Bài đăng nổi bật

Bức tường Berlin (Phần 1): Nước Đức chia cắt

  Bức tường Berlin (Phần 1): Nước Đức chia cắt 12/08/2021 Nguyễn Thọ 12-8-2021 Vào ngày này cách đây 60 năm, đêm 12, rạng sáng ngày 13.08.19...

Thứ Bảy, 1 tháng 6, 2019

Đặc san số 3 - Chúc mừng Trang “Bauxite Việt Nam” mười năm

Đặc san số 3 - Chúc mừng Trang “Bauxite Việt Nam” mười năm

Nguyễn Đình Cống
D:\Pictures\Insigne BVN 2.JPG
D:\Pictures\Nguyễn Đình Cống.jpg
Đã từ lâu tôi phát hiện ra những nhầm lẫn của Mác và những độc hại của Chủ nghĩa Mác Lê, cũng như những sai lầm, thiếu sót trong các chủ trương, nghị quyết của ĐCSVN. Vào cuối thể kỷ 20, đầu thế kỷ 21, sau khi Hà Sĩ Phu tạo được tiếng vang và bị bỏ tù, tôi ước ao được công bố những phát hiện của mình, dù có bị tù đày hoặc  tử hình cũng vui lòng. Loay hoay chưa biết công bố thế nào  thì Trang Bauxite Việt Nam đã giúp tôi có điều kiện mở miệng. Tôi cảm phục các vị đã tạo ra và duy trì được  sự hoạt động giữa muôn vàn khó khăn và sự cản trở của chính quyền cộng sản, Tôi biết ơn trang Bauxite Việt Nam vì đã giúp tôi công bố những suy nghĩ và kết quả nghiên cứu, cũng như là diễn đàn để  trao đổi ý kiến. Thông qua trang Bauxite Việt Nam mà tôi kết bạn được với nhiều người cùng chí hướng.
Ở VN cũng như trên thế giới đã có nhiều ý kiến phê phán chủ nghĩa Mác Lê, nhưng có  ít người phê phán trực tiếp Mác. Rất nhiều người, từ kẻ cuồng tín đến người bình thường không hề dám có ý kiến nhận xét gì về Mác ngoài việc ca ngợi suông. Có một số người dám phê phàn Mác, nhưng lại cho rằng trước đây Mác vẫn đúng, các quan điểm của ông chỉ không còn phù hợp trong giai đoạn hiện nay. Tôi cho rằng đó là nhận xét tương đối hời hợt.  Kết quả nghiên cứu của tôi cho thấy Mác đã nhầm lẫn  ngay từ đầu, chủ nghĩa Mác sai ngay từ gốc.
Tôi rất phấn khởi khi Bauxite Việt Nam đăng bài của tôi: “Một số nhầm lẫn của Mác”, và sau đó đăng tiếp các bài “Ngụy biện của chủ nghĩa Mác Lê”, “Chất đất sét trong các hòn đá tảng của Mác”. Những bài đó vạch ra bản chất sai lầm được che phủ bằng bề ngoài hào nhoáng và có vẻ hợp lý của chủ nghĩa Mác.
Wikipedia viết về tôi có quan hệ đên Bauxite Việt Nam như sau : “Gần đây, ông (Cống) còn kêu gọi thực hiện đa nguyên, dân chủ trên trang mạng Bauxite”. Xem lại trên trăm bài gửi cho Bauxite Việt Nam tôi chủ yếu vạch ra những sai lầm của Mác, của Chủ nghĩa Mác Lê, phản biện một số nghị quyết, chỉ thị của ĐCS và chính quyền, việc kêu gọi đa nguyên là có, nhưng không phải là chính. Phải chăng Wikipeddia chỉ mới dám viết ra một phần sự thật.
Vì công khai phê phán Mác Lê mà tôi từ bỏ ĐCS. Có câu hỏi của bạn bè, tôi được gì, mất gì khi làm việc đó. Tôi trả lời rằng tuy có mất chút ít nhưng được nhiều hơn với những phẩm chất tinh thần quý giá. Thì ra những băn khoăn, lo sợ của tôi  về ảnh hưởng đến con cháu do việc làm của mình chỉ là suy đoán. Từ ngày tuyên bố từ bỏ ĐCS đến giờ tôi tự tin hơn, sống thoải mái hơn.
Nhân kỷ niêm 10 năm hoạt động của Trang Bauxite Việt Nam, tôi cầu mong và kính chúc  các nhà sáng lập, các cộng sự được mọi điều tốt lành, như ý.
N.Đ.C.
Tác giả gửi BVN

Đặc san số 3 - Vài điều tóm lại cho gọn

Đặc san số 3 - Vài điều tóm lại cho gọn

Hà Sĩ Phu

Đôi lời mở đầu
Thưa GS Nguyễn Huệ Chi cùng Ban Biên tập trangBauxite Việt Nam,
Trang Bauxite Việt Nam ra đời đã 10 năm, vượt qua bao đoạn thăng trầm, có lúc tưởng đã không trụ nổi. Nào là sự hiểu lầm nhau nhất thời giữa những người xây nền, sự hiểu lầm của nhà giáo Hà Văn Thịnh chỉ vì một hộp thư giả mạo, nào ý đồ muốn chuyển tiếng nói “chống khai thác Boxit” của Xã hội dân sự này thành một tiếng nói thân cận của đảng cầm quyền cho đảng dễ chấp nhận, nào vụ truy bức người chủ trì Nguyễn Huệ Chi trong vòng gần một tháng đầu năm 2010 cho đến sát tết Âm lịch… Tôi cùng một vài bạn đồng tâm ở Đà Lạt đã có hân hạnh và duyên nợ đóng góp cùng trang Bauxite Việt Nam để vượt qua tất cả những bước trầm luân ấy. Khi còn sức khỏe có lúc tôi đã thích thú viết những “chapeau” (lời dẫn) cho các bài (với tên Hà Sĩ Phu hoặc tên trangBauxite Việt Nam). Suốt 10 năm ấy những bài viết của tôi trước hết luôn đăng trên trang Bauxite Việt Nam, ngoài ý nghĩa “việc chung” ra hình như trong tôi còn pha chút “tình riêng” của những người đồng thanh tương ứng, những người “dị sàng” mà “đồng mộng”, giữa thời buổi mà sự “đồng sàng dị mộng” phổ biến khắp nơi, ngay trong hàng ngũ giới cầm quyền.
Nay trang Bauxite Việt Nam đã lên mười tuổi thì cũng là lúc sức khỏe của tôi có những báo động chuyển biến bất thường, trước nguy cơ có thể không còn viết lách gì được nữa. Vì vậy xin làm một việc là điểm lại những ý chính mà tôi đã viết trong 1-2 năm cuối cùng vừa qua, chủ yếu đăng trên trang Bauxite Việt Nam. Tôi chia làm hai phần:.
Phần 1: Lý thuyết Mác-Lê xuất phát từ những nhầm lẫn, phản tiến hóa
Phần 2: Một tà thuyết, sao có thể bùng lên kinh thiên động địa một thời?
Phần 1: Lý thuyết Mác-Lê xuất phát từ những nhầm lẫn, phản tiến hóa
Xin không bàn về những lý thuyết thuần túy Triết học của Marx, mặc dù Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử Mác-xít cũng có những điều rất cần phải tranh luận về mặt Triết học. Điều có ý nghĩa thực tế cần thiết cho xã hội ở đây là chỉ xét những “lý sự” gọi là chủ nghĩa Mác-Lênin được dùng làm kim chỉ nam chỉ đạo mọi chủ trương của Đảng Cộng sản, những điều đã thành nhận thức phổ thông, tuyên truyền phổ cập ai cũng biết. Hiện nay về lý thuyết cũng như thực tiễn Cộng sản tuy có những biến đổi để hòng thích nghi nhưng bản chất chủ thuyết căn bản vẫn không có gì thay đổi.
Trong bài Từ Nguyễn Phú Trọng đến Lê Hiền Đức(2012, đăng trên trang mạng của nhà văn Phạm Thị Hoài) tôi đã kể qua 9 điều “nhầm lẫn nhỏ” (mà các Cụ nhà ta thường dùng chữ rất hay là “bé cái nhầm”) của Mác-Lênin khi dựng một học thuyết cao siêu và vĩ đại. Ở đây chỉ xin nhắc lại năm điều nhầm lẫn quan trọng nhất.
1/ Mác-Lênin hiểu nhầm về thời đại mà các ông đang sống.
Tại sao có thể nói các nhà Mác-xít kinh điển đã “đọc nhầm” thông điệp của Thời đại?
Thế kỷ 18-19 và đầu thế kỷ 20 là thời kỳ phôi thai bột phát của nền văn minh Công nghiệp, vừa đem lại những thành quả nhảy vọt nhưng đồng thời cũng tạo ra những tai họa nhất thời mà lúc đầu chưa có phương án chế ngự, đó là sự áp chế của một số chủ Tư bản đối với Công nhân và sự áp chế của các nước đại công nghiệp đối với các nước còn lạc hậu cổ hủ, sự áp chế được gọi là Chủ nghĩa Đế quốc và Chủ nghĩa Thực dân.
Chủ nghĩa Đế quốc-Thực dân ấy thực ra chỉ là bước chập chững, loạng choạng, hăm hở chào đời của một “đứa hài nhi” sẽ thành khổng lồ, nhưng Mác-Lê tưởng “Chủ nghĩa Đế quốc là giai đoạn tột cùng của Chủ nghĩa Tư bản”! Đã là “giai đoạn tột cùng” rồi thì tất nhiên là già nua sắp chết, nên phải nghĩ ngay ra một Chủ nghĩa mới để thay thế, trước mắt là huy động “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại” để đào mồ chôn nó đi! Nhưng rồi theo thời gian đứa hài nhi có gien khổng lồ ấy “cứ giãy mãi mà không chết”, ngày càng trưởng thành và sửa chữa những điều ấu trĩ của mình, còn cái chủ nghĩa với đội quân đi “đào mồ chôn” nó thì cứ huênh hoang vô địch nhưng bỗng lăn ra chết ngay tại quê hương của mình, mà chẳng thấy giãy giụa gì.
2/ Mác-Lênin hiểu nhầm Lịch sử, tưởng Lịch sử chỉ là một chuỗi đấu tranh giai cấp, và coi đấu tranh giai cấp là động lực của Tiến hóa.
Theo Mác, Lịch sử là một chuỗi những cuộc đấu tranh giai cấp, với tư cách là động lực của Tiến hóa (trích: Giai cấp bị trị và giai cấp thống trị luôn đối kháng nhau về quyền lợi nên sinh ra đấu tranh giai cấp. Nô lệ chống chủ nô làm chế độ chiếm hữu nô lệ tan rã. Nông dân chống địa chủ phong kiến làm chế độ phong kiến tan rã. Giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản làm chủ nghĩa tư bản sụp đổ…
…Kết quả cuối cùng của những cuộc đấu tranh đó đều dẫn tới sự ra đời của phương thức sản xuất mới thông qua đỉnh cao của nó là những cuộc cách mạng xã hội.)
Mác nhìn lịch sử Tiến hóa của nhân loại như một chuỗi những đoạn đứt khúc do các cuộc Cách mạng, dùng bạo lực lật đổ nhau để tạo ra thể chế mới và mỗi lần như thế làm cho xã hội tiến hóa lên một bước mới. Đó là quan điểm Chính trị Mác-xít xuất phát từ Chủ nghĩa Kinh tế (khi hạ tầng Kinh tế thay đổi thì thượng tầng Chính trị cũng thay đổi theo).
Nhưng trên quan điểm khoa học thì phải hiểu sự Tiến hóa như thế nào?

Trước hết, trong thế giới động vật, Tiến hóa là sự chọn lọc tự nhiên trong đấu tranh sinh tồn, đấu tranh giữa sống và chết, do đó cơ thể phải biến đổi để thích nghi. Động vật thích nghi với điều kiện sống chỉ bằng chính cơ thể của nó, loại cơ thể nào không biến đổi được để thích nghi thì bị tiêu diệt. Tiến hóa để lại dấu ấn trên cấu tạo cơ thể và do đó cũng thay đổi các tập tính.
Nhưng sự Tiến hóa của con người, sống thành xã hội, thì khác hẳn:
Do có TRÍ TUỆ, là sự phát triển cao nhất của Sinh giới, nên hình thành tiếng nói và chữ viết để ghi lại những thành quả của thế hệ trước để thế hệ sau tiếp tục “ngồi lên vai” mà tiến cao hơn. Sự tích lũy và gia tăng của Trí tuệ để lại dấu ấn trong sách vở, trong công cụ lao động và cả trong phương thức quản lý-điều hành xã hội. Con người thích nghi với môi trường bằng những công cụ và những phương tiện do Trí tuệ và lao động của mình tạo ra, nên cấu tạo cơ thể không cần thay đổi mà cả xã hội vẫn tiến hóa ngày một cao hơn.
Như vậy, sự tích lũy và gia tăng Trí tuệ, tức động lực của Tiến hóa, xảy ra có tính liên tục, và có sự cộng tác, hiệp lực với nhau trong xã hội, cho dù vẫn còn mâu thuẫn với nhau về quyền lợi. Còn sự Đấu tranh giai cấp cũng chỉ là một mặt trong sinh hoạt xã hội, đấu tranh giai cấp bằng các cuộc Cách mạng như thế là những bước gián đoạn, có thể thúc đẩy sự Tiến hóa nhưng cũng có khi làm hại cho Tiến hóa (cuộc đấu tranh giai cấp, một mất một còn trong Cải cách ruộng đất và trong Cải tạo Tư bản tư doanh của xã hội Việt Nam do Đảng Cộng sản chỉ huy là một ví dụ làm hại cho Tiến hóa, biến Việt Nam từ một xã hội có đoàn kết nhân ái và có tiềm năng phát triển biến thành một xã hội đầy thù hận và “không chịu phát triển” như bấy lâu nay).
3/ Mác-Lênin tưởng nhầm vai trò lịch sử của mình, nên đoạn tuyệt với các giá trị truyền thống, không đi tiếp con đường văn minh của nhân loại.
Do tiếp nhận được tinh thần “vạch đường cho nhân loại, cải tạo cả nhân loại” của chủ nghĩa Mác-Lê cực đoan và ngạo mạn, nhà thơ mê tín Cộng sản Tố Hữu đã có những câu thơ để đời ca ngợi Cách mạng vô sản Tháng Mười Nga như sau:
“Thuở Anh [Cách mạng tháng Mười] chưa ra đời,
Trái đất còn nức nở,
Nhân loại chửa thành người”.
Người Cộng sản coi cả nhân loại này không đáng là người khi chưa được Mác-Lê dẫn lối. Họ muốn xóa sạch loài người cũ không đáng là người, để nhận trách nhiệm lịch sử dựng một loài người mới cho xứng đáng là người ư? Ngông cuồng đáng khôi hài đến thế là cùng!
Về quản lý xã hội thì Mác-Lê coi mọi Nhà nước xưa nay chẳng qua là công cụ để bóc lột người lao động, nên phải tiến tới làm cho nhà nước tiêu vong đi để cho giới lao động trực tiếp làm lấy việc quản lý. Thế là không thèm hiểu về sự phân công xã hội. Cũng do không thèm hiểu về sự phân công xã hội nên mới coi giai cấp công nhân, giai cấp lao động, chính là “giai cấp tiền phong, giai cấp lãnh đạo, giai cấp tiêu biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến nhất”!
Mặc dù có nhà lý luận cố bênh vực Mác rằng “Sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản không phải là “ý muốn nhân tạo”, hoặc “lựa đặt ngông cuồng” của C. Mác mà do địa vị kinh tế - xã hội khách quan quy định”, nhưng thực tế thì một giới lao động nào đó cũng chỉ là sản phẩm của một nền văn minh tương ứng sinh ra, chứ tiêu biểu và dẫn dắt cho nền văn minh đó phải ở giới chuyên viên và trí thức tinh hoa, có đủ Trí tuệ, đủ trình độ điều hành, vì đó là sự phân công tự nhiên trong xã hội.
Thực ra đến thời các ông Mác và Lê ra đời tức thời kỳ Văn minh Công nghiệp Nhân loại đã tiến được những bước khá xa, đã có ý thức nâng đỡ sự phát triển cá nhân để tạo ra mọi giá trị, đồng thời biết quản lý xã hội theo nguyên tắc Dân chủ và Pháp trị: DÂN CHỦ để cá nhân có điều kiện phát triển nhưng đồng thời cần PHÁP TRỊ để khống chế sự phát triển Tự do cá nhân sao cho không thể ảnh hưởng xấu đến người khác và đến cả cộng đồng.
Trong xã hội Pháp trị, Đạo đức “phải trở thành thừa”, không cần anh đạo đức, anh cứ làm đúng Pháp luật là đúng đạo đức rồi. Giáo dục đạo đức chỉ là biện pháp hỗ trợ, rất cần cho tuổi thanh thiếu niên. Khi trưởng thành, sống trong xã hội thì “Trường đời” mới là trường học tự nhiên hun đúc con người. Xã hội có Pháp trị lành mạnh thì hun đúc ra những con người tử tế, xã hội vô pháp thì hun đúc ra những con người lưu manh. Khi bộ máy cầm quyền còn hư hỏng thì làm sao các công dân lại có thể sống cho tử tế được, dù có giáo dục đạo đức bao nhiêu cũng bằng thừa, vì “Trường đời” đã giáo dục tất cả.
Khi Mác (1818-1883) và Lê (1870-1924) ra đời thì đã có những nhà tư tưởng về Dân chủ và Pháp trị như John Locke (16321704), Montesquieu (1689-1775), Jean-Jacques Rousseau (1712 – 1778), Voltaire (1694-1778)…, họ đã tạo ra cả một thời đại Khai sáng, với lý thuyết về Khế ước xã hội, chống chủ nghĩa chuyên chế và xây dựng Chủ nghĩa tự do, đặc biệt là hình thành lý thuyết về Tam quyền phân lập để điều hành xã hội. Lịch sử loài người hàng nghìn năm mới đạt đến trình độ như vậy, nền văn minh ấy đã đạt được rất nhiều thành quả nhưng lại tạo ra những mâu thuẫn mới mà xã hội cần tìm cách khắc phục, chứ không thể nói nhân loại lúc ấy “chưa thành người”!
Chính Mác-Lê “đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với các giá trị truyền thống” mới là người mắc bệnh “phủ nhận quá khứ”, mà “phủ định sạch trơn” một cách vô lý nhất, chứ những người dân chủ ngày nay có phủ định con đường Mác-Lê cũng chỉ là “phủ định sự phủ định” đúng phép biện chứng để trả lại cân bằng cho thế gian, đem lại bình yên cho cuộc sống mà thôi!
Nếu trào lưu Cộng sản chỉ như một làn sóng phản biện, chỉ vạch trần, phê phán những yếu kém, những bất công do xã hội Công nghiệp lúc ấy tạo ra thì quá tốt, để giúp xã hội buộc phải thanh toán những khuyết tật của mình. Cộng sản muốn tranh giành quyền bính cũng tốt thôi, nhưng phải giành bằng cách cạnh tranh công khai-dân chủ, chứ không thể “cướp” chính quyền, và giành được chính quyền rồi thì đi tiếp con đường tiến bộ của nhân loại tức con đường Dân chủ đa nguyên Pháp trị như các nước Bắc Âu bây giờ (đó là nền Dân chủ Xã hội bắt nguồn từ Quốc tế 2), rồi cũng thực hiện đường lối Lao-Tư lưỡng lợi như cụ Phan Châu Trinh đã nghĩ đến (tạo điều kiện để các nhà Tư bản kinh doanh chân chính và thu lãi nhiều để có tiền góp cho các quỹ phúc lợi xã hội, trợ cấp người lao động, người nghèo, người già yếu tàn tật…).
Con đường Dân chủ Xã hội (đừng dịch nhầm là Xã hội chủ nghĩa) của Bắc Âu tuy có tiếp nhận Mục đích tốt đẹp mà Mác-Lê gợi ý, nhưng Phương tiện tiến hành hành thì hoàn toàn khác nên thành công rực rỡ, dù bị các nhà lý luận Mác-xít ghét bỏ như kẻ thù, nhất là lý luận gia Nguyễn Đức Bình, bởi đó là đối chứng hùng hồn nhất, chứng minh Mác-Lê muốn làm điều tốt song cách làm hoàn toàn sai lầm nên gây hiệu quả ngược với mục đích.
Lối thoát danh dự cho Cộng sản Việt Nam hiện nay là từ bỏ con đường cực đoan ảo tưởng Mác-Lê của Quốc tế 3, để theo con đường Bắc Âu (tức con đường từ Quốc tế 2 mà Thụy Điển là tiêu biểu), cũng là con đường Phan Châu Trinh chủ trương (con đường bị Hồ Chí Minh phê phán là hữu khuynh thân Pháp). Thực chất cái gọi là “chủ nghĩa Tư bản” chẳng qua là một giai đoạn khá cao trong tiến trình Tiến hóa tự nhiên của xã hội loài người, giai đoạn văn minh Công nghiệp và Đại Công nghiệp, gọi là “chủ nghĩa” nhưng không ai nghĩ ra trước, không có tác giả như trường hợp “chủ nghĩa Cộng sản”.
Nhưng sai lầm chết người ở chỗ phong trào Cộng sản tưởng nhầm là lịch sử giao cho mình nhiệm vụ phải làm lại thế giới, cướp lấy chính quyền để xây dựng một chế độ Mác-xít, theo một chủ nghĩa do một vài tác giả cụ thể bốc đồng nghĩ ra trong một thời gian ngắn, một Thiên đường hết sức chủ quan, thiếu hiểu biết, rất phản khoa học, phản quy luật. Cái chủ nghĩa Cộng sản mới toanh ấy tuyên bố “đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với các giá trị truyền thống đã có”, nên gạt bỏ hết mọi giá trị mà nhân loại phải hàng nghìn năm mới đạt được là nền Dân chủ đa nguyên Pháp trị với thiết chế Tam quyền phân lập.
Mục đích Cộng sản thì cao siêu nhưng phương cách thực hiện là bạo lực cách mạng, là độc đảng toàn trị nên thực tế đã đạp đổ tất cả nền Dân chủ Pháp trị vừa mới manh nha. Người Cộng sản coi các giá trị đó là sản phẩm của chủ nghĩa Tư bản nên quyết tâm đào mồ chôn nó đi. Chính từ sự kiêu ngạo vô lối này, chủ nghĩa Cộng sản Mác-Lê đã tự đào mồ chôn chính mình trước lịch sử tiến hóa Nhân loại.
4/ Mác-Lênin ảo tưởng vì không hiểu bản tính Con người.
- Mác-Lê dám tưởng tượng sẽ có ngày “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” vì tin rằng khi được chế độ Cộng sản giáo dục thì “con người mới” sẽ rất thánh thiện chứ không ai tham lam, muốn làm ít mà đòi hưởng nhiều!
- Tuy Mác vẫn nhắc một danh ngôn cổ điển “Không có gì thuộc về con người mà xa lạ đối với tôi ” nhưng có lẽ Mác vẫn không hiểu, không chấp nhận bản tính tự nhiên của con người. Nếu Mác-Lê biết bản tính con người vốn tham lam và lợi dụng khi không bị luật pháp kiềm chế thì Mác-Lê đã không cho phép Đảng Cộng sản được độc quyền lãnh đạo. không có đa nguyên kiềm chế, khiến cho các Đảng Cộng sản cầm quyền đều mặc sức lạm quyền, mặc sức tham nhũng quyền lực như ở các nước Cộng sản ngày nay (ví dụ: đã làm Tổng Bí thư lại muốn kiêm luôn Chủ tịch nước để nắm gọn toàn bộ quyền lực trong tay như Tập Cận Bình và những người tương tự)! Nếu hiểu bản tính tham lam của con người sao lại trao toàn bộ khối Công hữu khổng lồ của đất nước cho cơ quan nhà nước “thống nhất quản lý” để nó biến hết của công thành của tư? Chính luật pháp Tư bản hiểu rõ con người nên mới không cho tập trung quyền lực mà phải “Tam quyền phân lập” hẳn hoi, chứ không lừa dối bằng kiểu “tam quyền phân công” từ một đầu mối là sự chỉ huy thâu tóm của một đảng duy nhất.
5/ Mác-Lênin hiểu nhầm về nguyên nhân khổ ải và bất công, và do đó sai lầm về các biện pháp giải quyết.
Đi vào những việc cụ thể Mác-Lê cũng mắc những nhầm lẫn. Mác-Lê quy nguyên nhân mọi tai họa là do tính Tự do cá nhân và tính Tư hữu nên tìm mọi cách để “chống chủ nghĩa cá nhân” và diệt Tư hữu để công hữu hóa hết thảy, và để nhà nước Cộng sản duy nhất quản lý. Kết quả là không có gì phát triển được và chính cái nhà nước Vô sản độc quyền quản lý tài sản Công hữu thì nó biến mọi Công hữu thành Tư hữu của họ. Để tránh tệ nạn tham nhũng và cậy quyền thì Đảng Cộng sản lại dùng biện pháp “phê và tự phê, tu dưỡng đạo đức, theo đạo đức Bác Hồ”, kết quả là những kẻ càng ca tụng đạo đức bao nhiêu thì sự tham lam lại ngày càng phát triển bấy nhiêu. Nền Kinh tế chỉ huy (với các kế hoạch 5 năm) và Kinh tế quốc doanh làm cho nhà nước và nhân dân đều kiệt quệ nhưng cái túi riêng của những “học trò xuất sắc của đạo đức Bác Hồ” thì căng đầy tiền tỷ đô la để gửi ngân hàng Thụy Sĩ! Về sau, tuy biết sai lầm nên đã chuyển sang Kinh tế thị trường và ca ngợi Kinh tế tư nhân, nhưng tất cả vẫn nằm trong tay một đảng độc quyền và một “nền Pháp trị xã hội chủ nghĩa” thì tất cả vẫn chỉ là sự “đánh bùn sang ao”, kể cả việc “đốt lò” rùm beng cũng vậy.
Công hữu hay Tư hữu, đó là một mấu chốt của tình hình diễn biến. Thuở ban đầu thì những người Cộng sản thật sự chân thành tin vào con đường Công hữu như lời Mác dạy. Nhưng khi bước vào thực hiện thì chút liêm khiết lúc đầu bị cái máu tham trong lòng tấn công. Máu tham tự nhiên cứ như một kẻ gian truyền kiếp ẩn nấp sẵn trong lòng những tín đồ Cộng sản, cứ đêm ngày xui họ biến những của Công trong tay thảnh của Tư, một sự “cướp ngày” có giấy tờ rất đúng quy trình! Và cứ thế tình hình mỗi ngày một xấu. Cái máu tham phục sẵn trong mỗi con người hỏi Mác có biết không, có “xa lạ” với Mác không?
Đã từ lâu, miệng nói Công hữu nhưng tay làm Tư hữu, nhưng không phải thứ Tư hữu lành mạnh công minh mà là Tư hữu gian manh. Cờ thì giương cao Búa và Liềm nhưng hành động thì cướp đất của Nông dân và không cho Công nhân tự lập hội để bảo vệ quyền lợi. Công và Nông là những người khổ nhất hiện nay, trong khi trên truyền hình toàn thấy những ông bà Nông dân (phần đông có gốc Bộ đội) có hàng chục héc-ta đất, thu lợi hàng chục tỷ mỗi năm, quá đẹp!
Trước tình trạng Cộng sản nói một đằng làm một nẻo như vậy thì tôi biết tranh luận những điều lý thuyết là hoàn toàn vô ích, vì người ta nói như vậy nhưng có làm như vậy đâu nên tranh luận về lời nói làm gì? Song, tôi vẫn muốn chốt lại một vài điều về lý thuyết chỉ để thấy cái gọi là học thuyết Mác-Lê và Chủ nghĩa Xã hội khoa học ngay từ đầu đã chỉ là một tà thuyết, phản khoa học, một ảo tưởng xuất phát từ khát khao đẹp đẽ muốn giải phóng con người.
Tà thuyết đã phản lại Thiện tâm, nó sẽ bị cuộc đời vứt bỏ, Nghị quyết 1481 của Quốc hội 46 nước châu Âu đã khẳng định Chủ nghĩa Cộng sản là một chủ nghĩa chống Nhân loại.
Nhưng trong xã hội Việt Nam hiện nay, đừng vội tưởng Ý thức hệ Cộng sản đã hết tầm quan trọng để không cần quan tâm đến nữa. Trái lại Đảng Cộng sản vẫn còn giữ chặt và đẩy mạnh giáo điều Mác-Lê và xiết chặt bộ máy Chuyên chính hơn bao giờ hết, bởi đó là chất xi măng gắn kết của hệ thống và là cái áo giáp sắt giữ an ninh chế độ. Đảng Cộng sản mỗi khi mở cửa một chút thông ra thế giới thường khiến cho nhiều người vui mừng, vì nghĩ cứ mỗi ngày một chút, một tí chút thôi thì lâu dần, tích tiểu thành đại, cũng sẽ ngày một khá lên. Xin thưa, đấy là kiểu tư duy đơn giản thuận chiều của con nít. Mỗi lần mở ra cũng kèm theo một kế hoạch xiết lại, chặt hơn. Phía trước chờ ta luôn có một dấu hỏi, ngay bên cạnh một niềm hy vọng.
Phần 2: Một tà thuyết, sao có thể bùng lên, kinh thiên động địa một thời?
1/ Quan hệ giữa Mục đích, Cứu cánh và Phương tiện
Ngày nay trên thế giới chỉ còn lại vài nước Cộng sản và đang biến dạng, nhưng đã có một thời kỳ Cộng sản phát triển thành một liên kết quốc tế đông đảo gây biến động thế giới.
Để hiểu vì sao lúc đầu ở một số nước số người ủng hộ Cộng sản lại đông đảo như vậy, tôi muốn trở lại bài lý luận đầu tiên tôi viết năm 1988 (Dắt tay nhau…) trong đó có sự phân chia con người thành ba giới, ba xu hướng DUY LÝ, DUY TÍN (hay Duy cảm), và DUY LỢI. Trong chủ thuyết Cộng sản thì có phần nói về MỤC ĐÍCH và phần nói về PHƯƠNG TIỆN tức các cách tiến hành để đi đến mục đích.
Mục đích nêu trong chủ nghĩa Cộng sản thì quá đẹp nên hấp dẫn ngay hai giới Duy lợi và Duy cảm. Giới Duy lợi có hai cực: cực thiểu số giàu có ở bên trên tất nhiên không ưa Cộng sản, cỏn cực lao động nghèo khổ ở dưới đáy là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội thì hưởng ứng Cộng sản ngay. Các trí thức văn nghệ sĩ thì đa số nặng về Duy tín hay Duy cảm, giới này có tác dụng lôi cuốn rất mạnh đối với quần chúng đông đảo. Hai giới này chỉ cần thấy mục đích tốt đẹp là theo, chứ không quan tâm đến Phương tiện vì nghĩ rằng dùng Phương tiện gì cũng được, miễn Mục đích tốt là được nên hưởng ứng Cộng sản ngay từ đầu là điều dễ hiểu. Đó là tình hình theo Cộng sản rất đông ở mấy nước châu Á và nước Nga.
Còn với giới Duy lý, phần lớn là các trí thức khoa học và dân chúng ở các nước đã trải nghiệm quá trình dân chủ thì có nhãn quan khác hẳn, họ luôn nhìn xem Chủ nghĩa ấy dùng Phương tiện gì tức dùng cách gì để đi đến mục đích. Họ hiểu Phương tiện mới là nhân tố quan trọng, Phương tiện đúng thì Cứu cánh 究竟 mới tốt (thuật ngữ Cứu cánh là cái kết quả cuối cùng, chứ không có ý nghĩa cứu giúp như số đông vẫn hiểu lầm). Cứu cánh biện minh cho Phương tiện (la fin justifie les moyens!). Phương tiện và Cứu cánh mới là cặp quan hệ nhân quả máu thịt, chứ Mục đích có khi chỉ là ảo tưởng hoặc tô vẽ để tuyên truyền! Nhìn vào Phương tiện, đường lối, thấy chủ thuyết Cộng sản chủ trương gạt bỏ Tự do cá nhân, gạt bỏ Tư hữu, chỉ Đảng Cộng sản độc quyền lãnh đạo… là họ biết tương lai không thể đi đến cái đích tốt đẹp.
Cho nên mặc dù chủ thuyết Cộng sản phát sinh ở Tây Âu và ở đó cũng có các đảng Cộng sản nhưng nhân dân Tây Âu tránh xa Cộng sản ngay từ đầu và sau này còn cho ra một nghị quyết của Quốc hội 46 nước, Nghị quyết 1481 kết tội chủ nghĩa Cộng sản là chống nhân loại.
2/ Con đường Cộng sản vào Việt Nam
Ngoài quy luật chung, ban đầu hấp dẫn bởi cái đích trương ra rất huy hoàng, sự hấp dẫn của Cộng sản đối với dân Việt Nam còn có đặc điểm riêng.
- Tâm lý dưới đáy
Đi đến cái đích đẹp thì ai cũng tán thành, nhưng những kẻ ở dưới đáy tận củng thì có một cảm hứng đặc biệt riêng là cảm hứng muốn lật ngược xã hội để đổi đời. Ví dụ trong lớp có 50 học sinh thì những anh xếp thứ 30-40 biết tiến thêm vài bậc là đã khó khăn, nhưng anh suốt đời đội sổ thì trong giấc mơ nó phải vọt lên đứng đầu và chứng minh những đứa vẫn đứng đầu là không xứng đáng. Chỉ những anh lẹt đẹt sau cùng mới có cảm hứng “đi tắt đón đầu” để dẫn đầu nhân loại, thay thế những kẻ dẫn đầu cũ. Nay thấy chủ nghĩa Mác ảo tưởng đánh trúng tâm lý lật ngược xã hội ấy thì làm gì mà quần chúng lao khổ đói rách dưới đáy chẵng rầm rập đi theo?
Khẩu hiệu “Trí Phú Địa Hào, phải đào tận gốc trốc tận rễ” chẳng phải vì muốn thanh toán mà chính vì khát khao bốn ngôi vị đó, phải quật những kẻ đang ngồi trên đầu để mình thay vào, cho nên khi cướp xong chính quyền những người Cách mạng đã phát huy ngay mọi sáng kiến để trở thành Trí Phú Địa Hào mới một cách không tuyên bố, thực tế đã và đang thấy rất rõ.
- Sự hấp dẫn của ngọn cờ Độc lập Dân tộc, nhưng cuối cùng “mất cả chì lẫn chài”
Mục đích của chủ nghĩa Mác là đánh đổ chủ nghĩa Tư bản để thiết lập chủ nghĩa Cộng sản nhưng điều ấy dân Việt Nam không quan tâm vì Việt Nam đã có chủ nghĩa Tư bản đâu mà cần đánh đổ? Nhưng chính tài liệu của Lênin “Luận cương về những vấn đề dân tộc và thuộc địa” đã “gãi đúng chỗ ngứa” của dân Việt Nam và dẫn Nguyễn Ái Quốc đi vào Quốc tế 3 ở Hội nghị Tours nước Pháp tháng 12 năm 1920. Chính người Cộng sản lão thành Nguyên Ngọc đã nhận định rằng sai lầm bắt đầu từ bước ngoặt thành Tours năm ấy. Tai họa của đất nước Việt Nam cũng khởi đầu ở chỗ này, chỉ vì yêu nước mà thành Cộng sản chứ không biết con đường Cộng sản là gì (không thể biết rằng chính vì theo đường Cộng sản để cứu nước nên sẽ mất nước về sau). Xuất phát đã như thế thì tất nhiên sự hăm hở ban đầu rồi cũng mau chóng tan đi, sau mấy chục năm hồ hởi với đảng, rồi trầm luân với đảng, nay đến lúc chính người đảng viên lão thành Nguyên Ngọc đành phải ly khai đảng vì thấy đảng của mình bây giờ chỉ “bán nước hại dân”!
Đảng Cộng sản Việt Nam từ chỗ tay trắng mà rồi nắm được toàn quyền làm chủ giang sơn tất nhiên phải có sức mạnh ghê gớm, vậy sức mạnh ấy từ đâu, nếu không phải từ chính nhân dân?
Dân Việt Nam là dân tộc mà lòng yêu nước chống ngoại xâm đã thành một “gien” chảy trong máu (1000 năm Bắc thuộc và 80 năm Pháp thuộc thì còn gì là đời, hỡi người Việt Nam?), nên cứu nước chống ngoại xâm đã thành bản năng, thành tiềm thức, cứ thấy ngoại xâm là phải đánh đuổi bằng mọi giá (cứu được nước do bản năng này, nhưng vội vã lầm đường bị mất nước cũng do bản năng này, sẽ nói rõ trong đoạn sau). Tất cả sức mạnh Việt Nam nằm ở đó, những bà mẹ Việt Nam đứt ruột hiến cho đời cả 5-7 người con máu mủ của mình cũng vì cái lòng yêu nước ấy, chứ mẹ có tơ vương gì với cái gọi là Cộng sản? Nhưng Cộng sản vào được Việt Nam, hoành hành được ở Việt Nam là do mượn con đường của lá cờ yêu nước đó, Cộng sản thành công được là do ký sinh vào sức mạnh của lòng yêu nước đó. Vậy đối với lòng yêu nước Việt Nam thì chủ nghĩa Cộng sản như một con “ký sinh trùng”, như con sán nhiều đầu móc vào khúc ruột Việt Nam để hút dinh dưỡng và gây bệnh, tôi đã từng nói và viết điều đó.
Nhưng nói về sức mạnh ban đầu của Cộng sản Việt Nam thì sẽ là thiếu sót nếu không biết đến giá trị của những lớp Cộng sản đầu tiên. Họ cũng từ nhân dân mà ra. Nhưng vì là đảng viên nên ngoài tấm lòng yêu nước họ có được trang bị một số nhận thức sơ đẳng về chủ thuyết Cộng sản và họ tin đó là Chân lý. Chính niềm tin, dù là niềm tin đơn sơ khi chưa có điều kiện hiểu biết tường tận, niềm tin chân thành đã cho họ sức mạnh vượt qua mọi gian khổ, tù đày để cùng nhau tiến lên giành lấy chiến thắng. Những Trí thức khi ấy tin theo Cộng sản vì thấy những Trí thức lớn của thế giới như Aragon, Romain Rolland, Jean-Paul Sartre, André Gide... cũng mê say Cộng sản kia mà?
Trong diễn biến của xã hội Việt Nam sẽ có sự đổi ngôi dần dần giữa các yếu tố CHÍNH và PHỤ. Nội dung chính của chủ nghĩa Mác là chất Cộng sản, nhưng chỉ là yếu tố rất phụ trong tâm thức dân Việt Nam. Nhưng khi Cộng sản vào được Việt Nam thì yếu tố phụ kia chuyển dần thành yếu tố chính, yếu tố chính (độc lập dân tộc) thực tế đã bị đổi chỗ thành yếu tố phụ, tuy bề ngoài vẫn được hết sức tô vẽ, chứng cứ là nếu rất yêu nước mà đòi bỏ Cộng sản là bị bắt ngay, bởi yếu tố phụ ngày xưa (Ý thức hệ Cộng sản) nay đã thành yếu tố chính để xét xử.
Nếu Ý thức hệ Cộng sản đã mượn đường lá cờ dân tộc mà chui vào được đất nước Việt Nam, thì kẻ thù truyền kiếp Đại Hán lại mượn đường Ý thức hệ Cộng sản đó để chui vào Việt Nam một lần nữa, lần này nó mạnh hơn nhiều bởi có Ý thức hệ Cộng sản làm nội ứng như có con ngựa thành Troy. Mấy ai biết rằng Cộng sản Đại Hán giúp Cộng sản Việt Nam trong chiến tranh là giúp kẻ cùng Ý thức hệ, là tháp tùng Ý thức hệ Cộng sản vào Việt Nam lần này với mưu đồ “giải giáp” dân tộc Việt Nam, phá hủy lòng yêu nước, hòng nô dịch Việt Nam một lần nữa?
Theo thời gian, yếu tố chính của tâm thức Việt Nam là lòng yêu nước chống ngoại xâm, chẳng những bị hạ xuống thành yếu tố phụ trong xét xử mà còn có nguy cơ bị tiêu vong, bởi chính kẻ ngoại xâm truyền kiếp đã lẻn được vào trong nhà, đã ngồi lên bệ và dùng nhiều cách thâm độc để thủ tiêu lòng yêu nước ấy. Lạ thật, tôi đã tiếp xúc với một số người, nói chuyện Tổ quốc mình đang bị Tàu áp chế khủng khiếp mà lòng họ lạnh như tiền, có lẽ bởi họ linh cảm thấy muốn Thoát Trung thì phải Thoát Cộng, nhưng muốn Thoát Cộng thì khó mà Thoát… Tù (!), nên thôi, mặc xác sự đời, hãy lo mà sống yên thân. Mất khát vọng Tự do - Hạnh phúc, mất xương máu, mất chủ quyền, lại mất nốt cả mạch nguồn yêu nước trong máu thì… “mất cả chì lẫn chài” ư ?
3/ Vấn đề Trái tim Đan-cô
Trái tim Đan cô là câu chuyện ngụ ngôn của nhà văn Nga Maksim Gorky (ngọn cờ đầu của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa), ca ngợi sức mạnh linh thiêng tuyệt vời của TRÁI TIM có thể phát ánh sáng để động viên và dẫn dắt quần chúng lao khổ vượt qua đầm lầy tăm tối đến nơi an toàn và hạnh phúc.
Vâng, vượt trên sức mạnh cơ bắp, con người có hai sức mạnh tinh thần tuyệt vời được cách điệu tượng trưng bởi hai bộ phận trong cơ thể là KHỐI ÓC và TRÁI TIM.
TRÁI TIM biểu trưng cho lòng hướng thiện, cho đức yêu thương, cho nghị lực để vượt qua sự bi quan và sợ hãi. Trong một xã hội mà cái giả dối ác độc còn đè nặng xuống những thân phận đau thương và bi lụy thì mọi người, đặc biệt là các nhà văn và trí thức duy cảm, đứng hẳn về “phía nước mắt” và “phía trái tim” là dễ hiểu.
Những Trái tim thì thường tìm đến Trái tim! Vì quá yêu Trái tim nên những tâm hồn đa cảm cũng mong Trái tim phát sáng để dẫn đường luôn, làm thay chức năng của Khối óc tức của Trí tuệ, mà quên rằng Trái tim tuy tuyệt vời nhưng không thể dẫn đường, vì bị một căn bệnh di truyền từ thời thượng cổ là dễ mù lòa, đã yêu nhau thì củ ấu cũng tròn, đã ghét thì ghét cả tông chi họ hàng.
Trái tim cho con người sự yêu thương và hướng thiện, Trái tim cho con người nghị lực, sự dũng cảm và lòng hăng say, nhưng Trái tim không tự tìm ra được đúng con đường phải chọn, nhất là ở những ngã ba, ngã năm, ngã bảy, vì trời không cho trái tim đôi mắt. “Sự mách bảo của trái tim” có thể là sự gợi ý rất quý, nhưng nếu không được khối óc kiểm tra lại cẩn thận thì có khi nguy hiểm. Sau khi Trí tuệ đã tìm ra con đường thì lúc ấy rất cần nghị lực của Trái tim, nhưng một khi “Trái tim lầm chỗ để trên đầu” thì chưa biết thân xác sẽ dạt về đâu?
Trái tim mà làm bà sơ phát cơm từ thiện thì tuyệt, chứ làm Hoa tiêu hoặc làm Quan tòa thì có khi bỏ sót tội phạm mà xử tử chính nạn nhân cần được bảo vệ, rồi sau tỉnh ra mới hối hận thì đã muộn rồi.
Tôi thường nói chuyện với bạn bè: Tôi rất sợ những Trái tim lớn mà cái Đầu không đủ lớn, nó dẫn dụ hàng triệu người rầm rập đi trong hiên ngang và nhân ái, nhưng chẳng may đi nhầm xuống những hầm hố lớn phủ lá ngụy trang thì chết cả nút, ôm nhau chết cả đám trong hào quang của đoàn kết, hướng thiện và yêu thương. Bài học của Việt Nam là thế.
Cảnh tượng hùng hồn khi dân chúng và trí thức Việt Nam hăm hở ủng hộ Việt Minh, đi vào con đường Cộng sản với tất cả tấm lòng, hy sinh cả tính mạng, gia đình và của cải… chính là bi kịch của Trái tim Đan cô Việt Nam! Bi kịch của liệt sĩ Nguyễn Thị Năm - Cát Hanh Long bỏ cả cơ nghiệp lớn ở Hà Nội lên Thái Nguyên để nuôi Cách mạng, cuối cùng được các gót giày Cách mạng ấn vào một chiếc quan tài quá hẹp cho hết “ngoan cố” cũng chẳng là một bi kịch đi theo Trái tim Đan-cô thiêng liêng đó sao?
Thực ra đây là vấn đề của “tầm văn minh”, tầm văn minh của xã hội và phản chiếu thành tầm văn minh trong mỗi con người. Thời văn minh Nông nghiệp cũng là thời kỳ của “văn minh Trái tim” phát sáng rực rỡ mà lịch sử cần ghi nhận và lưu giữ trong bảo tàng. Nhưng nhân loại tiên tiến ngày nay đã được chuyển cấp văn minh, được “văn minh Trí tuệ” chiếu sáng, dẫn lối chỉ đường, chắc chắn sẽ ánh xạ vào mỗi con người chúng ta, để ta biết đặt Khối óc và Trí tuệ vào đúng vị trí trên đầu của nó. Chuyển giai đoạn thế mới là tự cứu. Đối với kẻ cầm quyền ác tâm cao thủ thì Trái tim Đan-cô chính là cửa ngõ lý tưởng nhất để… lừa!
Nền văn minh Trí tuệ có một kẻ thù dai dẳng là sự ngu dốt, nhưng riêng ngu dốt chưa gây hại được gì. Ngu dốt phải cộng với Nhiệt tình, với sự Lý tưởng hóa, nhất là Lý tưởng hóa kiên định mới thành phá hoại. Cụ cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng (được mệnh danh là “ngài Thủ tướng vô tích sự” vì chắng quan tâm gì đến Luật pháp, chỉ chuyên thuyết giảng Đạo đức Bác Hồ) đã để lại cho đời một công thức đáng gọi là danh ngôn: “Nhiệt tình + Ngu dốt = Phá hoại”!
Phần Kết luận
1/ Tai họa khó gỡ ra
Để kết thúc, xin trích dẫn tinh thần của một Nghị quyết mang tính thế giới, Nghị quyết của Hội nghị Quốc hội 46 nước châu Âu về chủ nghĩa Cộng sản Mác-xít: Nghị quyết 1481, kết luận chủ nghĩa Cộng sản phá hoại xã hội toàn diện, nó là một chủ nghĩa chống Nhân loại. (*)
Châu Âu đáng tin cậy vì là châu lục tập trung nhất, đồng đều nhất, giàu tính khoa học nhất, toàn diện nhất của văn minh nhân loại. Ở đó mọi lý thuyết đều được tự do giãi bày, được khảo sát, giới thiệu và lưu trữ bình đẳng. Tây Âu là tiếng nói khách quan nhất đối với Marx vì họ không phải là nạn nhân của học thuyết Marx, trái lại còn là quê hương và nơi nương tựa của Marx.
Nghị quyết 1481 do nghị sĩ người Thụy Điển Goran Lindblad đề xuất, Thụy Điển là nước theo thể chế Dân chủ xã hội, bắt nguồn từ Đệ nhị Quốc tế, như người anh em song sinh của Đệ tam Quốc tế Mác-Lênin. Thụy Điển có vị trí hàng đầu của văn minh và hạnh phúc trên thế giới, là quốc gia ân nhân thân thuộc bậc nhất với Việt Nam từ thời Cộng sản. Những tiếng nói như thế chính là khách quan, đáng tin cậy.
Nhiều người lên án chủ nghĩa Cộng sản Mác-Lê ở thành tích giết chết 100 triệu người, lớn hơn tội của phát-xít Hitler, nhưng tôi nghĩ tội ác với hơn một tỷ người còn sống còn quan trọng hơn:
Về kinh tế, Cộng sản kìm hãm sự phát triển. Về văn hóa-xã hội, khi sự độc tài và “đểu cáng lên ngôi” (ý thơ Bùi Minh Quốc) nó làm cho con người sa đọa, vì phá hết niềm tin, vỡ hết lý tưởng, cạn hết những khát vọng tinh thần cao đẹp làm lẽ sống, làm cho con người trở về như một con thú vật tầm thường.
Nhưng muốn thoát ra cũng khó thoát được, vì cái chủ nghĩa ảo tưởng thoạt đầu tưởng như vô hại ấy, thực tế nó tạo ra một tai họa kép: một mặt nó tạo ra các tai họa như trên vừa kể, nhưng mặt khác nó đồng thời tạo ra một lực lượng, một sức mạnh khủng khiếp để giữ chặt chủ nghĩa ấy một khi nó bị lộ bộ mặt phản diện. Lực lượng ấy, sức mạnh ấy là một Đảng Cộng sản toàn trị với các thiết chế vũ trang cả vật chất lẫn tinh thần, tất cả phải bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lê để giữ vững cái ngai vàng và mọi bổng lộc, lợi quyền lớn nhỏ.
Ngoài những tội chung đối với thế giới, riêng với Việt Nam, Mác-Lê còn nợ dân Việt Nam vì cái tội “cho Đại Hán mượn đường” vào Việt Nam, hòng nô dịch Việt Nam một lần nữa! Không có Ý thức hệ chung ấy, Đại Hán lấy cớ gì để áp sát Việt Nam, vừa nựng vừa đè, vừa hôn vừa cắn từng mảng như vậy được?
Tất nhiên Đảng Cộng sản Việt Nam phản đối Nghị quyết 1481, nhưng khốn nỗi, sự phản đối của một đảng như Đảng Cộng sản Việt Nam đối với điều gì đó chỉ càng làm cho điều đó thêm giá trị.
2/ Hòa nhập không hòa tan
Chủ nghĩa Mác-Lê phản quy luật nhưng “vô địch muôn năm” ấy không chịu thua ai, cuối cùng chỉ thua quy luật, thua cuộc sống thật. Ông Trường Chinh đã phải thốt lên “Đổi mới hay là chết” là lo sợ trước quy luật. Nhưng người Cộng sản dù đổi mới cũng đổi mới khác người: chỉ đổi mới một nửa, còn một nửa vẫn khóa chặt trong tay để “những lực lượng thù địch” không thể lợi dụng. Đồng thời khẳng định cái điều đổi mới ấy chính là của người Cộng sản, do người Cộng sản trước đây đã nghĩ ra, chứ không phải của bọn Tư bản.
Phải bỏ Kinh tế kế hoạch - kinh tế tập thể - kinh tế quốc doanh để theo kinh tế thị trường nhưng nói: kinh tế thị trường là của chung nhân loại, thậm chí đó chính là “chính sách kinh tế mới của Lênin”, nên kinh tế thị trường phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nghĩa là cắp sách đi học thiên hạ nhưng lại muốn bảo điều ta học đó là do ta nghĩ ra, ta giữ bản quyền tác giả, bản quyền phát minh, ta làm theo cách của ta. Điều này phải thông cảm, vì chẳng lẽ một đảng “quang vinh muôn năm” từng “thắng hai Đế quốc to” lại phải cắp sách đi học cái thằng “Đế quốc Mỹ xâm lược” à? Về “tam quyền phân lập” cũng vậy: ta “phân công chứ không phân lập”, phân lập là loạn, đảng viên nào thích đa nguyên, thích tam quyền phân lập thì phải khai trừ.
Đó cũng là luận điểm “hòa nhập chứ không hòa tan” của ông Nguyễn Phú Trọng.
Một cục đường bỏ vào trong nước mà dứt khoát bướng không chịu hòa tan vì nó tưởng nó là cục đá kim cương thỉ mặc kệ nó thôi. Có thể cục đường này có tẩm chất chống tan gì đó nên nó cứ tan dần dần, ta mất công chờ một chút. Cuối cùng đâu rồi cũng vào đấy cả thôi.
3/ Tôi cũng “có một giấc mơ” (I also have a dream!)
Kết quả của những suy tư như vậy khiến tôi đi vào giấc ngủ. Và tôi mơ.
Tôi thấy mình cầm trong tay cuốn Tạp chí Cộng sản số mới.
Đọc thấy:
“Lời Bác dạy, người Kách mệnh là phải bám sát thực tiễn và tôn trọng quy luật. Thí zụ: Đến một lúc, nếu quy luật chứng minh phải đa đảng đa nguyên, phải tam quyền phân lập thì dân mới được mở miệng, đất nước mới thoát cảnh nô lệ Tàu và sánh vai cùng thế giới 5 châu… thì người Kách mệnh sẵn sàng học theo thế giới. Và điều quan trọng nhất Bác nói với các chú về cái sự học: Học điều gì là phải học thực lòng, thực chất, chứ không chỉ học cái vỏ, còn cái ruột ta vẫn cố tình làm theo ý cũ của ta để zữ cái lợi cho mình thì người chiến sĩ Kách mệnh nhất định không bao zờ làm thế.
Ký tên: C.B.”.
Ôi chao, hay quá! Sao “Bác Hồ” lại bỗng dưng phát ngôn hệt như quan điểm của những người mà “đảng ta” bấy lâu vẫn liệt vào loại “các thế lực thù địch” thế này? Tốt quá, tốt quá, tình hình biến chuyển đến nơi rồi!
Thế là tôi giật mình, tỉnh ngủ, biết là mình vừa mơ, và buồn cười thay cho giấc mơ ngớ ngẩn của mình, cứ như mấy nhà lý luận nịnh đảng khuyên hãy trở về với “Bác Hồ kính yêu”. Nhưng mơ thế là có lý do:
Chẳng là, trong thâm tâm tôi biết mỗi khi lâm vào thế bí, buộc phải bỏ một sai lầm của mình để đi theo đà tiến bộ chung của thế giới thì “đảng ta” thường có động tác chữa thẹn, gỡ thể diện của kẻ xưa nay vẫn tự xưng vô địch rằng “điều này là đảng ta thực hiện lời dạy vốn có của các lãnh tụ Vô sản, chứ không phải học theo bọn Tư bản giãy chết đâu” (Cục diện chuyển sang Kinh tế thị trường là một ví dụ). Thế thì một khi chuẩn bị chấp nhận thể chế Dân chủ đa nguyên như các nước Âu Mỹ để tự cứu, dứt khoát đảng ta phải chứng minh Dân chủ đa nguyên cũng vốn là tư duy có sẵn của các lãnh tụ, nhất là của… bác Hồ!
Sự mong mỏi và thấu hiểu ấy của tôi đã vào giấc mơ.
Nhưng nếu theo giấc mơ của tôi, vừa vô lý vừa có lý: nếu ĐCSVN sẽ thực lòng áp dụng thể chế Dân chủ đa nguyên, nhưng kèm theo cái “ngụy biện chữa thẹn” như trên, thì người trí thức và dân chúng sẽ phản ứng ra sao? Tôi tin chắc tất cả chúng ta đều vô cùng mừng rỡ, chẳng mấy ai mất công tranh luận về cái “bản quyền” Dân chủ đa nguyên, khiến nó cản trở chương trình đổi mới tốt đẹp mà toàn dân mong đợi.
Suy cho cùng, những Chân lý vốn là của chung của cả thế giới loài người rất tuyệt vời này, và Tự do-Hạnh phúc của nhân dân mới chính là điều quan trọng vượt lên trên tất cả.
Ngược dòng lịch sử công bằng mà xét, thì trào lưu CS cũng chẳng qua là kết quả khốn khổ từ một GIẤC MƠ đẹp, rất đẹp! Nhưng TRÁI TIM thổn thức và bùng nổ ấy chưa được sự tham vấn Duy lý-Khoa học-và Thực tiễn của KHỐI ÓC nên Cứu cánh mới phản lại Mục đích như hiện thực ngày nay.
Nhưng rồi giấc mơ Duy cảm Mác-Lê ấy đã được tư duy Khoa học và Duy lý tiếp sức nên đã tạo ra kết quả tuyệt vời là thể chế Dân chủ Xã hội như ở Thụy Điển, Na Uy  và mấy nước Bắc Âu, các nước luôn được thế giới văn minh ngày nay xếp lên hàng đầu về văn minh và hạnh phúc.
Gần đây ta nhận được thông tin “Ngày 10/5/2019, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) cùng với Tập đoàn Ericsson (Thụy Điển) đã thực hiện cuộc gọi đầu tiên trên mạng di động 5G tại Việt Nam. Hoạt động nằm trong chương trình thử nghiệm kỹ thuật do Viettel thực hiện, nhằm đánh giá mọi mặt về khả năng ứng dụng công nghệ trong thực tiễn tại Việt Nam”.
Việt Nam liên kết với Ericsson – Thụy Điển (chứ không liên kết với Hoa Vi – Trung Quốc) để thực hiện cuộc “Cách mạng 5G” là một dấu hiệu đáng suy nghĩ.
Thế giới đang chuyển động như vũ bão trên nền Văn minh Trí tuệ thần kỳ, mọi xu hướng, mọi Chủ nghĩa, dù khác nhau nhưng nếu cứ bám lấy tư duy tư biện xơ cứng của mình thì đều là tự sát. Tất nhiên không ai muốn bị đào thải, ĐCSVN cũng vậy. Giấc mơ “Bác Hồ đã khuyên nên Dân chủ đa nguyên-Tam quyền phân lập” vừa như đùa vừa như thật biết đâu chẳng có lúc phải ló ra và biến dạng.
Trong cuộc cạnh tranh sinh tồn hiện đại này, chẳng có ai ngu cả, nên thực lòng chẳng dám khuyên ai. Chỉ xin thành tâm chốt lại một niềm tâm sự:
Làm gì thì làm, Dân phải được hưởng nền Văn minh Tự do và Hạnh phúc! Sức mạnh đẩy thuyền và lật thuyền của lòng yêu nước là sức mạnh có thật trong máu người VN, lịch sử đã, đang và sẽ chứng minh. Chân thành thì sống, khôn vặt cũng chết, không lừa được nhau đâu. Nói yêu nước mà chặn Dân chủ, mà tăng cường bộ máy công an đến tận thôn xóm, mà đánh đập người nói lẽ phải, mà khéo mồm để tay vét túi dân thì không xong đâu. Tiểu kỷ không thể lừa Đại nghĩa, Tư lợi không thể trùm lên Công ích - Công tâm.
Năm 2014 tôi có đọc được một bài trên Tạp chí CS ca ngợi chiến thuật “mở đường lui cho địch” trong kế sách giữ nước của cha ông. Với kẻ thù xâm lược, khi có cơ hội ta còn mở đường, huống chi những mâu thuẫn chỉ trong nội tình một Dân tộc mình? Hận thù nên cởi-không nên buộc, chỉ cần người đã nghĩ sai, làm sai phải biết lỗi mà sửa, mà bài viết nhỏ này xin góp mấy suy tư cặn kẽ, đã ôm ấp từ lâu, để cùng nhau phân định lỗi lầm, mong được quan tâm tham khảo một chút mà thôi.
Chủ nghĩa CS đã được thực tiễn và cả thế giới văn minh chứng minh là con đường sai lầm và phản tiến hóa thì phải từ bỏ, mọi cách làm khác đều chỉ là ngụy biện và lừa bịp!
Nói chuyện “giấc mơ” cũng là một mong ước từ lòng nhân ái, cũng là chiến thuật “mở đường lui cho địch” của cha ông chúng ta (mà chính Tạp chí CS đã ca ngợi). Nhưng mở đường lui cho ĐCSVN trở về với Dân tộc thành “người tử tế” có chút khả năng hiện thực nào không, thực tiễn hành động sắp tới của ĐCSVN sẽ trả lời nhân dân một lần cuối.
H.S.P.
19/5/2019
_________
(*): Nghị quyết 1481 của Quốc hội 46 nước châu Âu được tóm tắt giới thiệu trên Bách khoa toàn thư của Thế giới như sau:
Điều 2: …Những chế độ độc tài toàn trị cộng sản gồm khối Liên Xô, Đông Âu trong thế kỷ 20 và một số chế độ cộng sản hiện vẫn còn cầm quyền ở 4 nước trên thế giới, đều là những quốc gia vi phạm nhân quyền. Những vi phạm này tuy khác nhau về cấp độ văn hoá, về ranh giới quốc gia, cũng như tùy giai đoạn lịch sử nhưng đều có chung những cuộc giết người tập thể, ám sát, thủ tiêu cá nhân không cần xét xử, biến đất nước thành trại tập trung với sự đầy đọa con người về thể xác cũng như tinh thần: tra tấn, nô lệ hoá, lao động khổ sai, tù đầy, khủng bố tập thể, ngược đãi, ám sát vì lý do chủng tộc, tôn giáo, chính kiến; vi phạm quyền tự do tư tưởng, xúc phạm lương tâm con người, cấm tự do báo chí, tự do chính trị, độc tôn, độc quyền, độc đảng…
Điều 3: Nhân danh chủ trương đấu tranh giai cấp và nguyên tắc chuyên chính vô sản mà các tội ác được biện minh. Sự giải thích hai nguyên tắc này đã hợp thức hóa việc 'thủ tiêu' những người bị cho là có hại cho sự xây dựng một xã hội mới: xã hội chủ nghĩa, và do đó, bị xem là kẻ thù của các chế độ độc tài toàn trị cộng sản. Hầu hết nạn nhân chế độ cộng sản chính là công dân của nước đó…
Điều 4: Nghị viện thừa nhận rằng, bất chấp những tội ác của các chế độ cộng sản toàn trị, vài đảng cộng sản Âu Châu [Đông Âu – HSP] cũng từng đóng góp nhiều vào việc hoàn tất nền dân chủ.
Điều 5: Sự sụp đổ của những chế độ độc tài toàn trị cộng sản tại Trung và Đông Âu chưa được điều tra kỹ lưỡng bằng tổ chức quốc tế để thống kê hết tội ác của cộng sản, đặng đưa tác giả của những tội ác này ra xét xử trước cộng đồng nhân loại, như trường hợp những tội ác khủng khiếp do Đức Quốc xã gây ra trước đây…
Điều 7: Nghị viện xác tín rằng việc hiểu biết lịch sử là một trong các điều kiện tiên quyết để tránh những tội ác tương tự trong tương lai... Quan điểm minh bạch của cộng đồng quốc tế về quá khứ có thể là một điểm tham chiếu cho những hành động tương lai của họ.
Điều 9: Các chế độ độc tài toàn trị còn lại trên thế giới vẫn tiếp tục gây tội ác. Không thể dùng quan điểm quyền lợi quốc gia để biện hộ, lấp liếm sự lên án của cộng đồng nhân loại với các tội ác của các chế độ toàn trị này. Quốc hội chung châu Âu cực lực lên án tất cả mọi vi phạm quyền con người trong các chế độ cộng sản, coi nó như là tội ác chống nhân loại…
Điều 14: Nghị viện tin rằng quan điểm minh bạch này của cộng đồng quốc tế sẽ mở đường cho sự hòa giải trong tương lai....
Hội đồng châu Âu đã trở thành tổ chức quốc tế đầu tiên lên án các tội ác chống lại nhân loại của các chính thể cộng sản. (hết trích)
Tác giả gửi BVN

Đặc san số 3 - 10 năm nâng cao dân trí chấn hưng dân khí

Đặc san số 3 - 10 năm nâng cao dân trí chấn hưng dân khí

Tô Văn Trường
Thời gian trôi rất nhanh, thấm thoát đã đến kỷ niệm 10 năm ngày thành lập trang mạng Bauxite Việt Nam (BVN). BVN xuất hiện vào thời điểm chuẩn bị triển khai dự án khai thác Bauxite ở Tây Nguyên với nhiều ý kiến bức xúc trái chiều với chủ trương này. Đến nay, thực tế cho thấy đó là những phản biện khoa học thực tiễn quý giá, nếu được lựa chọn tiếp thu sẽ không dẫn đến tình trạng “bỏ thì thương, vương thì tội” như dự án bauxite cũng như nhiều đại dự án hiện nay. Phản biện khoa học hữu hiệu góp phần bảo đảm tăng trưởng kinh tế, an toàn về môi trường và an ninh cho đất nước ta.
Diễn đàn của người dân và giới trí thức
Tính đa dạng, đa chiều trong tự nhiên và xã hội là sự tồn tại tất yếu. Theo thời gian trang Bauxite Việt Nam trở thành diễn đàn của nhiều người dân, đặc biệt là giới trí thức trong và ngoài nước về nhiều nội dung hơn, chủ yếu là những ý kiến riêng phản ánh & bình luận về các vấn đề thời sự, thực trạng kinh tế xã hội và lý luận của Đảng và Nhà nước... ; phần lớn là  ý kiến trái chiều, có ý kiến sâu sắc, có ý kiến cực đoan, nhưng đều phản ánh cách nhìn đa chiều về chính trị - xã hội và là những thông tin hữu ích để đánh giá những điều tích cực cũng như yếu tố tiêu cực của đời sống chính trị - xã hội mà không phải lúc nào các cơ quan tư tưởng văn hóa của Đảng và Nhà nước muốn mà có được.
Cùng với vai trò của nhà nước pháp quyền và kinh tế thị trường, tự do thông tin cũng là một trong những yếu tố trụ cột của xã hội dân sự, là điều kiện để tạo ra sự phát triển của đất nước tiến kịp văn minh nhân loại. Vì vậy, từ trang thông tin Bauxite Việt Nam, có thể chọn ra được những bài viết nghiêm túc dù có trái với một số quan điểm của Đảng nhưng vẫn là những thông tin tham khảo hữu ích rất đáng trân trọng.
Người đời thường nói khi “sơn hà nguy biến” trước giặc ngoại xâm thì phải bằng súng gươm để hóa giải, “nước dơ lấy máu làm sạch” nhưng khi đất nước đối diện với nghèo nàn và lạc hậu, với tham nhũng và thoái hóa của một bộ phận không nhỏ đang có quyền lực thì phải bằng bản lĩnh và trí tuệ của người trí thức để cứu nước.
Có thể nói 10 năm kỷ niệm của trang mạng Bauxite Việt Nam ra đời cũng là 10 năm chúng ta chứng kiến những sự kiện to lớn, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đất nước và trên thế giới. Những vụ việc tày đình làm thất thoát, tham nhũng tài sản Nhà nước, những quan chức cao cấp hàng đầu, tướng lĩnh quân đội, công an vi phạm pháp luật đã bị xử không còn là chuyện đồn thổi, “bôi nhọ chế độ” nhưng giới truyền thông cũng phải đối mặt với rất nhiều thử thách khắc nghiệt để có thể tồn tại dù biết trước cũng không dám lên tiếng khi chưa được phép của Ban Tuyên giáo Trung ương.
Trong bối cảnh  báo chí truyền thông “lề phải” bị vướng vào “vòng kim cô”, thì BVN có thể tự hào rằng là một trong những trang mạng đã sớm có những phân tích về hậu quả khó tránh của hầu hết các sự kiện nổi cộm  trong đời sống chính trị - xã hội, thực hiện khá tốt chức năng phản biện xã hội mặc dù không được công nhận chính thức – thẳng thắn và có giá trị hơn nhiều so với các diễn đàn “chính thống” khác như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị xã hội khác.
Vì vậy, BVN nhận được sự quan tâm rộng rãi của cộng đồng người Việt Nam, đặc biệt nhiều trí thức trong và ngoài nước, đã tồn tại một cách đàng hoàng và uy tín trong làng truyền thông. Hay nói cách khác, BVN đã lớn lên từng ngày trong công chúng. 
Mười năm không phải là dài nhưng là chặng đường đáng nhớ.  Bauxite Việt Nam đã tập hợp được đội ngũ các cộng tác viên cùng nhau chia sẻ quan điểm phản biện  trên cơ sở thực tế và khoa học, có tác dụng thực sự trong việc nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí, vốn là một yếu tố quan trọng làm nên thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ  năm 1945.
Khoa học không có tình thương, mà cũng không có hận thù. Khoa học không có vị nể, mà cũng không có bôi bác. Khoa học là thẳng thắn, trung thực, và chính xác. Mạng Bauxite Việt Nam ngay từ khi mới ra đời, phản ánh đúng tâm tư của giới trí thức, ngoài vấn đề liên quan đến dự án bauxite còn đề cập nhiều vấn đề về kinh tế, chính trị, triết học, quan hệ quốc tế, khoa học công nghệ,… với tầm nhìn sâu sắc, nhân văn, có lý có tình và rất thuyết phục. Nhiều bài phản ánh bức xúc ở trong nước như về dự án đồi Vọng Cảnh (Huế), dự án xây đô thị lấy đất của nhà thờ Cồn Dầu (Đà Nẵng), v.v... đã có tác dụng sớm ngăn chặn những chủ trương sai trái, làm giảm sự phẫn nộ của các tầng lớp xã hội. Nhiều bạn đọc thích mạng BVN vì mang tính chất “think tank” phân tích sâu hơn những mạng khác chỉ có ý nghĩa “thông tấn” khi sự việc đã rồi.
Phải nói Bauxite Việt Nam mở đầu phong trào trí thức phản biện ở VN, nếu không bị ngăn cản thì đây đã có thể trở thành nơi tập hợp của giới trí thức tinh hoa tạo đà xây dựng xã hội dân sự thúc đẩy Việt Nam phát triển và hòa nhập xu hướng dân chủ tiến bộ trên thế giới.
Suy ngẫm
Tuy nhiên, cũng có thể nhặt ra một số “hạt sạn” trên mạng Bauxite Việt Nam. Những năm gần đây, không biết có phải vì bị ngăn cản cấm đoán từ phía chính quyền hay vì lý do nào đó, mà xu hướng phản biện phần nào cực đoan xuất hiện trên BVN ngày càng nhiều. 
Tôn chỉ, mục đích của BVN là đấu tranh vì tiến bộ xã hội, vì sự phát triển đất nước, chấp nhận đa dạng quan điểm chính trị, nhưng không nên vô tình hay hữu ý để người đọc nhận lầm đây là một “cuộc chiến một mất, một còn”. Và trong cuộc chiến ấy, mục tiêu, con đường, quan trọng nhất vẫn là phải tự lực, không thể dựa vào bất cứ thế lực nào bên ngoài vì không hợp xu thế thời đại. Có một số bài viết mặc định VN chỉ có thể phát triển nếu dựa vào Hoa Kỳ, EU, đả phá, phủ định con đường hiện thực của đất nước một cách chủ quan, bởi cho rằng tất cả  những gì có liên hệ với chủ nghĩa cộng sản đều thiếu luận cứ khoa học, thực tiễn, thậm chí còn tranh luận những vấn đề không đáng có, làm mất đi tiếng nói khách quan, đôi khi làm nản lòng một số bạn đọc.
Độc giả cũng mong BVN bên cạnh những vấn đề “quốc kế” (như bảo vệ độc lập, chủ quyền; thực hiện dân chủ; phát triển kinh tế; các dự án hợp tác với nước ngoài; ứng phó biến đổi khí hậu,...), quan tâm hơn đến các vấn đề “dân sinh”. Ví dụ, về vấn đề nhân quyền, cần quan tâm từ những vấn đề lớn như quyền bầu cử, quyền tự do cho đến những quyền thiết thân hằng ngày như quyền được sống trong môi trường an toàn, con cháu ra đường không lo bị tấn công tình dục, bị đánh hội đồng hay bị chó không đeo rọ mõm cắn chết... Vấn đề là làm sao hài hòa giữa tính “hàn lâm” và “thông tấn” đó là nghệ thuật quản trị của Ban biên tập BVN.
Sau 10 năm nhìn lại, bạn đọc không quên sự dấn thân, dũng cảm, vượt khó với biết bao trở ngại, phiền toái trong cuộc sống của những người sáng lập trang mạng Bauxite Việt Nam  – GS Nguyễn Huệ Chi, nhà giáo Phạm Toàn, GS Nguyễn Thế Hùng. Do xã hội ta không có thói quen phản biện từ ngàn đời, nên họ bị khó dễ là đương nhiên. Nhưng trong mắt bạn đọc, những người sáng lập trang BVN không phải chỉ là những người đã tập hợp được đội ngũ các cộng tác viên cùng nhau chia sẻ quan điểm phản biện vì lợi ích của đất nước và dân tộc mà còn là những người giàu lòng nhân ái, biết cảm thông, chia sẻ với những nỗi đau thương, mất mát của đồng bào. Các chuyến đi cứu trợ năm 2009 từ Quảng Nam vào đến tận Phú Yên, ra tận đảo Lý Sơn và lên đến Tumơrông (Tây Nguyên) đã thu được nhiều kết quả thiết thực, trao tận tay tiền, tôn lợp nhà... đến các gia đình cùng cực nhất, chứ không phải chỉ là những thứ có tính chất "tượng trưng"!
Thay cho lời kết
Nhân kỷ niệm 10 năm sinh nhật của trang mạng BVN sắp đến, xin có mấy vần thơ để kết luận cho bài viết này:
Tây Nguyên đỏ, tô màu cờ thêm đỏ
  Tây Nguyên xanh cho đất mẹ càng xanh
  “Bauxit Việt Nam” của chị, của anh
  Son sắt niềm tin
                      luyện ý chí thành gang thép
   Cho non nước ngày mai thêm đẹp
   Cho em tôi tươi trẻ

                             thắm môi hồng.
Mười năm rồi, độc giả mãi thêm đông
Kết thành hoa mừng ngày sinh nhật
Bauxit Việt Nam lời thì thầm của đất
Đỏ tươi màu sự thật
                              máu trong tim
T.V.T.
Tác giả gửi BVN

Đặc san số 2 - THƯ NGỎ (Số 2): Phản biện Thông cáo của Bộ Công Thương

Đặc san số 2 - THƯ NGỎ (Số 2): Phản biện Thông cáo của Bộ Công Thương

D:\Pictures\Insigne BVN 2.JPG

GỬI QUÝ VỊ LÃNH ĐẠO NHÀ NƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Việt Nam ngày 7 tháng 5 năm 2009
Kính gửi:
– Ông Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam; 
– Ông Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội và toàn thể thành viên
Quốc hội CHXHCN Việt Nam;
– Ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng và toàn thể thành viên Chính phủ CHXHCN Việt Nam
Kính thưa quý vị Lãnh đạo,
Tiếp theo Thư ngỏ(số 1) gửi các đại biểu Quốc hội khóa 12, nay chúng tôi gửi Thư ngỏ này (đánh số 2 để tiện theo dõi) nhằm mục đích phân tích những sai trái trong Thông cáo của Bộ Công Thương đề ngày 28 tháng 4 năm 2009, trong đó đã sai về nội dung khi phản bác lại các luận điểm của bản Kiến Nghị đối với chủ trương khai thác bauxite Tây Nguyên, lại còn sai cả về thái độ khi quy chụp những trí thức đã ký tên vào kiến nghị là kém xây dựng, hoàn toàn dựa trên những thông tin sai lệch, dựng chuyện, […] thậm chí mang tính kích động và bị các tổ chức phản động lợi dụng.
Sở dĩ chúng tôi phải dùng hình thức thư ngỏ, vì kinh nghiệm cho thấy quý vị rất hiếm khi – thậm chí không bao giờ – đối thoại với những người gửi thư tới quý vị, ngay cả những công dân có công lớn với đất nước như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt, cựu Đại sứ Nguyễn Trọng Vĩnh, … thì thư gửi tới quý vị đều không được phản hồi, vậy nên, việc viết thư ngỏ là biện pháp bất đắc dĩ mà chúng tôi phải lựa chọn để công khai cho đông đảo nhân dân xem và phán xét lập luận cùng thái độ của chúng tôi đúng hay sai.
Sở dĩ bài Thông cáo báo chí của Bộ Công Thương được tung ra từ ngày 28 tháng 4 năm 2009, nhưng mãi đến hôm nay chúng tôi mới có thư ngỏ này, đó là vì Ban Khởi thảo Kiến nghị không muốn tự tiện, còn phải chờ ý kiến số đông, đặc biệt ý kiến từ các chữ ký tiêu biểu chủ chốt, xem có cần phải trả lời hay không, và nếu có thì nên trả lời thế nào. Vì chúng tôi biết rằng, sai lầm từ một người như ông Thứ trưởng Bộ Công Thương thì có thể được làm ngơ, ngược lại những phản hồi này chỉ sai sót chút ít là đủ để nhận những đáp trả không xứng đáng với tư cách chúng tôi.
Kính thưa quý vị,
Ngày 28 tháng 4 vừa qua, đại diện Bộ Công Thương phân phát một Thông cáo báo chí trong buổi họp giao ban tại Hà Nội, được cho là đến tay 300 nhà báo, nhưng không có công khai công bố trên bất cứ một tờ báo nào trong nước. Chúng tôi đã may mắn được đọc, và nhận thấy, nội dung của Thông cáo đó có nhiều điều sai, chúng tôi sẽ trình bày qua thư ngỏ này.
Trước hết, đề cập chung đến bản Kiến nghị ngày 12 tháng 4 năm 2009 về chủ trương khai thác Bauxite Tây Nguyên, một văn bản đầu tiên gồm 135 chữ ký tự nguyện của giới trí thức Việt Nam trong và ngoài nước, tập hợp đủ các ngành nghề, kể cả những người có chuyên môn liên quan đến các lĩnh vực tài nguyên, môi trường, kỹ thuật khai thác v..v... và hiện đang được sự ủng hộ ngày càng tích cực của mọi người, chí ít là chưa thấy một lời lẽ phê phán nào, càng không thấy có ai chống lại. Chưa bao giờ thấy hiện tượng cả ngàn người nhất trí ký tên vào bản Kiến nghị trong đó rất nhiều người không quen biết nhau mà mới chỉ “đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu”, thế mà bản Thông cáo báo chí của Bộ Công Thương lại nói về những chữ ký đó một cách hàm hồ và chụp mũ trắng trợn như sau:
“[…] bên cạnh những ý kiến đúng đắn đó, có nhiều ý kiến rất kém xây dựng, hoàn toàn dựa trên những thông tin sai lệch, dựng chuyện, trầm trọng hóa, thậm chí mang tính kích động và bị các tổ chức phản động lợi dụng. Thể hiện rõ nhất là nội dung bản kiến nghị với nhiều thông tin không chính xác.
Chúng tôi tạm bỏ qua chưa phân tích “kết luận” trên của Bộ Công Thương, bỏ qua cả những kiểu cách quy chụp rất trịch thượng trong ngôn từ mà Bộ Công thương sử dụng, chỉ xin đi vào những lý lẽ cụ thể đã được Bộ Công Thương phản bác .
Kính thưa quý vị,
Ý kiến thứ nhất của chúng tôi được Bộ Công Thương trích dẫn như sau:
Chủ trương lập dự án được công khai hóa vào cuối năm 2008 sang đầu năm 2009, song thực ra nó đã được “ký tắt” với người Trung Quốc từ nhiều năm về trước mà không hề xin ý kiến nhân dân thông qua Quốc hội do dân bầu ra; toàn bộ báo cáo tiền khả thi chưa bao giờ được trình ra trước nhân dân và đại diện của nhân dân tức Quốc hội”.
Giải trình của Bộ Công Thương:
Đây là nội dung hoàn toàn sai trái: Các dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin đã được nghiên cứu từ rất lâu, trong giai đoạn hợp tác với các nước khối SEV. Chủ trương phát triển ngành công nghiệp này đã được nêu trong văn kiện của hai Đại hội Đảng IX, và X. Bộ Chính trị đã xem xét và có nhiều chỉ đạo về vấn đề này, giao cho Chính phủ lập quy hoạch. Dự án Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxite gian đoạn 2007-2015, có xét đến 2025 được xây dựng từ những năm 2005, trong quá trình xây dựng có nhiều cuộc hội thảo, lấy ý kiến rộng rãi các nhà khoa học, doanh nghiệp trong và ngoài nước v.v. Dự án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2007”.
Chúng tôi xin phản hồi như sau:
– Đầu thập niên 1980, Việt Nam yêu cầu khối SEV (Hội đồng Tương trợ Kinh tế hay COMECON) nghiên cứu dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin của Việt Nam. Mặc dù Liên Xô đang phải nhập khẩu 50% bauxite, chuyên gia Liên Xô, thông qua khối SEV, vẫn khuyến cáo Việt Nam "không nên khai thác bauxite trên Tây Nguyên do những nguy cơ gây tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng, không thể khắc phục được đối với dân cư chẳng những tại chỗ mà còn cả dân cư và vùng đồng bằng Nam Trung Bộ. Chính phủ khi đó đã quyết định không khai thác bauxite mà gìn giữ thảm rừng và phát triển cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè...) trên Tây Nguyên" (1). Lúc ấy Tổng Bí thư là Lê Duẩn và Thủ tướng là Phạm Văn Đồng.
– Tháng 12 năm 2001, sau Đại hội Đảng IX, tân Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh viếng thăm Trung Quốc và ký tuyên bố chung giữa hai nước, trong đó có đề cập: “[...] nhất trí sẽ tích cực thúc đẩy các doanh nghiệp hợp tác lâu dài trên dự án bauxite nhôm Đắc Nông” (2).
– Tháng 5 năm 2002, báo chí Trung Quốc đưa tin: Năm 2001, Việt Nam và Trung Quốc đã ký bản ghi nhớ cho dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin trị giá 800 triệu đô la Mỹ ở Tây Nguyên; Trung Quốc đã hoàn tất báo cáo tiền khả thi sơ khởi về khả năng sản xuất hàng năm 1 triệu tấn alumin ở Đắc Nông (3).
– Tháng 12 năm 2003, báo chí Trung Quốc đưa tin: Aluminium Corp of China Ltd (Chalco) tham gia dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin ở Tây Nguyên; Việt Nam và Trung Quốc đã ký bản ghi nhớ cho dự án trị giá 1.35 tỷ đô la Mỹ và hai bên sẽ hoàn chỉnh báo cáo tiền khả thi cho dự án (4).
– Tháng 12 năm 2005, báo chí Trung Quốc đưa tin: Chalco đã ký một thỏa thuận ban đầu với Tập đoàn nhà nước Tổng công ty Than và Khoáng sản Việt Nam (TKV) để cùng hợp tác trong dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin ở Tây Nguyên (5).
Tất cả những dữ kiện nêu trên đều xảy ra trước Đại hội Đảng X tổ chức vào tháng 4 năm 2006 khi vấn đề khai thác bauxite, sản xuất alumin mới lại được đề cập đến. Tuy nhiên, ngay cả khi “có chủ trương” rồi, thì tuyệt đại bộ phận nhân dân Việt Nam vẫn không được thông báo về chủ trương và dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin cho đến khi tin tức về dự án và phản biện được công khai hóa trên phương tiện truyền thông đại chúng bắt đầu từ cuối năm 2008.
Như vậy, giải trình của Bộ Công Thương là hoàn toàn không trung thực chứ không phải nội dung bản Kiến nghị của chúng tôi là sai trái, theo Thông cáo báo chí của họ.
Kính thưa quý vị,
Ý kiến thứ haiđược Bộ Công Thương trích dẫn (bản Kiến nghịnói rằng):
Người Trung Quốc đóng cửa các mỏ khai thác bauxite của họ để chuyển sang khai thác ở Việt Nam, định trút gánh nặng ô nhiễm môi trường cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và nhiều đời mai sau – những hành động y hệt như họ đã và đang làm ở châu Phi với sự giúp sức của những chế độ cai trị tham nhũng tại châu lục này, và đang bị dư luận thế giới theo dõi chặt chẽ và hết sức công kích”.
Ý kiến thứ bađược Bộ Công Thương trích dẫn (bản Kiến nghịnói rằng):
Kỹ thuật, công nghệ và nhân công khai thác dự định du nhập chủ yếu từ Trung Quốc, một cường quốc mới nổi dậy với nền kinh tế đang giàu lên nhưng bên trong vẫn chứa đựng không ít thực trạng bất khả tín, trong đó liên quan đến vấn đề khai thác bauxite là sự “nổi tiếng” của Trung Quốc trên toàn thế giới hiện đại như là một quốc gia gây ô nhiễm môi trường vào bậc nhất, chưa kể những “vấn nạn” khác (chỉ mới trong tháng Ba vừa rồi Chính phủ nước Úc đã phải hủy bỏ một dự án khai thác khoáng sản ở Nam Úc ký với Trung Quốc vì lý do quốc phòng)”.
Giải trình của Bộ Công Thương:
Như trên đã nêu, hiện nay ở Tây Nguyên chỉ có 2 dự án Tân Rai và Nhân Cơ là do ta tự đầu tư (chủ đầu tư là Tập đoàn nhà nước TKV) mà không phải là dự án liên doanh với nước ngoài. Nội dung bản kiến nghị cố tình xuyên tạc sự thật, mang tính kích động làm ảnh hưởng đến mối quan hệ tốt đẹp giữa Đảng và Nhân dân hai nước.
"Đến thời điểm hiện nay, chưa có bất kỳ một dự án nước ngoài nào hoặc liên doanh nào về khai thác bauxite, sản xuất alumin tại Việt Nam được thỏa thuận. Việc dự kiến hợp tác với các nhà đầu tư nước ngoài như Alcoa (Mỹ), Chalco (Trung Quốc), Uc-Russal (Nga) vẫn đang được các doanh nghiệp Việt Nam đàm phán và chưa có kết quả. Như vậy thông tin về việc Trung Quốc đóng của các mỏ bauxite và chuyển sang khai thác bauxite ở Việt Nam là không có tính hiện thực và không đúng với tình hình thực tế.
“Về vấn đề “Kỹ thuật, công nghệ và nhân công khai thác dự định du nhập chủ yếu từ Trung Quốc…”:
"Đối với dự án nhà máy alumin Tân Rai và Nhân Cơ, Tổng thầu gói thầu EPC là Công ty Chalieco, Trung Quốc (Công ty con của Chalco). Trong quá trình xét thầu, hồ sơ dự thầu của Công ty này đáp ứng yêu cầu của hồ sơ mời thầu; Chalieco cam kết chuyển giao công nghệ sản xuất alumin tiên tiến. Thực tế sản phảm alumin của Chalco đạt tiêu chuẩn để sản xuất nhôm và có tính cạnh tranh trên thế giới. Tại cuộc Hội thảo khoa học ngày 9 tháng 4 năm 2009, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải đã giao nhiệm vụ cho Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm chỉ đạo và kiểm tra việc chuyển giao công nghệ sản xuất alumin, đảm bảo công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường”.
Chúng tôi xin phản hồi như sau:
– Theo các báo quốc tế cũng như theo báo chí Trung Quốc, trong vòng hơn 5 năm nay, hàng ngàn doanh nghiệp khai thác quặng mỏ (bauxite, than, v.v.) của Trung Quốc phải đóng cửa do những quy định mới về bảo vệ môi trường hay đòi hỏi canh tân kỹ thuật. Trong cùng thời gian, doanh nghiệp lớn như Chinalco không ngừng mở rộng thị trường khai thác bauxite, sản xuất alumin ra nước ngoài như Brazil, Australia, Guinea hay Việt Nam (6).
– Tháng 11 năm 2006, hãng thông tấn Reuters đưa tin trong thời gian Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào tham dự Hội nghị APEC ở Hà Nội, Chalco và TKV đã ký hiệp nghị khung cùng hợp tác trong dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin trị giá 1.6 tỷ USD (7).
– Tháng 5 năm 2007, báo chí Việt Nam (bản tiếng Anh) đưa tin Chalco và TKV đã thỏa thuận cùng hợp tác trong dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin. TKV và Chalco sẽ thành lập liên doanh bauxite trong đó TKV nắm 51% vốn và thành lập liên doanh alumin trong đó Chalco nắm 60% cổ phần (8).
– Tháng 5 năm 2008, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh viếng thăm Trung Quốc và ký tuyên bố chung giữa hai nước, trong đó có đề cập: “[...] Hai bên tích cực ủng hộ và thúc đẩy các doanh nghiệp của hai nước hợp tác lâu dài cùng có lợi trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, công nghiệp chế tạo, phát triển nguồn nhân lực, năng lượng, chế biến khoáng sản và các lĩnh vực quan trọng khác. Hai bên tăng cuờng hợp tác trong các dự án như: Bô-xit Đắc Nông, các dự án trong khuôn khổ “Hai hành lang, một vành đai kinh tế” và các dự án lớn khác”.
– Tháng 7 năm 2008, báo chí Việt Nam (bản tiếng Anh) đưa tin Chalieco và TKV đã ký thỏa thuận tổng thầu gói thầu EPC xây dựng nhà máy sản xuất hàng năm 0.6 triệu tấn alumin tại Bảo Lâm, Lâm Đồng (9).
– Tháng 9 năm 2008, báo chí Việt Nam (bản tiếng Anh) đưa tin dự án khai thác bauxite giữa Chalco và TKV ngưng trệ do bất đồng trong vấn đề xây dựng hạ tầng cơ sở (10).
Tất cả những dữ kiện nêu trên nhấn mạnh hai điểm chính:
– Việc các doanh nghiệp Trung Quốc khai thác quặng mỏ ảnh hưởng nguy hại đến môi trường và việc họ mở rộng lãnh vực khai thác quặng mỏ ngoài Trung Quốc là một thực tế không thể chối cãi.
– Các doanh nghiệp Trung Quốc coi trọng dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin ở Tây Nguyên và đang ráo riết thúc đẩy Việt Nam trong quá trình thi công. Mọi chậm trễ, nếu có, chỉ là yếu tố nhất thời.
Kính thưa quý vị,
Trong phần kết lá thư gửi Hội thảo về bauxite ngày 09.4.2009 tại Khách sạn Melia, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có lời khuyên hết sức thẳng thắn là:
“[…] không nên khai thác.
Vì đứng về lợi ích toàn cục và sự phát triển bền vững lâu dài của đất nước, khai thác sẽ gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng về môi trường, về xã hội, về an ninh quốc phòng”.
Những điều được viết trong bản Kiến nghị của cả ngàn chữ ký chúng tôi chỉ là biểu hiện lý trí và tình cảm đã được Đại tướng bộc bạch. Qua văn bản kết luận gần đây của Đảng và Thủ tướng Chính phủ, nhân dân Việt Nam nhận thấy có nét tư duy tích cực, đã đặt ra yêu cầu thận trọng khi xử lý vấn đề bauxite Tây Nguyên (11). Song, chúng tôi vẫn thấy cần vạch ra mấy xu thế sau đây:
Có ý kiến cho rằng, do cam kết quốc tế, Việt Nam không thể ngưng dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin!
Tình hình cụ thể cho thấy: nhân dân Việt Nam thông qua Quốc hội, cơ quan quyền lực tối cao của mình, chưa hề có dịp biểu quyết về chủ trương làm bauxite ở Tây Nguyên. Nếu bên “cam kết quốc tế” thực sự tôn trọng quyết định của cả dân tộc Việt Nam, thì đó là điều tốt cho họ. Còn không, nhân dân Việt Nam đã biết dựng nước thì cũng biết giữ nước. Nhân dân Việt Nam từng trải nhiều ách nô lệ, chắc chắn không một ai vì quyền lợi riêng mà bênh “bên đối tác” và phản bội lại dân tộc mình.
Có ý kiến cho rằng phát triển kinh tế khu vực cho Tây Nguyên là một nhu cầu cấp bách, trong đó trữ lượng bauxite của Việt Nam lớn hàng thứ ba trên thế giới, nên càng cần tận dụng nguồn tài nguyên này vào phát triển kinh tế!
Tình hình cụ thể cho thấy: Dân tộc ta vừa ra khỏi chiến tranh, kinh nghiệm xây dựng đất nước vẫn còn non nớt. Tình trạng đó thể hiện ở năng lực yếu khi quản lý những hạng mục lớn mà thực tế làm ăn thất bát trong việc nhập hàng loạt các nhà máy mía đường, vụ ô nhiễm kéo dài cả chục năm do nhà máy bột ngọt Vedan gây ra, vụ quy hoạch ồ ạt các sân golf … chỉ là mấy thí dụ quá nhỏ. Việc học tập xây dựng một đất nước PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG không dễ dàng gì khi còn có đầu óc quản lý lối tiểu nông, khi còn có tệ nạn tham nhũng, và khi bắt đầu hình thành những tập đoàn lợi ích rất khó kiểm soát.
Nếu có ai đó đã nói không khai thác bauxite bằng mọi giá, thì mong rằng đó là lời nói chân thành. Người biết nghĩ như thế hãy đấu tranh chống lại lối suy nghĩ kiểu cờ bạc, đem dân tộc ra đặt 50/50 vào một canh bạc chắc gì đã năm ăn năm thua?
Cũng đấu tranh cả với thói vô trách nhiệm, thể hiện trong những cách phát ngôn thiếu suy nghĩ, thiếu tầm vóc của người có trách nhiệm xây dựng Nhà nước Pháp quyền.
Kính thưa quý vị,
Vì hoàn toàn tin cậy vào quý vị, lại hy vọng rằng quý vị cũng cùng tâm tư với chúng tôi, nghĩa là cùng đặt quyền lợi Tổ quốc trên hết, chúng tôi trông đợi những quyết định đầy bản lĩnh và đầy trách nhiệm của quý vị. Khó khăn nào hơn khi Đại tướng thân yêu của chúng ta quyết định kéo pháo ra, chậm cuộc tổng tiến công lại, song Ngài đã làm được điều đó, và tên tuổi Ngài sẽ sống mãi cùng non sông đất nước!
Xin cám ơn quý vị Lãnh đạo đã lắng nghe lá Thư ngỏsố 2 này, trong đó chứa đựng những lời tâm huyết của những con người chỉ muốn rảnh rang làm công việc sáng tạo âm thầm của mình, không một mảy may thu vén cho riêng mình trong vụ việc liên quan đến dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin.
Xin chân thành cảm ơn quý vị,
Thay mặt các chữ ký Kiến nghị Bauxite Tây Nguyên
GS Nguyễn Huệ Chi, nhà văn Phạm Toàn, GS TS Nguyễn Thế Hùng

Phụ chú:
(1) Thư Đại tuớng Võ Nguyên Giáp gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngày 14/01/2009
(2)http://viet.vietnamembassy.us/tintuc/story.php?d=20011203000335
(4)http://www.chinadaily.com.cn/en/doc/2003-12/05/content_287458.htm
(5)http://www.chinadaily.com.cn/english/doc/2005-12/20/content_504770.htm
(6) “Refined Brown Aluminum Oxide from China”, U.S. International Trade Commission, March 2009; “Bauxitee and Alumina [Advanced Release]”, U.S. Department of Interior, U.S. Geological Survey, November 2008; Thailand Office of Industrial Economics Report, April 2005
(7)http://www.reuters.com/article/companyNewsAndPR/idUSHAN21294820061117
(8)http://english.vietnamnet.vn/biz/2007/05/698557/
(9)http://www.thanhniennews.com/business/?catid=2&newsid=40298
(10) http://www.thanhniennews.com/business/?catid=2&newsid=41689
http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/05/846241/

Đặc san số 2 - Về việc các tỉnh cho người nước ngoài thuê đất đầu nguồn trồng rừng nguyên liệu dài hạn (Bài viết gửi đăng BVN ngày 22.01.2010)

Đặc san số 2 - Về việc các tỉnh cho người nước ngoài thuê đất đầu nguồn trồng rừng nguyên liệu dài hạn (Bài viết gửi đăng BVN ngày 22.01.2010)

Đồng Sỹ Nguyên - Nguyễn Trọng Vĩnh
D:\Pictures\Insigne BVN 2.JPG
Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh
Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh
Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên vốn là người có 7 năm phụ trách Chương trình 327 mà mục tiêu là phủ xanh đồi núi trọc, bảo vệ rừng, và môi trường sinh thái; còn Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nguyên Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc (1974-1989). Hai nhà cách mạng lão thành gửi cho Bauxite Việt Nam bài viết sau đây, nêu rõ hiểm họa của việc chúng ta cho Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông thuê trong thời hạn 50 năm hơn 264 nghìn ha rừng đầu nguồn; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.
Bauxite Việt Nam
Theo chỉ thị của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát đã cử đoàn cán bộ liên ngành trực tiếp kiểm tra hai tỉnh Lạng Sơn và Quảng Ninh, đồng thời tổng hợp báo cáo 8 tỉnh Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương. Kết quả cho thấy 10 tỉnh [các tác giả chỉ liệt kê 9 tỉnh, tức sót một tỉnh – BVN] đã cho 10 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50 năm) trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích 305,3534 nghìn ha, trong đó Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc chiếm trên 264 nghìn ha; 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.
Đây là một hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn. Cho Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc khai thác rừng đầu nguồn là tiềm ẩn đầy hiểm họa. Họ đã thuê được thì họ có quyền chặt phá vô tội vạ. Rừng đầu nguồn bị chặt phá thì hồ thuỷ lợi sẽ không còn nguồn nước, các nhà máy thuỷ điện sẽ thiếu nước không còn tác dụng, lũ lụt, lũ quét sẽ rất khủng khiếp. Năm qua nhiều tỉnh miền Trung đã hứng chịu đủ, chẳng phải là lời cảnh báo nghiêm khắc hay sao?
Các tỉnh bán rừng là tự sát và làm hại cho đất nước. Còn các nước mua rừng của ta là cố tình phá hoại nước ta và gieo tai họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo. Nếu chúng ta không có biện pháp hữu hiệu, họ có thể đưa người của họ vào khai phá, trồng trọt, làm nhà cửa trong 50 năm, sinh con đẻ cái, sẽ thành những “làng Đài Loan”, “làng Hồng Kông”, “làng Trung Quốc”. Thế là vô tình chúng ta mất đi một phần lãnh thổ và còn nguy hiểm cho quốc phòng.
Chúng tôi đồng ý với 5 đề nghị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Xin nói rõ 2 đề nghị đầu:
1. Đối với một số tỉnh đã lỡ ký với doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt các tỉnh thuộc vùng xung yếu biên giới, cần tìm cách thuyết phục họ khoán cho đồng bào tại chỗ trồng. Những tỉnh chưa ký thì đình chỉ ngay; thay vào đó, huy động các doanh nghiệp trong nước đầu tư, kết hợp sử dụng một phần vốn Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng để thực hiện. Thực tế đất rừng đã giao cho đồng bào sử dụng gần hết. Nếu ký cho nước ngoài thuê sẽ đụng đến môi trường, đụng đến quyền lợi đồng bào, nhất là đồng bào miền núi, đang thiếu đất, sẽ nảy sinh nhiều vấn đề rất phức tạp.
2. Các tỉnh chỉ đạo các huyện, các lâm trường xây dựng bộ phận chuyên trách. Trong vòng 1 năm, chính thức giao đất, khoán  rừng cho từng hộ; cấp quyền sử dụng đất vào mục đích trồng rừng phòng hộ kết hợp rừng kinh tế.
Từ đây, chúng tôi đề nghị mở rộng chương trình xóa đói giảm nghèo ở miền núi thành chương trình làm giàu cho đồng bào miền núi, kết hợp tái định cư của các công trình. Điều kiện làm giàu ở miền núi tốt hơn ở đồng bằng. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đất rừng đầu hộ của đồng bào miền núi còn trên 4 ha. Tuy không nhiều, nhưng vẫn gấp 3 lần ở đồng bằng; ở đây, thực hiện được đa canh, đa con. Đặc biệt kết hợp tốt trồng rừng phòng hộ với rừng kinh tế. Lùi về trước đã có mô hình tỉnh Tuyên Quang nhân dân ta tự trồng rừng, đảm bảo nguyên liệu cho nhà máy Bãi Bằng. Vậy bây giờ có điều kiện hơn, tại sao lại giành cho nước ngoài?
Đất đai là thứ nhạy cảm, muôn đời, vì hiện tại và tương lai của nhân dân, hãy tính toán chặt chẽ từng tấc đất cho các mục đích cần sử dụng. Trước mắt đề nghị Chính phủ cho đình chỉ ngay việc cho nước ngoài thuê đất đầu nguồn dài hạn với diện tích lớn, dù có phải bồi thường cũng được, để tránh thảm họa cho dân cho nước.
Hà Nội, ngày 22 tháng 1 năm 2010
Đ. S. N. & N. T. V
Hai tác giả gửi BVN
Nguồn: http://www.boxitvn.net/bai/1239