Bài đăng nổi bật

Bức tường Berlin (Phần 1): Nước Đức chia cắt

  Bức tường Berlin (Phần 1): Nước Đức chia cắt 12/08/2021 Nguyễn Thọ 12-8-2021 Vào ngày này cách đây 60 năm, đêm 12, rạng sáng ngày 13.08.19...

Thứ Ba, 1 tháng 12, 2020

Thừa cơ “nước đục thả câu” – Tập liền “tác quái” trên bờ Biển Đông

 

Thừa cơ “nước đục thả câu” – Tập liền “tác quái” trên bờ Biển Đông

Hoàng Trung 

Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) vừa kết thúc hôm 14/11 với việc Tuyên bố Hà Nội được ký kết mà không hề đề cập đến tranh chấp Biển Đông thì hôm 16/11 Trung Quốc đã thông báo tập trận, cấm tàu bè vào Biển Đông.

Tài khoản Twitter của Nhân dân Nhật báo Trung Quốc bản tiếng Anh hôm 16/11/2020 đã đăng tải tấm ảnh đảo Duy Mộng (thuộc quần đảo Hoàng Sa) kèm thông báo tập trận ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) và lệnh cấm tàu bè qua lại.

 

Thông báo số GD039 của Cục An toàn hàng hải Quảng Đông cho biết, Trung Quốc sẽ tiến hành huấn luyện quân sự tại Biển Nam Trung Hoa, khu vực phía tây bán đảo Lôi Châu, tức vùng biển phía Bắc Vịnh Bắc Bộ từ ngày 17/11 đến ngày 30/11. Vị trí cụ thể là khoảng 21,23 độ vĩ Bắc và 109,54 độ kinh Đông.

Cục An toàn Hàng hải Quảng Đông cho biết việc tàu thuyền sẽ bị cấm đi lại trong khu vực có bán kính 5km.

Hiện Việt Nam vẫn chưa phản ứng với thông tin này.

Một thông báo khác của cơ quan an toàn hàng hải Trung Quốc cũng thông báo về cuộc tập trận ở ngoài khơi Hồng Kông ở phía Bắc Biển Đông, gần đảo Đông Sa của Đài Loan bắt đầu vào ngày 17/11.

Theo các thông báo của hai cơ quan gồm Cục Hải sự tỉnh Quảng Đông và Cục Hải sự tỉnh Hải Nam thì từ đầu năm đến nay, quân đội Trung Quốc tiến hành ít nhất 8 cuộc tập trận tại Biển Đông, trong đó có 5 cuộc xung quanh khu vực Quần đảo Hoàng Sa.

Trong một diễn biến liên quan khác, ngày 14/11/2020 báo South China Morning Post dẫn lại nguồn tin từ một cựu sĩ quan quân đội Trung Quốc cho biết lần đầu tiên phía Trung Quốc tiết lộ chi tiết về vụ tập trận tên lửa diệt tàu sân bay ở Biển Đông hồi tháng 08. Theo nguồn tin này, các tên lửa DF-26B et DF-21D đã bắn trúng mục tiêu đang chuyển động gần quần đảo Hoàng Sa. Người cung cấp thông tin cho biết đây là « một tín hiệu để cảnh báo Hoa Kỳ không có các hành động phiêu lưu quân sự ».

Thông báo tập trận được đưa trong bối cảnh các cuộc họp cấp cao quan trọng giữa ASEAN trong vai trò là vị trí trung tâm với các đối tác trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương vừa mới kết thúc với “nhiều niềm vui” cho Trung Quốc.

Tuyên bố Hà Nội là tuyên bố chung được 18 quốc gia thành viên ký kết nhân dịp Thượng đỉnh Đông Á (EAS) được tổ chức tại Hà Nội qua hình thức trực tuyến tối 14/11.

EAS là diễn đàn gồm 10 quốc gia thành viên ASEAN và các quốc gia khu vực Đông Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản), cũng như Úc, New Zealand, Ấn Độ, Mỹ, và Nga. EAS được coi là diễn đàn hàng đầu ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến an ninh và quốc phòng. Kể từ khi thành lập vào năm 2005, hội nghị đã đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển chiến lược, địa chính trị và kinh tế của Đông Á.

Tuyên bố Hà Nội nhấn mạnh đến cam kết giữa các quốc gia trong khối trong việc đảm bảo môi trường thuận lợi để kiểm soát dịch bệnh, trong bối cảnh đại dịch virus corona vẫn đang hoành hành trên toàn thế giới. Ngoài các hợp tác khác, tuyên bố cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) trong việc tăng cường hợp tác kinh tế trong khu vực.

Tuy nhiên trong Tuyên bố Hà Nội, các tranh chấp Biển Đông, đặc biệt tăng cao trong năm nay với các hoạt động gây hấn của Trung Quốc giữa bối cảnh đại dịch, không được đề cập. Tuyên bố chỉ nói rằng các quốc gia thành viên sẽ “tăng cường các hành động thực tiễn và sự phối hợp toàn diện trong những lĩnh vực ưu tiên của hợp tác Thượng đỉnh Đông Á, và các ứng phó đối với các thách thức cùng quan tâm.”

Điều đặc biệt là ngay trước đó tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 37 hay tại Thượng đỉnh Mỹ – ASEAN lần thứ 8 cũng như tại chính Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS), các nhà lãnh đạo Đông Nam Á nói riêng và châu Á – Thái Bình Dương nói chung đều bày tỏ quan ngại về tình hình Biển Đông.

Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN mở ra tại Hà Nội hôm 12/11, Việt Nam và Philippines liên thủ thúc đẩy hồ sơ Biển Đông để yêu cầu một giải pháp hòa bình, trên tinh thần tôn trọng luật pháp quốc tế.

Với tư cách chủ tịch luân phiên của ASEAN, lại là nước bị Trung Quốc lấn lướt dữ dội nhất trong thời gian gần đây, Việt Nam không thể không nêu bật vấn đề Biển Đông bị Trung Quốc tranh chấp một cách trái phép ra trước công luận khu vực và thế giới, nhân hội nghị lần này. Trong bài phát biểu khai mạc hội nghị của lãnh đạo 10 nước ASEAN hôm 12/11, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đã gián tiếp đề cập đến vấn đề Biển Đông và các hành động hung hăng áp đặt yêu sách chủ quyền của Trung Quốc, đồng thời ca ngợi quyết tâm mạnh mẽ của ASEAN trong việc xây dựng Biển Đông trở thành vùng biển hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn.

Một ngày trước đó, hội nghị các ngoại trưởng ASEAN hôm 11/11 đã kết luận: “Biển Đông tiếp tục là vấn đề nổi lên trong tình hình quốc tế và khu vực” với “nhiều hành động đơn phương, trong đó có quân sự hóa, đòi hỏi chủ quyền thiếu căn cứ, hành xử áp đặt vẫn tiếp diễn gây lo ngại đến hòa bình ổn định trên Biển Đông nói riêng, khu vực nói chung.”

Điều đáng chú ý là Philippines đã bất ngờ trở thành nước lên tiếng mạnh nhất trên vấn đề Biển Đông, cho dù lãnh đạo nước này thường được cho là có xu hướng hòa hoãn với Bắc Kinh.

Sau phát biểu của Thủ tướng Việt Nam, trong diễn văn của mình, Tổng thống Philippines đã bất ngờ lên tiếng bảo vệ phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực La Haye năm 2016 bác bỏ các yêu sách chủ quyền quá đáng của Trung Quốc tại Biển Đông.

Tổng thống Philippines cũng đã gợi lại diễn văn mà ông đọc trước Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc vào tháng 9 vừa qua nhấn mạnh phán quyết trọng tài năm 2016 là một thực tế “mà không một quốc gia nào có thể bỏ qua, cho dù nước đó có mạnh đến đâu chăng nữa”. Còn tại Thượng đỉnh Mỹ – ASEAN lần thứ 8, cũng theo hình thức trực tuyến, trưởng đoàn phía Mỹ là cố vấn an ninh quốc gia Robert O’Brien, thay mặt cho tổng thống Donald Trump, đã lên tiếng thúc đẩy các nước Đông Nam Á tích cực phát huy một vùng Ấn Độ – Thái Bình Dương tự do và mở, một khu vực đang phải chịu các hành vi bành trướng của Trung Quốc.

Trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng tăng cường các hành vi gây hấn ở Biển Đông, chèn ép các nước ASEAN đang có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc như cản trở các hoạt động đánh bắt cá và thăm dò khoáng sản của các quốc gia láng giềng trong những năm gần đây, ông O’Brien đã nhấn mạnh đến lợi ích to lớn mà quan hệ đối tác giữa hai bên mang lại cho sự thịnh vượng, an ninh và hạnh phúc của hơn một tỷ người ở Hoa Kỳ và các quốc gia ASEAN, đồng thời tái khẳng định cam kết lâu dài của Hoa Kỳ đối với một vùng Ấn Độ – Thái Bình Dương tự do và mở.

Còn tại chính Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) tối 14/11, các nhà lãnh đạo châu Á – Thái Bình Dương đã bày tỏ quan ngại về tình hình Biển Đông, dù không nêu đích danh Trung Quốc.

Một quan chức của chính phủ Nhật Bản cho hãng tin Kyodo biết, Thủ tướng Yoshihide Suga đánh giá những hành động ở Biển Đông và biển Hoa Đông “đi ngược lại với luật pháp và xu thế cởi mở” và chia sẻ những quan ngại này với các nước trong khu vực. Yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Sekaku/Điếu Ngư do Nhật Bản kiểm soát đã bị Thủ tướng Suga bác bỏ tại Hội nghị EAS vì xâm phạm chủ quyền của Nhật Bản.

Phía Ấn Độ cũng bày tỏ quan ngại trước những “hành động” và “sự cố” đang phá hủy niềm tin ở Biển Đông, theo trang BC Focus. Phát biểu tại Hội nghị EAS, Ngoại trưởng Ấn Độ, S. Jaishankar nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc tôn trọng luật pháp quốc tế, toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền.

Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị từng hối thúc các nước ASEAN hoàn thiện Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC). Tuy nhiên, song song với tiến độ, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long nhấn mạnh đến một bộ quy tắc ứng xử “hiệu quả và thực chất” và “vẫn còn nhiều việc phải làm”.

Theo nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, Viện ISEAS-Yusof Ishak ở Singapore, khi đề nghị tăng tốc đàm phán, Bắc Kinh muốn thúc ép ASEAN chấp nhận các điều khoản có lợi cho Trung Quốc, không chấp nhận để Hoa Kỳ can thiệp vào Biển Đông.

Lý giải cho việc mặc dù diễn biến các cuộc họp thượng đỉnh đều đề cập đến tranh chấp Biển Đông nhưng văn kiện quan trọng nhất được thông qua tại Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) là Tuyên bố Hà Nội lại không nhắc đến vấn đề nhạy cảm này, giới quan sát đã đưa ra một số nguyên nhân.

Các nhà phân tích cho rằng những chủ đề về ứng phó với đại dịch COVID-19 và việc ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực RCEP được chờ đợi từ lâu đã “nâng cao tâm trạng của mọi người” tại cuộc họp thượng đỉnh ở Hà Nội trong khi không ai có bất cứ một đề xuất gì mới để nới lỏng tranh chấp hàng hải sau một năm đầy biến động với sự phản đối mạnh mẽ của Mỹ trước các hoạt động của Trung Quốc trên biển.

Việt Nam cùng 14 quốc gia khác trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Trung Quốc, hôm 15/11 ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực, RCEP. RCEP được Trung Quốc hậu thuẫn từ khi được khởi xướng vào năm 2012 và được cho là một công cụ để Trung Quốc tăng sức mạnh địa chính trị ở châu Á – Thái Bình Dương.

Oh Ei Sun, thành viên cao cấp của Viện nghiên cứu Các vấn đề Quốc tế của Singapore, nói với phóng viên Ralph Jennings của VOA rằng: “Giữa tâm trạng ăn mừng này, tôi không nghĩ rằng họ sẽ làm gì để giảm bớt điều đó bằng một điều gì đó rất khắc nghiệt trên Biển Đông.”

Theo nhà nghiên cứu Oh, các nước Đông Nam Á đang gác lại tranh chấp hàng hải trong năm nay để chờ Tổng thống đắc cử Mỹ cho biết quan điểm của ông về vấn đề này.

Ông Stephen Nagy, phó giáo sư cấp cao về chính trị và nghiên cứu quốc tế của Đại học Cơ đốc giáo Quốc tế ở Tokyo cũng nhận định: “Tôi nghĩ khủng hoảng COVID có lẽ sẽ làm cho (các nước ASEAN) khó khăn trong việc đặt ưu tiên vào một bộ quy tắc ứng xử trong khi họ đang lo ngại nhiều hơn về việc phục hồi kinh tế trong nước và nối lại thương mại, du lịch cùng mọi thứ khác.”

Hơn nữa, theo các nhà quan sát, do việc trưởng phái đoàn Mỹ chỉ là cố vấn an ninh chứ không phải là tổng thống, tiếng nói của Hoa Kỳ tại Thượng đỉnh Mỹ – ASEAN cũng như Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) lần này bớt đi tầm quan trọng, một điều đáng tiếc vào lúc Hoa Kỳ và ASEAN kỷ niệm 5 năm Quan hệ Đối tác chiến lược

Ông Trump đã tham dự Thượng đỉnh ASEAN vào năm 2017 ở Philippines, nhưng sau đó đã không dự bất kỳ hội nghị nào.

Lần này, tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á EAS, trưởng đoàn Mỹ chỉ là ông O’Brien, trong lúc các nước khác đều có đại diện cấp nguyên thủ quốc gia hay thủ tướng chính phủ.

H.T.

Nguồn: Thoibao.de


Chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh cần báo chí tư nhân

 

Chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh cần báo chí tư nhân

Triệu Tử Long 

Sở dĩ cần đến kênh truyền thông của báo chí tư nhân, là để phù hợp với mô hình quản trị “Chính quyền đô thị”.

Theo quyết định của Quốc hội, chính quyền TP.HCM sẽ không còn Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp quận, phường, và sẽ có thành phố trong thành phố.

Nhà chức trách nói rằng việc không tổ chức HĐND quận, phường thì quyền đại diện của cử tri sẽ được mở rộng thông qua các kênh đoàn đại biểu và đại biểu Quốc hội, HĐND và đại biểu HĐND TP, các tổ chức chính trị, Mặt trận Tổ quốc...

Như vậy quyền đại diện của cử tri được nâng lên một mức cao, tạo điều kiện để chính quyền vận hành thể hiện sự công bộc, lấy hiệu quả cuộc sống, an lành, ấm no của người dân là thước đo hiệu quả bộ máy cấp cơ sở.

Việc giám sát của người dân thông qua các kênh mở rộng xuất phát từ đòi hỏi, yêu cầu của cử tri buộc cán bộ, công chức phải thực hiện trách nhiệm xây dựng chính quyền vững mạnh, bảo đảm cuộc sống yên bình của người dân. Bên cạnh đó đảm bảo tiết kiệm ngân sách có đủ điều kiện thêm lực cho chương trình đầu tư phát triển, chính sách dân sinh.

Trong bối cảnh dự kiến sẽ như trên, cho thấy để giúp cử tri có thêm kênh ghi nhận ý kiến đa chiều qua hình thức báo chí, và để tiết kiệm ngân sách, cần chấp nhận các tòa soạn báo chí tư nhân hoạt động độc lập, không còn phải buộc ‘liên kết’ như lâu nay với tờ báo nào đó thuộc nhà nước.

PGS. TS Nguyên Hữu Đổng, Viện Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, phân tích như sau:

“Các mặt đối lập cơ bản trong khái niệm báo chí là báo và chí. Nhìn từ góc độ các mặt đối lập song - hành, báo được nhìn nhận là hiện tượng thông tin của cộng đồng, quốc gia; còn chí là các tiêu chí thông tin của cộng đồng, quốc gia.

Nhìn nhận từ góc độ các mặt đối lập nhân - quả, báo được nhìn nhận là các mục tiêu thông tin của báo chí được thông báo trong cộng đồng, quốc gia; còn chí là các tiêu chí thực hiện mục tiêu thông tin của báo chí được thông báo trong cộng đồng, quốc gia.

Do vậy, khi nói đến báo chí là phải đề cập đến các mặt đối lập của chủ thể báo chí. Trong thể chế quốc gia hiện đại có các mặt đối lập chung là “nhà nước pháp quyền” và “xã hội dân sự”. Theo đó, thể chế báo chí quốc gia cũng có các mặt đối lập chung về chủ thể là báo chí của nhà nước và báo chí của xã hội - tư nhân.

Trong các thể chế quốc gia hiện đại, việc tồn tại báo chí tư nhân là một hiện tượng khách quan. V.I. Lênin - Người sau khi trải qua kinh nghiệm thực tiễn xây dựng xã hội mới ở nước Nga sau bốn năm cầm quyền nhận thấy có nhiều sai lầm, vào năm 1921, đã chỉ ra rằng: “... giai cấp vô sản chủ trương không phải là thủ tiêu báo chí tư nhân, mà là bắt báo chí tư nhân phải chịu một sự kiểm soát nào đấy của nhà nước, và là lái nó vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước”

Sắc lệnh quy định việc nhà nước nắm độc quyền quảng cáo có nghĩa là trong nước vẫn còn có báo chí tư nhân như hiện tượng thông thường, có nghĩa là vẫn còn có chính sách kinh tế đòi hỏi phải có những quảng cáo tư nhân, vẫn còn có chế độ tư hữu, vẫn còn có cả một loạt những xí nghiệp tư nhân cần rao hàng và quảng cáo”. (V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M, tập 44).

Theo quan điểm của Lênin, báo chí tư nhân trong quốc gia được nhìn nhận như một yêu cầu không thể thiếu khi có tự do sản xuất kinh doanh, trao đổi mua bán hàng hóa. Theo đó, báo chí tư nhân là chỉ do nhà nước quản lý bằng luật pháp, thay cho các sắc lệnh cấm đoán khi nhà nước vô sản mới thiết lập mấy năm đầu; còn sự lãnh đạo của các đảng viên Đảng cộng sản Nga đối với báo chí cần được nhìn nhận là phải “phục vụ” các tờ báo nhà nước, tư nhân làm đúng trách nhiệm, chức năng của báo chí đối với đất nước, nhân dân.

Trong giai đoạn hiện nay, báo chí tư nhân ở Việt Nam có cần hay không? Câu trả lời là rất cần. Tuy nhiên, trong thực tế thì báo chí tư nhân lại đang bị “rào lại” đường đi của mình; tức báo chí tư nhân đang bị “cấm đường” (lề trái) - đường ngược chiều, mà lẽ ra nó phải được đi theo đúng quy luật khách quan.

Điều đó chỉ ra rằng, ở Việt Nam, cần phải hình thành và tôn trọng sự tồn tại của báo chí tư nhân. Báo chí tư nhân tương tự như “lề trái” của con đường; còn báo chí nhà nước tương tự như “lề phải” của con đường đi đến xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường, con đường này được coi như “đường cao tốc” với hai bên đường ngược chiều nhau (đường của kinh tế “nhà nước” - công, và đường của kinh tế “xã hội” - tư nhân); còn dải ngăn cách ở giữa tượng trưng như luật pháp (công lý) của Quốc gia...”.

Như phân tích ở trên, cho thấy cùng với “Chính quyền đô thị”, cần đến sự chung sức phụng sự xã hội của kênh truyền thông báo chí tư nhân. 

T.T.L.

VNTB gửi BVN

RCEP nói với chúng ta điều gì về địa chính trị khu vực và thế giới

 

RCEP nói với chúng ta điều gì về địa chính trị khu vực và thế giới

Huỳnh Minh Triết 

Các chuyên gia thế giới không nhất thiết đồng thuận với nhau về ảnh hưởng của RCEP, nhưng ít ai hoài nghi hai điều: thế giới không chờ được Mỹ, và Trung Quốc đang dần lấp vào chỗ trống Mỹ để lại. 

 Toàn cảnh Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP). Ảnh gốc: Mahanakorn Partners Group. Việt hóa: Luật Khoa.

Hôm 15/11, Trung Quốc cùng với 10 nước ASEAN và Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, New Zealand đã ký Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP).

Đây là hiệp định thương mại tự do (FTA) lớn nhất thế giới, bao phủ một phần ba dân số và 30% GDP toàn cầu.

Một số người xem thỏa thuận này như một chiến thắng áp đảo của Bắc Kinh trong bối cảnh Mỹ thoái lui khỏi Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP– thỏa thuận mà chính quyền Barack Obama thiết kế để kiềm tỏa Trung Quốc), nay chỉ còn là CPTPP- không có Mỹ.

Nhưng không phải ai cũng đồng ý như vậy.

Chiến thắng gần như trọn vẹn của Trung Quốc

Trong lễ ký qua mạng, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường hoan nghênh RCEP là “hy vọng giữa những đám mây mù” trong bối cảnh toàn cầu hiện nay. Ông cũng tuyên bố đây là “chiến thắng của chủ nghĩa đa phương và thương mại tự do”, một ám chỉ rành rành đến việc chính quyền của Tổng thống Mỹ Donald Trump rút khỏi các định chế quốc tế.

Đây là thỏa thuận thương mại đa phương đầu tiên của Trung Quốc, được một số nhà quan sát gọi là “cú lật bàn” của Bắc Kinh đối với Washington về vị thế thống trị trong khu vực.

“Thông điệp ngoại giao của RCEP cũng quan trọng y như về kinh tế – một cú đảo chính của Trung Quốc” – các nhà phân tích của Citi Research viết trong báo cáo hôm Chủ nhật.

Báo cáo chỉ ra rằng thỏa thuận đã “xua tan định kiến rằng Trung Quốc đang co cụm vào bên trong” với chiến lược tập trung vào thị trường nội địa. Ngoài ra, RCEP còn cho thấy các nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (TBD) không muốn phải lựa chọn giữa Mỹ và Trung Quốc về chính sách kinh tế. Thậm chí, các đồng minh quốc phòng chặt chẽ của Mỹ như Nhật Bản và Hàn Quốc cũng đặt bút ký thỏa thuận này với Trung Quốc, báo cáo của Citi Research viết.

Trên tờ Thời báo Hoàn Cầu, “cái loa” đối ngoại của Đảng Cộng sản Trung Quốc, giáo sư Thành Hán Bình, nghiên cứu viên cao cấp của Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông thuộc Đại học Nam Kinh thẳng thừng nói RCEP ” là một đòn giáng mạnh vào chính quyền Trump, vốn đã thổi phồng những xung đột thương mại bằng mọi giá.”

Một số nhà phân tích độc lập cũng cho rằng RCEP giúp đóng đinh ảnh hưởng của Bắc Kinh ở khu vực, trong bối cảnh các nước chưa rõ tân chính quyền Mỹ của Joe Biden sẽ hành xử như thế nào.

Tờ RFI liệt kê năm chiến thắng của Bắc Kinh sau thỏa thuận này, dù chưa trọn vẹn vì Ấn Độ rút lui vào năm 2019 do e ngại thị trường tràn ngập hàng giá rẻ Trung Quốc sẽ phá hủy ngành sản xuất nội địa.

“Bất chấp những nỗ lực cho đến tận những ngày cuối cùng trong nhiệm kỳ của Tổng thống Donald Trump để thuyết phục các đồng minh châu Á đoàn kết trước mối đe dọa Trung Quốc, hai thành viên của Bộ tứ Kim cương (nhóm QUAD) là Nhật và Úc đã hưởng ứng sáng kiến của Trung Quốc, ký kết vào một hiệp định vốn được khởi xướng để làm đối trọng với TPP”, tờ báo viết.

Lợi ích chiến lược áp đảo lợi ích kinh tế

Khác với phiên bản TPP còn Mỹ, khi Việt Nam thường xuyên được tung hô là nước “được lợi nhiều nhất”, thì trong RCEP, các nền kinh tế lớn như Trung Quốc mới được lợi nhiều nhất.

Nhưng mặc dù là thỏa thuận FTA lớn nhất thế giới, RCEP được đánh giá là ít tham vọng và hạn chế hơn nhiều so với TPP. Thuế quan giữa các thành viên vốn đã ít nhờ nhiều thỏa thuận song phương hoặc đa phương từ trước. Tuy vậy, thỏa thuận khổng lồ này đặt nền tảng cho sự hợp tác sâu hơn giữa các nước thành viên trong tương lai, đặc biệt là những nước chưa có thỏa thuận thương mại với nhau như Trung Quốc và Nhật Bản hay Hàn Quốc, Siom Baptist, kinh tế gia trưởng tại The Economist Intelligence Unit nhận định. 

RCEP cũng được đánh giá là không thể giúp Bắc Kinh bù đắp được tổn hại do chiến tranh thương mại với Mỹ gây ra.

He Weiwen, cựu quan chức Bộ Thương mại Trung Quốc, một chuyên gia chính sách thương mại Trung Quốc nổi tiếng, nói rằng dù sao thỏa thuận này vẫn đại diện cho một bước tiến lớn về phía trước.

“RCEP, nhờ quy mô của mình, chắc chắn sẽ đóng góp cho nền thương mại tự do thế giới”, ông He nói.

Mary Lovely, một chuyên gia cấp cao tại Viện Nghiên cứu Kinh tế Quốc tế Peterson tại Washington, cho rằng, với rào cản thuế quan thấp hơn, thỏa thuận này có thể khuyến khích các công ty quốc tế đang muốn tránh tổn thất từ cuộc chiến thương mại của ông Trump đối với hàng hóa sản xuất tại Trung Quốc, tiếp tục sản xuất tại châu Á hơn là phải chuyển về Bắc Mỹ.

“RCEP giúp các công ty quốc tế linh hoạt hơn trong việc luồn lách giữa hai cường quốc kinh tế đang gây chiến với nhau” bà Lovely nói. “Mức thuế thấp hơn trong khu vực tăng cường giá trị của việc hợp tác trong châu Á, trong khi các quy định giống nhau về nguồn gốc xuất xứ giúp họ dễ rút khâu sản xuất khỏi Trung Quốc đại lục, nhưng vẫn được tiếp cận thị trường này như cũ”.

Hơn thế, RCEP được đánh giá là một chiến thắng địa chính trị quan trọng của Bắc Kinh.

Deborah Elms, giám đốc Trung tâm Thương mại Châu Á tại Singapore, nói rằng, với RCEP, khi “ván đã đóng thuyền”, ASEAN khó mà cưỡng lại sức mạnh của Trung Quốc, đặc biệt là khi không còn Mỹ hay một cường quốc kinh tế nào có thể can thiệp, bênh vực cho các bên yếu thế hơn.

Tờ Time nhận định mặc dù thỏa thuận này có tính biểu tượng nhiều hơn là cân lượng, nhưng nó là một chỉ dấu rõ ràng cho thấy sức mạnh Trung Quốc đang lớn lên và ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực châu Á – TBD đang suy tàn. Thậm chí, các đồng minh hiệp ước của Mỹ như Nhật, Hàn, Úc đều tham gia thương lượng với Trung Quốc khi thiếu vắng một giải pháp kinh tế thay thế.

Một ASEAN khôn ngoan hơn

Viện Brookings của Mỹ lại có một góc nhìn khác.

Hai nhà phân tích của think tank này, Peter Petri và Michael Plummer, cho rằng RCEP thường bị gọi sai là thỏa thuận “do Trung Quốc dẫn dắt”. Thực ra, đó là “chiến thắng của đường lối ngoại giao trung dung của ASEAN”. Theo hai tác giả, Đông Nam Á sẽ có được lợi ích to lớn, tăng GDP 19 tỷ USD mỗi năm cho đến năm 2030, dù ít hơn các nước Đông Bắc Á khác bởi vì các nước này đã có các thỏa thuận thương mại tự do với các nước trong khối.

Theo bài viết của Viện Brookings, ASEAN, chứ không phải Trung Quốc hay Nhật Bản, mới là kiến trúc sư về mặt chính trị để dự án RCEP thành công. “Nếu không có ASEAN ở trung tâm, RCEP có thể không bao giờ có thể bắt đầu”, báo cáo viết.

RCEP giúp Trung Quốc củng cố mối quan hệ với các láng giềng châu Á sau tám năm đàm phán “theo cách của ASEAN”, thường được mô tả là chậm chạp nhưng linh hoạt. Tám năm cũng là thời gian xứng đáng để các nước nhỏ, yếu thế hơn xác định được vị trí cân bằng và tìm được lợi ích trước một Trung Quốc lọc lõi. Sự ra đời của RCEP đánh dấu cho thành công của quá trình mà Bộ trưởng Thương mại Malaysia Mohamed Azmin Ali gọi là “đàm phán bằng máu, mồ hôi và nước mắt”.

Việc các nước quyết định ký RCEP ngay sau cuộc bầu cử đánh dấu sự kết thúc của chính quyền Trump cũng là một nước đi chiến lược.

Plummer nói ông hy vọng sự tồn tại của RCEP sẽ là động lực để Mỹ xây dựng lại các mối quan hệ ở khu vực. “Nếu không, ảnh hưởng của Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng mạnh, và Mỹ sẽ bị một khu vực kinh tế hứa hẹn nhất thế giới gạt ra rìa”.

Tuy vậy, giáo sư Petri của Đại học Brandeis, Boston – Hoa Kỳ, cảnh báo trên tờ SCMP rằng RCEP có thể trở thành công cụ để Bắc Kinh xây dựng mô hình và trật tự thương mại tại châu Á trong tương lai.

Những người hoài nghi

Nói với BBC Tiếng Việt, bà Phạm Chi Lan, nguyên Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho rằng việc Việt Nam ký RCEP có nhiều lợi ích, nhưng chính vì thế lại đáng lo.

Theo bà, việc Việt Nam gia nhập một thỏa thuận dễ dãi hơn so với TPP, sẽ khiến nước ta mất động lực phải cố gắng đổi mới, tạo giá trị, cũng như thoát khỏi sự phụ thuộc vào Trung Quốc.

“Tôi đặt câu hỏi ra là sự dễ dãi, dễ tính đó có giúp cho Việt Nam về dài hạn hay không, hay là vì ham làm với những thị trường dễ tính mà các doanh nghiệp Việt Nam, các ngành kinh tế, công nghiệp, nông nghiệp v.v… của Việt Nam sẽ không chịu đầu tư nghiêm túc để vươn lên làm những sản phẩm đạt chuẩn mực cao hơn của các thị trường khó tính hơn như EU, như Hoa Kỳ, như Nhật Bản, để từ đó nâng cấp bền vững, lâu dài các ngành xuất khẩu của mình, thay vì là chỉ cứ làm gia công mãi, hoặc là làm những sản phẩm với giá trị gia tăng rất thấp.”

Deborah Elms, nhà phân tích, sáng lập viên của Trung tâm Thương mại Châu Á, nói rằng RCEP không phải là quân bài thay đổi cuộc chơi cho Trung Quốc, bởi vì Trung Quốc vốn đã là đối tác thương mại lớn nhất nhì đối với mỗi nước khác trong khu vực. Tuy vậy, bà vẫn thừa nhận lợi ích kinh tế trong tương lai của thỏa thuận này. 

Ngoài ra, theo bà, thỏa thuận này cũng sẽ khiến các nhà chiến lược Mỹ-Âu phải để ý, bởi các doanh nghiệp của họ sẽ bỏ lỡ các cơ hội mà các công ty hoạt động trong RCEP sẽ được hưởng, như “miễn thuế hoặc thuế thấp, dễ dàng tiếp cận dịch vụ và tăng cường bảo vệ các khoản đầu tư”.

Thủ tướng Úc Malcolm Turnbull, tuy đặt bút ký gia nhập RCEP, nhưng không đánh giá cao thỏa thuận này cho lắm.

“Sẽ có tung hô và ca ngợi về lễ ký và khi RCEP bắt đầu có hiệu lực. Nhưng theo tôi RCEP là một thỏa thuận thương mại có tham vọng rất thấp. Chúng ta không nên tự lừa dối bản thân”, ông nói.

Người Mỹ từng coi thường, và giờ phải coi chừng

Để hiểu RCEP có ý nghĩa thế nào với Mỹ, ta cần nhìn lại con cá lớn đã tuột mất: TPP, hay còn gọi là Hiệp ước Đối tác Xuyên Thái Bình Dương.

TPP là nhân vật chính của nỗ lực xoay trục sang châu Á của Tổng thống Barack Obama. Đây là giải pháp được thiết kế để đối trọng với sức ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc bằng cách tăng cường hợp tác kinh tế với các đồng minh trong khu vực. TPP bao hàm một loạt các quy định về môi trường, nhân quyền, sở hữu trí tuệ, lao động nhằm khuyến khích các nước thành viên nỗ lực đi vào quỹ đạo của Mỹ. Ngoài ra, giới chức Mỹ cũng hy vọng khi có đủ các đối tác lớn của Trung Quốc trong khu vực tham gia TPP, Trung Quốc cũng sẽ buộc phải tham gia thỏa thuận này và tuân thủ theo luật chơi mà Mỹ đặt ra.

Khi cả TPP và RCEP đang được đàm phán, các quan chức Mỹ nhanh chóng coi thường RCEP là một thỏa thuận kém cỏi, chỉ tập trung vào thuế và các biện pháp thúc đẩy thương mại lạc hậu, trái ngược với TPP – thỏa thuận bao gồm các tiêu chuẩn cao về môi trường, lao động và các quy tắc đối với doanh nghiệp nhà nước.

Nhưng với việc Tổng thống Trump rút Mỹ ra khỏi TPP ngay sau khi nhậm chức hồi tháng 1/2017, tầm nhìn của Obama về TPP coi như đổ bể.

“Hoa Kỳ nay còn ít đòn bẩy hơn để gây sức ép buộc Trung Quốc thay đổi hành vi kinh tế và thương mại theo hướng gần gũi với các tiêu chuẩn của Mỹ hơn, về mặt lao động, môi trường, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và các vấn đề khác liên quan đến tự do thương mại”, Eswar Prasad, giáo sư kinh tế và chính sách thương mại, Đại học Cornell, người từng lãnh đạo Ban Trung Quốc của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, nói. 

Sự ra đời của RCEP ngay sau cuộc bầu cử cho thấy rằng có lẽ chính quyền Biden sẽ gặp khó khăn hơn nhiều so với dự tính trước đó để khôi phục thiệt hại của bốn năm “nước Mỹ trên hết” và việc Trump rút khỏi chủ nghĩa đa phương.

“Hiệp ước thương mại này trói buộc vận mệnh kinh tế của các nước tham gia vào Trung Quốc và qua thời gian sẽ kéo các nước này gần vào quỹ đạo kinh tế và chính trị của Bắc Kinh”, Prasad nói.

Nhà đàm phán thương mại Mỹ Wendy Cutler gọi việc ký kết RCEP là “một hồi chuông cảnh tỉnh mới đối với Mỹ về thương mại”.

Thỏa thuận này “nhắc nhở rằng các đối tác thương mại châu Á của chúng ta đã đủ tự tin để hợp tác với nhau mà không cần Mỹ”, Cutler, hiện là chủ tịch Viện Chính sách Xã hội Châu Á, viết trong một bài xã luận. “Đây là một trải nghiệm rất khác từ những ngày đầu của chính quyền Trump, khi mà các nước thành viên còn lại của TPP còn hoài nghi về khả năng thiết chế này tự vận hành khi không còn Washington”.

Đối với một số chuyên gia thương mại, thỏa thuận mới này cho thấy phần còn lại của thế giới sẽ không ngồi yên chờ Mỹ. Liên minh Châu Âu (EU) cũng ráo riết theo đuổi các cuộc đàm phán thương mại của riêng mình. Trong khi các nước đặt bút ký thỏa thuận, các nhà xuất khẩu của Mỹ có thể dần đánh mất vị thế dẫn đầu.

“Trong khi Mỹ đang tập trung vào các mối lo lắng trong nước, trong đó có việc chống đại dịch, khôi phục kinh tế và xây dựng cơ sở hạ tầng, tôi không chắc phần còn lại của thế giới sẽ ngồi chờ cho đến khi Mỹ phục hồi trật tự nội bộ”, Jennifer Hillman, nhà nghiên cứu cấp cao về thương mại và kinh tế chính trị thế giới tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (CFR) nói: “Tôi nghĩ rằng Mỹ sẽ có hành động đáp lại điều Trung Quốc đang làm”.

Trong một tuyên bố, Phòng Thương mại Mỹ (một tổ chức vận động phi lợi nhuận) thừa nhận họ lo ngại Mỹ đang bị bỏ lại phía sau khi các nền kinh tế châu Á – TBD tăng cường hợp tác. Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), khu vực này sẽ khôi phục mức tăng trưởng trung bình 5% trong năm 2021.

“Các nhà xuất khẩu, công nhân và nông dân Mỹ cần được tiếp cận đến thị trường béo bở này nếu họ muốn có phần trong con số tăng trưởng ấn tượng này”, tổ chức này nói.

Việc Mỹ thay đổi bất chợt với TPP cũng gieo bất an cho các nước trong khu vực khi định hình Mỹ là một đối tác đáng tin cậy. Nó cũng sẽ khiến cho tân chính quyền Joe Biden gặp nhiều khó khăn hơn khi muốn tái đàm phán gia nhập TPP (hay là CPTPP) hay một thỏa thuận mới với khu vực.

“Thậm chí nếu tôi đạt được một kết quả hai bên cùng thắng dưới thời một tổng thống Mỹ này, làm sao tôi biết thỏa thuận này sẽ còn tồn tại dưới thời tổng thống kế nhiệm? Nếu Mỹ đã có thể dễ dàng hủy bỏ cam kết của mình như thế, họ cũng có thể làm vậy trong tương lai”, Elms từ Trung tâm Thương mại Châu Á nói.

Khi được hỏi về phản ứng của ông đối với RCEP, Tổng thống tân cử Mỹ Joe Biden nói rằng Hoa Kỳ cần phải hợp tác với các nền dân chủ khác để “chúng ta, chứ không phải Trung Quốc”, mới là người đặt ra các quy tắc thương mại. Hôm thứ Hai, một ngày sau khi 15 nước ký duyệt RCEP, ông nói:

“Chúng ta đóng góp 25% thương mại thế giới, của nền kinh tế thế giới. Chúng ta phải hiệp đồng cùng các nền dân chủ khác, thêm 25% nữa hoặc nhiều hơn, để chúng ta có thể thiết lập luật lệ trên con đường này, thay vì để cho Trung Quốc và các nước khác ra lệnh chỉ bởi vì họ là tay chơi duy nhất trong vùng”. 

Biden không trực tiếp trả lời ông có đưa Mỹ trở lại TPP không, nhưng gợi ý: 

“Tôi hứa với các bạn, tôi có một kế hoạch tỉ mỉ, và tôi sẽ công bố nó vào ngày 21/1”, một ngày sau khi Biden tuyên thệ nhậm chức.

H.M.T.

Nguồn: Luật Khoa tạp chí


Ba lô cốt cần vượt qua ở sân bay Long Thành

 

Ba lô cốt cần vượt qua ở sân bay Long Thành 

Nguyễn Ngọc Chu 

Thủ tướng vừa phê duyệt quyết định xây sân bay Long Thành giai đoạn 1 với vốn đầu tư 109.111 tỷ đồng (4 tỷ 664 triệu usd) nhưng công suất chỉ 25 triệu khách/năm. Sợ rằng sự đội vốn sẽ là không tránh khỏi. Xin chia sẻ lại bài viết đúng tròn 1 năm trước: 

Trên thực tế thì vấn đề sân bay Long Thành (LT) và sân bay Tân Sơn Nhất (TSN) phần nào giống như vấn đề sát nhập Hà Tây vào Hà Nội. Đất đai khu vực sân bay LT đã được phân lô mua bán. Đất đai ở sân bay TSN cũng đã được ngầm phân chia. Giá trị bất động sản ở sân bay LT và sân bay TSN có sức công phá bằng “nhiều quả bom nguyên tử”. Sức mạnh này đã ép xây mới ngay sân bay LT và trì hoãn mở rộng sân bay TSN. 

BA LÔ CỐT CẦN VƯỢT QUA Ở SÂN BAY LONG THÀNH 

Sân bay Long Thành (LT) sẽ còn là vấn đề quan tâm của người Việt trong nhiều thập kỷ nữa, chứ không chỉ ở trong hội trường Quốc Hội tại vài kỳ họp. Bởi vì việc xây dựng sân bay LT hiện nay đang đặt ra những câu hỏi gai góc: Dùng bao nhiêu đất? Chi bao nhiêu tiền? Ai xây dựng? Và kết quả sẽ như thế nào? 


Đừng nghĩ giản đơn rằng, bằng quyền lực và lobby là có thể dành phần thắng. Bởi vì đó là phần thắng tạm thời trong phòng hội nghị. Ngay cả đó là phần thắng thực tế cho đến khi dự án được triển khai và kết thúc, thì đó vẫn là phần thắng tạm thời. Thắng hay thua chỉ phân giải khi sân bay LT được đưa vào khai thác. Lúc đó, mọi sự sẽ phơi bày trên thực tế mà quyền lực chính trị và quyền lực đồng tiền không có cách nào che phủ. Đó là lúc mới thấy sự thắng thua đích thực. Nhưng phần thua lúc đó, chỉ có nhân dân là người gánh chịu.

Bởi thế, phải rất sáng suốt từ bây giờ. Để khi đưa sân bay LT vào khai thác, nhân dân sẽ không phải gánh vác tổn thất. Nhất là tránh những tổn thất người đời day dứt.

TẠI SAO SỰ CHƯA HỢP LÝ LẠI THÀNH THỰC TẾ?

Việc TP.HCM có thêm sân bay mới ngoài sân bay Tân Sơn Nhất (TSN) là không tránh khỏi. Vấn đề là bao giờ và ở đâu.

Bởi thế đề xuất xây dựng sân bay LT đã bị kịch liệt phản đối. Không phải là không xây, mà là thời điểm chưa phù hợp. Đã có đề xuất hợp lý hơn như sau.

1. Sử dụng sân bay TSN và sân bay Biên Hòa trong cùng một cặp bổ trợ khăng khít vừa dân dụng vừa quân sự. Mở rộng sân bay TSN lên công suất 60- 70 triệu hành khách/năm. Phương án này mang lại lợi ích to lớn cho hành khách đến TP HCM vì sự thuận tiện về thời gian và tiền bạc. Phương án này giúp kéo dài thêm được hai thập kỷ nữa trước khi sân bay TSN quá tải và phải xây sân bay mới.

2. Chỉ xây sân bay LT sau năm 2030.

Đừng nghĩ rằng có sân bay LT thì giải tỏa sân bay TSN. Sân bay TSN là không thể thay thế. Với sự phát triển của TP.HCM, cả 2 sân bay TSN và LT và nữa là sân bay Biên Hòa cùng góp sức thì mới đáp ứng được nhu cầu. Nhưng có người muốn giải tỏa nhanh sân bay TSN.

Để không mở rộng sân bay TSN người ta vẽ con số cần 9,15 tỷ USD để có thêm 25 triệu khách/năm. Trong khi tính toán của tư vấn Pháp là 1,08 tỷ USD. Còn xây mới sân bay Long Thành giai đoạn 1 công suất 25 triệu khách/năm dự toán là 4,81 tỷ USD.

Trên thực tế thì vấn đề sân bay Long Thành và sân bay Tân Sơn Nhất phần nào giống như vấn đề sát nhập Hà Tây vào Hà Nội. Đất đai khu vực sân bay LT đã được phân lô mua bán. Đất đai ở sân bay TSN cũng đã được ngầm phân chia. Giá trị bất động sản ở sân bay LT và sân bay TSN có sức công phá bằng “nhiều quả bom nguyên tử”. Sức mạnh này đã ép xây mới ngay sân bay LT và trì hoãn mở rộng sân bay TSN.

Rõ ràng vấn đề xây dựng sân bay LT là không hợp lý về thời điểm. Nhưng bài toán trước mắt là làm thế nào để xây dựng được một sân bay LT đúng giá và hiệu quả. Có 3 lô cốt cần vượt qua.

LÔ CỐT VỀ ĐẤT ĐAI: KHỐNG CHẾ KHÔNG QUÁ 2.000 HÉC TA ĐẤT 

Phải khẳng định đề nghi sử dụng 5.000 héc ta đất để xây dựng sân bay LT là điều hoang phí phi lý. Điều hoang phí phi lý này dẫn đến tội lỗi. Tại sao lại nói là hoang phí phi lý? Bởi vì từ thực tiễn thống kê.

Thống kê về diện tích xây dựng sân bay của các nước cho ta thấy một vài con số sau:

Sân bay Changgi (Singapore): 1.300 ha, 85 triệu khách/năm; Sân bay Heathrow (London): 1.227 ha, 80 triệu khách/năm; sân bay Barcelona (Tây Ban Nha): 1.533 ha, 85 triệu khách/năm.

Sân bay lớn nhất thế giới (về hành khách) hiện nay là Hartsfield-Jackson Atlanta (Mỹ). Số khách năm 2018 đạt tới107 394 030. Hartsfield-Jackson Atlanta có 5 đường băng, 192 cổng (152 nội địa, 40 quốc tế) nhưng cũng chỉ chiếm 1.902 héc ta.

Từ những điều trên có thể khống chế, một cách giản đơn không bàn cãi, là dành cho sân bay Long Thành không thể vượt quá 2.000 héc ta đất.

Để ngăn chặn mục đích hoành tráng với đường băng dài làm lãng phí đất đai và tiền bạc, xin viện dẫn ra chiều dài đường băng của Hartsfield-Jackson Atlanta làm tiêu chí tham chiếu.

Hướng m ft Chiều dài Bề mặt

8L/26R 2.743 9.000 Bê tông

8R/26L 3.048 10.000 Bê tông

9L/27R 3.776 12.390 Bê tông

9R/27L 2.743 9.000 Bê tông

10/28 2.743 9.000 Bê tong

LÔ CỐT VỀ KINH PHÍ: GIỚI HẠN TRẦN 8 TỶ USD 

Việc ACV dự toán vống lên 16 tỷ USD cho sân bay Long Thành là điều dễ hiểu. Bởi vì như vậy sẽ rộng bầu trời cho ACV vùng vẫy. Chưa nói đến trong tương lai ACV sẽ còn đề nghị tăng vốn nhiều nữa vì trượt giá, vì thay đổi thiết bị với công năng…Nghĩa là còn vô vàn lý do để tăng vốn.

Nhưng điều ACV đã dự liệu mà không thể che kín, là kinh phí và đất đai dành cho sân bay Long Thành quá lớn, nên dẫu ACV có lobby mạnh đến đâu cũng không che được mắt cộng đồng, nhất là trong thời đại internet hiện nay.

Ông Phó Tổng giám đốc ACV Đỗ Tất Bình hôm nay buộc phải thanh minh rằng “suất đầu tư cho sân bay Long Thành tương đương sân bay New Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) và sân bay Đại Hưng (Trung Quốc). Theo ông Bình, suất đầu tư sân bay Long Thành khoảng 16 tỷ USD là tương đương với sân bay Đại Hưng (Trung Quốc) tổng mức đầu tư 11,7 tỷ USD, đã khai thác từ tháng 9/2019 với công suất 72 triệu hành khách một năm (tương đương 16 tỷ USD cho 100 triệu hành khách). Tương tự là sân bay New Istanbul, tổng đầu tư khoảng 12tỷ USD với công suất 90 triệu hành khách/ năm (tương đương khoảng 14,9 tỷ USD cho 100 triệu hành khách – Vnexpress 15/11/2019). Không hiểu ông Bình tính tương đương kiểu gì, vì nếu theo New Istanbul thì đầu tư cho sân bay Long Thành phải là (12/90) x100 = 13,3 tỷ USD – là con số khác xa với 16 tỷ USD của ACV.

Còn nhiều suất đầu tư thấp khác nữa mà ACV cố tình quên viện dẫn, trong đó có sân bay Bangkok của nước láng giềng Thái Lan với 5 tỷ USD cho 100 triệu hành khách từ năm 2006. Nhắc thêm là sân bay Kuala Lumpur của Malaysia xây dựng từ năm 1998 mất có 3,5 tỷ USD mà trong năm 2018 chở 59.988.409 hành khách, 714. 669 tấn hàng hóa, với 399.827 chuyến bay và vẫn còn xa công suất thực.

Tóm lại, tổng số tiền đầu tư cho sân bay Long Thành là lô cốt thứ 2 cần phải vượt qua. Công thức tổng quát: Lấy số tiền mà Bộ GTVT dự toán cắt đi một nửa rồi giao cho tư nhân làm vẫn còn dư giả. Như vậy, tổng số mức đầu tư của sân bay Long Thành sẽ không vượt quá 8 tỷ USD. Thực ra, nếu để cho các tập đoàn tư nhân đầu tư thì tổng mức đầu tư sân bay LT công suất 100 triệu khách/năm sẽ không vượt quá 5 tỷ USD.

LÔ CỐT VỀ ĐẤU THẦU: KHÔNG CHỈ ĐỊNH THẦU 

Tại sao phải chỉ định ACV là chủ đầu tư sân bay Long Thành? Một trong những lý do là rút ngắn được 1 đến 2 năm thời gian đấu thầu. Đây là sự ngụy biện nguy hiểm. Vì tiết kiệm thời gian đấu thầu không có nghĩa khi vào xây dựng thì ACV xây dựng nhanh hơn các nhà thầu khác. Thời gian xây dựng là do chính phủ quy định. Tất nhiên là quy định hợp lý. Nhà thầu nào đáp ứng được thì mới chấp nhận. Thực tế chứng minh, các công trình của doanh nghiệp nhà nước kéo dài lê thê, chậm tiến độ nhiều năm hơn cả thời gian dự kiến. Giao sân bay Long Thành cho ACV thì kéo dài dự án là điều không tránh khỏi. Ở mặt khác, khi chỉ định ACV là chủ thầu không qua đấu thầu, thì sự thất thoát lớn trong xây dựng là không tránh khỏi dẫu Chính phủ có kiểm tra bằng cách nào đi nữa. Điều này không cần lập luận thêm vì minh chứng thực tế quá đủ.

Nói rằng, việc xây dựng ngay sân bay Long Thành không thể thay đổi là điều không đúng. Nếu có một nhà lãnh đạo quyết đoán có quan điểm khác, thì sân bay Tân Sơn Nhất sẽ được tức thì mở rộng lên công suất 60 – 70 triệu hành khách/năm. Lúc đó vấn đề xây dựng sân bay Long Thành là bài toán của thế hệ lãnh đạo sau nữa.

Ở nước ta điều nghịch lý dường như trù mật khắp mọi nơi. Chẳng hạn, trong khi trả lời chất vấn Quốc Hội, Bộ trưởng Bộ NN&PTNN Nguyễn Xuân Cường nói “ Không ai dự báo được giá cả ngày mai thế nào” (Baomoi.com, 06/11/2019), thì Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thể chưa xây sân bay Long Thành mà đã khẳng định là: “ Không một sân bay nào hiệu quả tốt như Long Thành ”(Vietnam finance, 12/11/2019).

Nghịch lý đó dọn đường cho lập kế hoạch về xây dựng, phân bố đất đai tầm nhìn dự báo mãi đến năm 2045 – 2050! Dự báo từ cấp huyện, tỉnh cho đến cấp trung ương. Dự báo khắp mọi nơi. Nghĩa là liên quan đến quy hoạch đất đai thì chia thật xa, thật nhiều.

Quy hoạch sân bay Long Thành cũng không thoát khỏi tầm nhìn viển vông về đất đai và vốn đầu tư. Đất hẹp dân đông mà quy hoạch phung phí. Tại sao vậy? Vì quy hoạch càng nhiều đất càng sinh lời cho chủ dự án. Tại sao lại có thể quy hoạch cho dự án nhiều đất đai? Vì đất đai là của toàn dân chứ không phải của một ai cụ thể. Khi mà đất là của tư nhân, thuận mua vừa bán, thì ông chủ sân bay Long Thành sẽ không cần quá 1.500 héc ta đất cho một cảng hàng không hiện đại công suất 100 -120 triệu khách/năm.

Tương tự như vậy là tổng mức đầu tư. Hãy nhìn sang các sân bay láng giềng Kuala Lumpur, Singapore. Các sân bay này được xây dựng từ 20 năm trước mà vẫn hiện đại sang trọng. Trong khi các nhà ga hàng không quốc tế Nội Bài, Tân Sơn Nhất mới xây dựng xong mà thua kém mọi mặt. Có chi cho sân bay Long Thành 16 tỷ USD như đề nghị của ACV đi chăng nữa thì kết quả cũng không theo kịp sân bay Changi của Singapore.

Tại sao lại như vậy? Đó là vì chủ sở hữu. Chừng nào chủ sở hữu còn chiếm đa phần là nhà nước thì chừng đó thất thoát là điều không thể ngăn cản.

ĐỀ XUẤT 

Cần thảo luận nhưng không thể là đẽo cày giữa đường. Giá trị tầm nhìn và vai trò thủ trưởng chính là ra những quyết định sáng suốt mà không bị sa vào những thông tin rừng rậm. Với dự án sân bay Long Thành cần khẳng định:

1. Hạn chế sử dụng không quá 2.000 héc ta đất.

2. Giới hạn mức đầu tư cận trên không quá 8 tỷ USD.

3. Giới hạn thời gian xây dựng 10 năm.

4. Không chỉ định chủ đầu tư là ACV vì sẽ thất thoát rất lớn.

5. Cho tư nhân tham gia đấu thầu xây dựng.

6. Nếu Chính phủ kiên quyết nắm giữ vai trò chủ đầu tư thì thành lập một Ban đặc biệt xây dựng sân bay Long Thành không phải dưới quyền Bộ GTVT. Trong đó cho phép thuê tổng giám đốc điều hành là người nước ngoài hay Việt Nam. Tổng giám đốc điều hành nhất thiết không phải là người được bổ nhiệm từ cán bộ lãnh đạo đương chức của Bộ GTVT, mà là người được chọn lọc qua thi tuyển.

7. Đồng thời tức tốc mở rộng công suất sân bay Tân Sơn Nhất lên 50-60 triệu khách /năm để đáp ứng nhu cầu giao thông trước khi sân bay Long Thành được đưa vào sử dụng.

Những dự án đặc biệt bao giờ cũng có những ban đặc biệt và những tổng công trình sư đặc biệt. Đó là cách thức phổ dụng trong tình trạng đặc biệt. Bộ GTVT hiện nay đã ngập lụt trong các dự án thua lỗ thất thoát kéo dài. Giao dự án xây dựng sân bay Long Thành dưới quyền lãnh đạo của Bộ GTVT hiện nay chỉ dẫn đến quá tải năng lực, và hậu quả sẽ đưa đến những tổn thất đắt giá.

Chưa xây dựng sân bay Long Thành mà Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể đã khẳng định là “Không một sân bay nào hiệu quả tốt như Long Thành”(Vietnam finance, 12/11/2019). Sự quả quyết của Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể về một điều chưa xẩy ra không hề đưa lại niềm tin cho người nghe, mà khiến cho người ta nghi ngờ về quyết định vội vã. 

Mà sự vội vã thì bao giờ cũng kèm theo tổn thất.

Đất đai vô cùng quý hiếm vì không thể sinh nở trong khi dân số không ngừng tăng. Lãng phí đất đai là có lỗi với tổ tiên và con cháu. Lãng phí đến 3.000 héc ta đất là một tội lớn.

Thu nhập của đồng bào vùng khó khăn chỉ chưa đến 1 USD/ ngày/người. Không lãng phí 8 tỷ USD là nuôi sống 8 triệu người trong suốt 1.000 ngày.

Phát triển là vì dân. Phát triển phải nhờ vào trí tuệ. Không thể bất chấp làm lấy được.

N.N.C.

Nguồn: FB Nguyễn Ngọc Chu