính, nhưng không thành, vì các cộng sự viên bị Landsale mua chuộc, hậu quả là ông Hinh phải đào thoát sang Pháp.

Quan trọng nhất trong giai đoạn này là Việt Nam chưa có một nền tài chính độc lập, mọi chính sách tiền tệ đều do Ngân hàng Đông Dương thuộc Pháp điều khiển.

Tình hình phân hoá địa phương là một đặc điểm khác. Hai giáo phái Cao Đài và Hoà Hảo là những tổ chức có vũ trang độc lập và sinh hoạt tự trị tại miền Tây và Đông Nam Bộ.

Tại Sài Gòn, tình hình về an ninh cũng không khá hơn và Tổ chức Bình Xuyên là một mối đe doạ trầm trọng. Trong quá khứ, Pháp đã dung dưỡng cho Bình Xuyên tự do hoạt động trong các lĩnh vực trục lợi bất chính như tổ chức mãi dâm, cờ bạc, buôn bạch phiến và bảo vệ an ninh. Tướng Lê văn Viễn, Chỉ huy Bình Xuyên trước đây, khó là người chịu thuần phục ông Diệm và thu mình trong khuôn khổ luật pháp mới.

Cuối cùng, để tránh tranh chấp không cần thiết, Bảo Đại bổ nhiệm Lại văn Sang, chỉ huy Lực lượng Cảnh Sát thay thế. Ông Diệm không đồng ý sự bổ nhiệm này, nhưng không có kết quả. Tranh chấp giữa ông Diệm, Bảo Đại, Bảy Viễn và ông Sang về nguồn tài trợ do nhóm Bình Xuyên bùng nổ mạnh hơn.

Trong bước đầu xây dựng, ông Diệm kêu gọi hai lực lượng Hoà Hảo và Cao Đài hợp tác để thành lập quốc gia, nhưng các thương thuyết với Tướng Trình Minh Thế của Cao Đài và Tướng Nguyễn Giác Ngộ của Hoà Hảo về việc sát nhập các đơn vị vũ trang thuộc về quân đội của chính phủ chưa ngã ngũ.

Đối với Bình Xuyên, ông Diệm chủ trương quyết liệt là phải loại trừ bằng biện pháp quân sự. Do đó, nhiều giao tranh xảy ra. Đến tháng Ba năm 1955, xung đột đẩm máu trầm trọng hơn.

Vì nhiều lý do bất hoà chính kiến, hai giáo phái Cao Đài và Hoà Hảo công khai hợp tác với Bình Xuyên làm cho nỗ lực xây dựng của ông Diệm càng khó khăn.

Ngay cả Bảo Đại, dù ở Côte d´Azur, Pháp, cũng thấy là không còn tín nhiệm ông Diệm trong vai trò lãnh đạo vì các biện pháp độc tài. Ngày 18 tháng 10 năm 1955 Bảo Đại tuyên bố cách chức ông Diệm, nhưng lệnh lại không được ông Diệm phổ biến trong công luận. Trong một công điện khác thứ hai, Bảo Đại còn thúc dục ông nên rời khỏi Việt Nam.

Tài liệu về sau cho biết là ông Diệm từ chối sang Pháp để báo cáo tình hình; do đó, dự định của Bảo Đại cách chức ông Diệm và đưa Lê Văn Viễn lên thay bất thành.

Khi định mệnh chính trị của ông trở nên mong manh, thì may mắn lại đến cho ông. Một thế lực duy nhất âm thầm ủng hộ để cho ông duy trì và củng cố quyền lực là cơ quan CIA và người đắc lực cận kề là Tướng Lansdale.

Chống đối ông Diệm công khai nhất là Tướng J. Lawton Collins, Đặc sứ Mỹ tại Sài Gòn, một nhân vật tín cẩn của Tổng thống Eisenhower. Ngay từ buồi đầu nhậm chức tháng 11 năm 1954, Collins nghi ngờ khả năng lãnh đạo của ông Diệm, mà hai cáo giác chính là tham nhũng và thiếu hiệu năng. Tướng Paul Ely của Pháp cũng ủng hộ quan điểm của Collins.

Đến cuối tháng Tư năm 1955, Collins nhận định là nguy cơ cho Việt Nam đã đến và quyết định trở lại Washington để khẩn báo cho Tổng thống Eisenhower về việc ông Diệm không còn thích hợp trong việc lãnh đạo đất nước.

Hai luận điểm của Collins là: Chính quyền không ổn định và quân đội không đủ mạnh. Với hai trở ngại này, ông Diệm không thể xây dựng đất nước thành công.

Collins đã thuyết phục được Tổng thống Eisenhower tìm giải pháp thay thế, trong khi ba người ủng hộ cho ông Diệm tiếp tục nắm quyền là Lansdale và Nghị sĩ Mansfield và Ngoại trưởng Dulles.

Để giải quyết, Eisenhower uỷ nhiệm cho Dulles tìm giải pháp tạm thời, tốt nhất là nên thu xếp để cho ông Diệm đảm nhiệm một chức vụ tương trưng và quân đội phải nắm giử thực quyền cai trị, trong khi Collins hợp tác với Pháp tìm một nhân vật khác.

Tài liệu về sau phổ biến là người được Mỹ dự định chọn là Bác sĩ Phan Huy Quát trong khi Bảo Đại đang phân vân chọn lựa giữa Trần Văn Hữu và Lê Văn Viễn.

Collins đang trên đường trở lại Sài Gòn để thực thi giải pháp của Eisenhower, thì tình thế đổi thay đột ngột. Quân đội của ông Diệm chống trả nhóm Bình Xuyên thành công, đẩy được lui ra khỏi Sài Gòn và tàn quân phải trú ẩn tại Rừng Sát thuộc Cần Giờ.

Tận dụng thời cơ thuận lợi này, ông Diệm tìm cách thu phục hai giáo phái Cao Đài và Hoà Hảo về quy thuận quốc gia; uỷ nhiệm cho Lansdale trực tiếp tiếp xúc. Kết quả là hai giáo phái không còn chống đối cá nhân ông Diệm, chấp nhận giải giới và huỷ bỏ các yêu sách về quyền địa phương tự trị.

Theo các tài liệu về sau hé lộ, tổng số tiền CIA sử dụng cho việc quy thuận này lên đến 12 triệu đô la vào thời giá trong năm 1955. Trong suốt một năm sau, lực lượng vũ trang của hai giáo phái không còn gây một khó khăn nào vì lần luợt về quy thuận và được sát nhập và phân tán trong quân đội của chính phủ. Tàn quân của Bảy Viển bị truy sát và Bảy Viển đào thoát sang Lào rồi sang Pháp. Tình hình nội an được vãn hồi.

Thành công ngoạn mục này giúp cho ông Diệm củng cố quyền lực và có thể bắt đầu phô trương thanh thế ra ngoài nước, nhất là tại Washington. Tình thế đổi thay nên Eisenhower đổi ý và ủng hộ cho ông Diệm được tiếp tục lãnh đạo đất nước.

Trưng cầu dân ý 

Nhưng trở ngại cuối cùng cho việc củng cố quyền lực của ông Diệm là Bảo Đại còn tại vị trong chức danh Quốc trưởng.

Ngày 23 tháng 10 năm 1955, ông Diệm tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý để cho dân chúng chọn lựa vị nguyên thủ quốc gia.

Trưng cầu dân ý miền năm năm 1955. Nguồn: Wikiwand

Thực tế ngoài sự mong đợi. Với 63.017 phiếu, kết quả là Bảo Đại thua, ông Diệm được 5.721.735 phiếu, trong tổng số cử tri toàn quốc là 5.828.907, ông Diệm nhận được 98,5% phiếu bầu.

Ngày 26 tháng 10 năm 1955, ông Diệm trở thành tổng thống đầu tiên của nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà và Hoa Kỳ là nước đầu tiên công nhận thể chế mới của miền Nam.

Theo ước lượng của Lansdale, chỉ cần có 60% dân ủng hộ là ông Diệm sẽ có đủ chính danh để xây dựng đất nước, nhưng lại có nhiều bằng chứng cho thấy có gian lận, mà thí dụ điển hình là tại Sài Gòn, nơi chỉ có 405.000 cử tri ghi danh đi bầu, nhưng tổng số phiếu bầu đã lên đến 605.000.

Kết quả gian lận này không làm chính giới Washington quan tâm để phản đối, vì các đặc điểm cá nhân của vị tổng thống tân cử được xem là chọn lựa ưu tiên: tinh thần chống Cộng, chống Pháp, tín hữu Ky tô giáo thuần thành và thân Mỹ.

Thắng lợi này cũng có nghĩa là mọi ảnh hưởng của thời kỳ thuộc địa của Pháp và sự lãnh đạo của vua Bảo Đại tại miền Nam chấm dứt.

Tổng tuyển cử

Nhưng có một điểm quan trọng nhất mà cả ông Diệm và chính giới Mỹ cùng gặp nhau, đó là ngăn trở cuộc Tổng Tuyển cử cho Việt Nam, theo như Bảng Tuyên bố chung sau Hiệp định Geneve đề ra.

Nguyên văn Điều 7 của Bảng Tuyên bố là: “Hội nghị tuyên bố, giải pháp cho những vấn đề chính trị ở Việt Nam dựa trên cơ sở tôn trọng độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ sẽ cho phép người dân Việt Nam được hưởng nền tự do cơ bản thông qua kết quả tổng tuyển cử tự do sẽ được tổ chức tháng 7-1956”.

Biện minh cho quan điểm này là chính phủ Bảo Đại hay Việt Nam Cộng Hoà không trực tiếp ký kết Hiệp định, nên không có ràng buộc về mặt pháp lý. Hoa Kỳ cũng không có một tuyên bố nào ủng hộ cho giải pháp này.

Thực tế phức tạp hơn. Sau khi ký kết Hiệp định, có khoảng 130.000 cán binh của Việt Minh từ miền Nam tập kết ra Bắc và khoảng 10.000 ở lại để lo xây dựng cơ sở đấu tranh cho thời kỳ mới. Tất cả đều có một niềm tin sắt đá là Tổng tuyển cử vào năm 1956 sẽ xảy ra và Việt Minh sẽ thắng cử.

Dĩ nhiên, niềm tin này có nhiều cơ sở vững chắc: dân số miền Bắc là 16 triệu, nhiều hơn dân miền Nam là 14 triệu và uy tín của ông Hồ lan toả nhiều hơn, được cả nước xem là cha già dân tộc, có công giải phóng đất nước khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, trong khi ông Diệm chỉ là một quan lại của triều đình Huế và tu sĩ Công giáo ở Mỹ, về sau được một thiểu số nông dân, quân đội mới thành lập và người dân Bắc di cư ủng hộ.

Ông Diệm cũng có ý thức về hậu quả của việc tổ chức tổng tuyển cử, ông sẽ thất bại khi Cộng sản có thể tận dụng mọi thủ thuật để chiếm quyền, vì không thể có bầu cử tự do tại miền Bắc mà cuộc bầu cử Quốc hội năm 1946 là thí dụ.

Nhận định của ông Diệm là muốn tổ chức bầu cử tự do phải có quốc tế giám sát và Liên Hiệp quốc đứng ra bảo đảm. Vấn đề là khó khả thi.

Ông tuyên bố: “Chúng tôi không từ chối nguyên tắc tuyển cử tự do để thống nhất đất nước một cách hoà bình và dân chủ. 

Tuy nhiên nếu những cuộc bầu cử tạo thành một trong những nền tảng cơ bản của nền dân chủ thật sự thì chúng chỉ có ý nghĩa với điều kiện chúng hoàn toàn tự do. 

Hiện nay, thực tế phải đối mặt với chế độ áp bức của Việt Minh, chúng tôi nghi ngờ về việc có thể bảo đảm những điều kiện của cuộc bầu cử tự do ở miền Bắc.”

Lập luận này cũng được Uỷ ban Kiểm soát Đình chiến, Nga, Trung Quốc và Mỹ ủng hộ.

Cộng đồng thế giới tự do có một nhận định chung là sẽ không có việc tái triệu tập Hội nghị để tổ chức Tổng tuyển cử, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải chấp nhận không có Tổng tuyển cử và hai phía của Việt Nam phải tự chuẩn bị phương án cho chính mình và như vậy có nghĩa là mặc nhiên ủng hộ quan điểm của ông Diệm.

Chia đôi lãnh thổ tạm thời chỉ là kết ước riêng của miền Bắc với Pháp và Tổng tuyển cử là một triển vọng chung được ghi nhận trong Bảng Tuyên bố của Quốc tế về tương lai của đất nước.

Tất cả hình thức này cũng xem như là hợp thức hoá tình trạng của Hiệp định Geneve.

Cuối cùng, ông Diệm sử dụng biện minh pháp lý như là một phương tiện để chống lại Tổng tuyển cử. Lập luận chính của Tổng thống Diệm là:

Miền Nam không ký kết Hiệp định Genève. Nội dung Hiệp định không đề cập Tổng tuyển cử mà là Điều 7 của Bảng Tuyên bố cuối cùng.

Về hình thức, đây là một văn kiện không có chữ ký của bất cừ quốc gia nào.

Về nội dung, điều 7 không có qui định chi tiết thực hiện, tùy hai bên thương lượng trong tinh thần nhiệm ý.

Về mặt thực tế, miền Bắc sẽ không có tự do bầu cử mà dưới sự chỉ đạo độc quyền của Việt Minh. Ủy Hội Quốc Tế không muốn đứng ra tổ chức Tổng tuyển cử và cho rằng không thể có bầu cử tự do.

Với lý do không có căn bản pháp lý do Hiệp định và Bảng Tuyên Bố ràng buộc, chính quyền miền Nam tin tưởng là trong tình hình mới, miền Nam được hoàn toàn độc lập để khởi đầu xây dựng một chính quyền tự do.

_______

Bài liên quan:

Hoa Kỳ và Tổng Thống Ngô Đình Diệm (Phần I): Thành Quả Xây Dựng Ban Đầu Của Việt Nam Cộng Hoà (1954-1960) — Hoa Kỳ và Tổng Thống Ngô Đình Diệm (Phần II ): Cơ cấu viện trợ Mỹ và chính quyền Việt — Hoa Kỳ và Tổng Thống Ngô Đình Diệm (Phần III): Những biểu hiện suy thoái của chế độ Ngô triều — CIA và Ngô Đình Diệm

Phản biện “điều không được làm” của Đảng

 

Phản biện “điều không được làm” của Đảng

Nguyễn Đình Cống

31-10-2021

Đó là Quy định về những điều đảng viên không được làm, gọi tắt là lệnh cấm, vừa được ban hàng bởi QĐ 37 do Tổng Bí thư BCHTW Đảng CSVN ký ngày 25 tháng 10 năm 2021.

Đảng có điều lệ, quốc gia có luật pháp. Những thứ đó đủ để hướng dẫn và khống chế hoạt động và hành vi của đảng viên khi Đảng là tổ chức bình thường và lãnh đạo đúng đắn. Thế mà phải ban hành thêm rất nhiều lệnh cấm. Việc đó chứng tỏ tổ chức của đảng đang rệu rã, sự lãnh đạo sai hoặc nhầm phương hướng. Đúng là “Lạy ông tôi ở bụi này”.

Bình thường Đảng phải dùng chất keo về lý tưởng và sự tự giác để tạo nên tổ chức, nhưng rồi phải dùng đến biện pháp cấm đoán, đó là kế sách thấp nhất mà hình như ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam ra, không có đảng chính trị nào khác trên toàn thế giới dùng đến.

Trong Điều lệ Đảng trước năm 2006 không có những điều cấm. Sau Đại hội X, khi công nhận đảng viên có quyền làm kinh tế tư nhân thì phát sinh yêu cầu cấm đảng viên bóc lột. Vào tháng 12 năm 2007, Bộ chính trị ra QĐ 115, cấm đảng viên làm một số việc. Đại hội XI thông qua điều lệ mới, trong điều 2, ngoài nhiệm vụ thông thường còn thêm: “Chấp hành quy định của BCH TƯ về những điều đảng viên không được làm”. Tháng 11 năm 2011, BCH TƯ ra Quy định 47 QĐ/TƯ thay thế QĐ 115 của BCT.

QĐ 47 nêu 19 điều đảng viên không được làm, đã gây ra một làn sóng lo lắng, sợ sệt trong một số các tổ chức đảng ở cơ sở. Các đảng viên hỏi nhau, liệu việc như thế này, như thế kia có vi phạm 19 điều cấm hay không. Người ta còn lợi dụng 19 điều để dọa nhau, ngăn cản nhau làm một số việc nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng hoặc giúp đỡ người khác, để tố cáo nhau lên cấp trên với ý đồ lập thành tích ngầm.

QĐ 47 là một văn bản phạm nhiều lỗi logic. Một số trang mạng, trong đó có Bauxitvn, vào cuối tháng 7/2015 đăng bài “Bàn về những điều cấm đảng viên” (*). Hình như một vài góp ý trong bài đó đã được tham khảo khi soạn thảo QĐ 37.

Mười năm thực hiên QĐ 47, tưởng rằng Đảng sẽ trong sạch hơn, vững mạnh hơn, nhưng ngược lại, nó càng rệu rã hơn. Vì thế, lãnh đạo đảng lại phải bổ sung thêm vài điều cấm. Tuy bổ sung nhưng nội dung được ghép vào nhau nên vẫn giữ 19 điều với trên 1300 chữ. Tại sao 19? Chắc rằng muốn giữ nguyên con số như trong QĐ 47. Với nội dung trong 1300 chữ thì có thể biên soạn thành từ 1 cho đến trên 100 điều. Phải chăng 19 điều của QĐ 47 chỉ là ngẫu nhiên chứ không phải số 19 có gì đó linh thiêng.

Đã có nhiều bài bình luận về QĐ 37 với các quan điểm khác nhau. Lề Đảng hết lời ca ngợi, thì bộ máy đã rất sẵn sàng. Vừa nghe tiếng có gì đó do TBT phát ra là vội ca ngợi ngay mà chưa biết hay dở thế nào. Lề Dân chủ yếu là phân tích, phê phán, trong đó có ba ý chính. Một là, chuyến này ông Trọng xiết lại quá ghê. Hai là, tăng cường cấm đoán chỉ chứng tỏ đang bất lực. Ba là, ra văn bản chủ yếu để lên gân, dọa nhau chứ rồi chẳng giải quyết được việc gì đáng kể.

Thí dụ: 1- Cấm bản thân đảng viên nhập quốc tịch nước ngoài, mua bán tài sản nước ngoài chứ không cấm con và vợ/chồng làm chuyện đó. Thế thì lách điều này dễ ợt. 2- Cấm dùng bằng giả. Điều này thì dân thường cũng bị cấm chứ riêng gì đảng viên, mà bằng giả ít nguy hại hơn bằng thật với kiến thức giả, việc này đang lan tràn mà không sao cấm được.

Viết bài này tôi chỉ phản biện một vài điểm về hình thức (Về nội dung đã có một số người bàn đến).

Người làm lãnh đạo, quản lý, giáo dục khi ra lệnh cấm ai làm việc gì đó, phải hết sức thận trọng, cân nhắc. Dùng lệnh cấm trong đời sống giống như “Dùng độc trị độc” trong chữa bệnh. Một tổ chức thấy cần dùng nhiều lệnh cấm chứng tỏ đã và đang phạm sai lầm nghiêm trọng về đường lối mà không thể khắc phục được bằng những biện pháp giáo dục thông thường. Cấm chỉ là biện pháp thô bạo ở đầu ngọn. Điều cần và quan trọng bậc nhất là tìm đúng nguyên nhân cơ bản và có biện pháp chữa từ gốc rễ. Không giải quyết vấn đề từ gốc mà chỉ thô bạo xử lý việc đầu ngọn là cách làm của kẻ hung hăng, không những kém trí tuệ mà kém cả đạo lý.

Trong tổ chức, trong xã hội cần duy trì kỷ luật. Cao nhất là kỷ luật tự giác. Người xưa hay dùng từ “Vô vi” nhằm ca ngợi sự quản lý xã hội để cho mọi người tự giác tuân theo tự nhiên, theo đúng Đạo, đúng luật Trời. Để có được tự giác của mọi người thì bề trên phải có đường lối, có cách hành xử đúng đạo lý, gương mẫu, quần chúng bên dưới có lòng tin cậy và được bảo vệ bằng luật pháp nghiêm minh. Khi bề trên vì kém trí tuệ, phạm khuyết điểm thì đó là “Nhà dột từ nóc”, còn vì u mê mà tham quyền cố vị thì không chỉ dột mà hỏng nát, lại thêm quần chúng mất lòng tin vì cảm thấy bị lừa dối thì không cách gì tạo lập được sự tự giác cần có.

Về lệnh ‘cấm’, hoặc ‘không được làm’. Theo ngữ pháp và logic thì có thể ra lệnh: “Cấm làm việc X” hoặc “Không được làm việc X” chứ không có ý nghĩa thực tế khi ra lệnh: “Không được không làm việc X”. Thay cho “Không được không làm”, phải dùng “Bắt buộc phải làm”. Thông thường ở một vài biển cấm người ta còn thêm từ “không được”, như là để nhấn mạnh. Hãy phân biệt nội dung, ý nghĩa ba lệnh sau: 1- Cấm xả rác (ở đây); 2- Cấm không được xả rác (ở đây); 3- Cấm không xả rác (ở đây). Câu 1 và 2 có cùng nội dung, từ cấm hoặc không được ở 2, thêm vào là thừa, chỉ là để nhấn mạnh. Câu 3 là một lệnh vô nghĩa. “Cấm không” tuy là phủ định của phủ định nhưng dùng trong câu mệnh lệnh sẽ vô nghĩa.

Hãy xem một số diễn tả của QĐ 37. Trong QĐ, cụm từ “Không được” đã đặt thành “thừa số chung” cho mọi điều, dưới đây khai triển nó ra cho từng ý.

Điều 2- Không được không chấp hành các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng.

Điều 3- Không được không thực hiện trách nhiệm nêu gương. Không được không bảo vệ khi thấy đúng, không được không đấu tranh khi thấy sai.

Điều 5- Không được không đăng tải ý kiến phản hồi.

Điều 6- Không được không thực hiện các quy định của Đảng và pháp luật về bảo vệ người tố cáo,

Điều 11- Không được không báo cáo, không được không xử lý các hành vi tham nhũng, lãng phí.

Điều 16- Không được không thực hành tiết kiệm.

Những việc vừa kể trên là cần thiết, quan trọng, phải làm. Hãy ghi chúng vào mục nhiệm vụ ở văn bản khác. Ghi chúng vào trong các điều không được làm nghe quá lạ. Không những lạ mà sai về ngữ pháp và logic.

Một số điều ghi ở QĐ 47 cũng như ở QĐ 37 là thừa, vì Hiến pháp và Luật đã có quy định cho công dân, như vậy cũng đã quy định cho đảng viên. Đó là các việc như:

Làm những việc mà pháp luật không cho phép (điều 1); Tố cáo có nội dung mang tính bịa đặt, xúi giục, mua chuộc, cưỡng ép người khác khiếu nại, tố cáo. (điều 6). Đả kích, vu cáo, xúc phạm, nhận xét, đánh giá tùy tiện đối với tổ chức, cá nhân (điều 8). Sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận giả (điều 9). Tham ô, đưa, nhận, môi giới hối lộ, hoạt động rửa tiền (điều 14). Đánh bạc, hành vi bạo lực (điều 18).

Không được tự ứng cử, nhận đề cử và đề cử các chức danh của tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc… khi chưa được tổ chức Đảng có thẩm quyền cho phép (điều 2) là hạn chế quyền dân chủ. Theo Điều lệ Đảng thì đảng viên có quyền ứng cử, đề cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng. Đó là quyền đương nhiên, không cần thêm điều kiện “được tổ chức đảng có thẩm quyền cho phép”.

Điều 3 với nội dung mới như sau: (Không được) Phản bác, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không thực hiện trách nhiệm nêu gương; chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; “tư duy nhiệm kỳ”, đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chủng.

Nội dung trên có một số điểm tù mù, dễ lẫn lộn. Chủ nghĩa Mác- Lê nin là một khái niệm rất rộng. Thí dụ 1- Tuyên ngôn cộng sản năm 1848 có thuộc Chủ nghĩa đó không. Trong Tuyên ngôn đó viết rằng, phải xóa bỏ mọi tư hữu. Thế thì ĐCS đang khuyến khích kinh tế tư nhân có phản bác CN Mác-Lê không. Hay là không được phản bác bằng bài viết hoặc lời nói còn làm thực thì được, hay là chỉ cấm đảng viên thường, còn toàn đảng thì được. Thí dụ 2- Có người phát hiện rằng, lý thuyết đấu tranh giai cấp, định nghĩa bản chất con người của Mác, quan điểm về nhà nước của Lê-nin là không đúng với thực tế, họ muốn nêu ra và thảo luận để nhận thức chân lý. Việc này có bị cho là vi phạm điều cấm hay không.

Về trách nhiệm nêu gương: Cán bộ, đảng viên làm tròn trách nhiệm là theo nghĩa vụ và lương tâm, khi làm tốt sẽ có tác dụng nêu gương. Còn làm việc gì mà chăm chăm vào trách nhiệm nêu gương thì đã bị lệch lạc trong động cơ.

Về chủ nghĩa cá nhân: Trên thế giới chủ nghĩa này vốn có nhiều tích cực, nhưng rồi ở Việt Nam, có người đã gán cho nó toàn những thứ xấu xa, vì vậy nên chăng viết rõ: Chủ nghĩa cá nhân theo định hướng XHCN của VN, để khỏi nhầm với cách hiểu thông thường.

***

Nhân đây, tôi xin kê ra vài điều QĐ 37 có sửa so với QĐ 47 nhưng nửa vời. Những sửa chữa ấy không biết là ban soạn thảo tự nghĩ ra hay là theo góp ý của bài đã dẫn (*)

Ở QĐ 47 tại các điều 8, 11 và 16 có quy định “Cấm việc để cho bố, mẹ, vợ (chồng), con, anh chị em ruột thực hiện một số điều như làm dự án, kinh doanh, lợi dụng chức vụ, đi du lịch tham quan… trái quy định.

Bài (*) viết: Theo lôgic thì không cấm việc để cho những người khác ngoài các người đã kể (như chú bác cô cậu, anh chị em họ, bạn bè, người quen…) làm trái quy định. Thí dụ có đảng viên cao cấp để cho ông cậu lợi dụng chức vụ của mình nhằm trục lợi, không thể kết luận đảng viên đó vi phạm điều 11, vì ông cậu không thuộc những người đã được liệt kê trong điều đó. Như vậy để xem xét hoặc xử phạt việc để cho ông cậu lợi dụng trục lợi phải vận dụng điều luật khác. Mà đã có điều luật khác bao quát hơn thì còn cần soạn thêm điều cấm 11 làm gì.

Ở QĐ 37 sửa lại như sau: Can thiệp, tác động hoặc để vợ (chồng), con, bố, mẹ, anh, chị, em ruột mình, bên vợ (chồng) và người khác lợi dụng chức vụ, vị trí công tác của mình để trục lợi… đi du lịch, học tập, chữa bệnh (điều 11 và 17).

Ở QĐ 47 viết: Tổ chức tiệc cưới, việc tang, các ngày lễ, tết, sinh nhật, kỷ niệm ngày cưới; mừng thọ, mừng nhà mới, lên chức, lên cấp, chuyển công tác xa hoa, lãng phí hoặc nhằm trục lợi” (điều 19).

Bài (*) phân tích: Quy định như vậy tưởng là hết sức chặt chẽ nhưng nếu tổ chức ăn mừng khỏi ốm, ăn mừng tránh được tai nạn (của bất kỳ người nào trong gia đình) nhằm trục lợi thì rõ ràng không vi phạm điều cấm vừa kể.

Ở QĐ 37 đã chữa như sau: Tổ chức việc cưới, việc tang và các sự kiện khác của cá nhân, gia đình xa hoa, lãng phí hoặc nhằm mục đích vụ lợi.

Thêm vào các từ ‘và người khác’ hoặc ‘các sự kiện khác’ có chặt chẽ hơn, nhưng vẫn rườm rà, có thể viết ngắn gọn hoặc sáng sủa hơn.

_______

Ghi chú: (*) Tôi không tìm được Link của bài này, nhưng giữ được văn bản. Vị nào, bạn nào cần tham khảo xin gửi email cho ndcong37@gmail.com để nhận nó.