Bài đăng nổi bật

Bức tường Berlin (Phần 1): Nước Đức chia cắt

  Bức tường Berlin (Phần 1): Nước Đức chia cắt 12/08/2021 Nguyễn Thọ 12-8-2021 Vào ngày này cách đây 60 năm, đêm 12, rạng sáng ngày 13.08.19...

Thứ Ba, 1 tháng 11, 2016

Bên trong các buổi tiệc tình dục của lãnh đạo Bắc Triều Tiên




536020604

Bên trong các buổi tiệc tình dục của lãnh đạo Bắc Triều Tiên


Bên trong các buổi tiệc tình dục của lãnh đạo Bắc Triều Tiên
Chào mừng bạn đến với những buổi tiệc tình dục bí mật của giới quan chức cấp cao Bắc Triều Tiên, nơi những cô bé trung học khoảng từ 13 tuổi bị ép phục vụ khoái cảm của những nhà lãnh đạo của họ.
Các cô gái được chọn ngẫu nhiên bởi các binh sĩ – thỉnh thoảng từ chính các lớp học của họ. Bệnh án và lịch sử gia đình được khảo sát cẩn thận, và được kiểm tra sức khỏe định kì để đảm bảo họ vẫn còn trinh.
Trong suốt thập niên sau đó, những cô gái này sẽ phục vụ một lượng giới quan chức cấp cao nhỏ trong quân đội Bắc Triều Tiên. Họ được gọi là đội Gippeumjo của lãnh tụ, hay Nhóm Mua Vui.
Có những lời cáo buộc từ nhiều người may mắn trốn thoát khỏi Bắc Triều Tiên trong thập niên vừa qua. Mỗi người đều mô tả nhóm bí ẩn này theo những thuật ngữ tương tự – một thế giới quái gở bí ẩn nơi những cô gái bị kéo ra khỏi xã hội và được đào tạo như những công cụ giải trí tình dục hạng sang.

Bên trong “Nhóm Mua Vui”
gettyimages-174376168
Nhóm Mua Vui  được hình thành bởi 2,000 cô gái Bắc Triều Tiên và được chia thành 3 nhóm cụ thể – một nhóm cho các dịch vụ tình dục, một nhóm để mát xa, và một nhóm để hát và múa, họ có thể phải làm điều đó trong tình trạng bán khỏa thân.
Bên trong các bức tường của Bắc Triều Tiên, các hoạt động đó vô cùng bí mật, và hiểu biết về sự tồn tại của chúng chỉ đến từ những người đã trốn thoát đến Trung Quốc hay Hàn Quốc.
Thậm cả gia đình của các cô gái trong đội cũng không được biết họ đã đi đâu – chỉ biết họ đang tham gia vào “những dự án chính phủ quan trọng.” Từ giây phút đó trở đi, các cô gái không được cho phép gặp gỡ hay nói chuyện với họ hàng của mình.
Chưa đầu sáu tháng sau cái chết của cha mình, tờ báo Hàn Quốc Chosun Ilbo báo cáo rằng Kim Jong Un, lãnh tụ hiện thời của Bắc Triều Tiên, đang tìm “nghệ sĩ giải trí khác” cho Nhóm Mua Vui riêng của ông ta, chỉ mới sau thời hạn để tang chính thức 3 năm cho cha ông.

Những người trốn thoát nói gì về Nhóm Mua Vui?
Mi-Hyang (vì lý do an toàn, cô chỉ nêu tên đầu của mình) đã trốn thoát khỏi Bắc Triều Tiên sau 2 năm “phục vụ” cho cựu chủ tịch Kim Jong Il. Sau khi trốn thoát, cô kể câu chuyện của mình cho tạp chí Marie Claire năm 2010.

Cô cho biết mình chỉ khoảng 15 tuổi khi 2 người đàn ông trong quân phục màu xanh tông cửa vào phòng học của cô mà không cảnh báo và bắt đầu thăm dò cả phòng.
Một trong số họ chỉ vào cô và yêu cầu cô đi với họ.
Mi-Hyang nói rằng họ làm một lý lịch chi tiết về thành tích học tập và lịch sử gia đình của cô, và hỏi cô trực tiếp rằng cô đã quan hệ tình dục với ai chưa. “Tôi thấy thật xấu hổ khi nghe một câu hỏi như vậy,” cô nói.
Khi cuộc đánh giá đã hoàn thành, cô gái sẽ có trọn một thập niên phục vụ Kim Jong Il, cha của Kom Jong Un.
Cô không được phép nói chuyện với gia đình mình, và cô biết nếu cô bị bắt lại khi đang cố bỏ trốn, cô sẽ bị xử tử ngay lập tức.
Những cô gái được chọn, cô nói, phải đáp ứng những tiêu chí khắt khe. Họ phải cao không quá 167cm, không có sẹo hoặc mụn, và phải có giọng nói mềm mại, nữ tính. Còn trinh là điều kiện bắt buộc.
Sau khi “được chọn,” các chương trình huấn luyện nghiêm ngặt sẽ được tiến hành. Các cô gái có thể sẽ được gửi đến Hồng Kong nhiều tháng để huấn luyện kỹ thuật mát xa cao cấp, hay được gửi đến đâu đó khác để học hát và múa chuyên nghiệp.
Là một học sinh tuổi vị thành niên, Mi-Hyang nói rằng Kim Jong Il sẽ xoa đầu cô và nắm tay cô, nhưng sẽ không bao giờ gọi cô để quan hệ tình dục.
Cô vẫn tin chắc rằng nếu cô ở lại lâu hơn một chút, cuối cùng rồi ông ta cũng sẽ làm điều đó.
Một vài nhà phê bình đã nghi ngờ về tính xác thực trong câu chuyện của Mi-Hyang, nhưng cô không phải người trốn thoát duy nhất của Bắc Triều Tiên nói về nhóm kì quặc đó.
Trong hồi ký năm 2015 của mình “Thân gửi các lãnh đạo: nhà thơ, gián điệp, những kẻ đào thoát – một góc nhìn bên trong Bắc Triều Tiên,” (Dear Leader: Poet, Spy, Escapee – A Look Inside North Korea ) người trốn thoát từ Bắc Triều Tiên Jang Jin-Sung giải thích rằng những cô gái hấp dẫn nhất Bắc Triều Tiên được gọi là những cô gái “Phần 5.”
“Phần 5” đề cập đến thực thể quyền lực nhất tại Bắc Triều Tiên – giờ đây được biết là vòng tròn thân cận nhất của Kim Jong un. Theo Jin-Sung, công việc của họ là giám sát các vấn đề liên quan đến cuộc sống riêng tư của lãnh tụ, từ thực phẩm đến giải trí. Đội khoái cảm rơi vào cái thứ 2.
Sau khi được chọn lọc, những cô gái trải qua một kỳ kiểm tra thực tế hàng năm để kiểm tra bệnh tật và để chắc họ vẫn còn trinh,” ông viết. “Tại tuổi 16, khi các cô gái học xong trường cấp 2, các chi nhánh khu vực của Vùng 5 sẽ làm một cuộc chọn lọc trong số họ.
“Những người lọt qua vòng cuối cùng sẽ được gửi đi đào tạo cả 1 năm rồi sau đó cắt cử đi khắp nơi trên đất nước.
Hầu hết họ được đưa vào những cuộc hôn nhân sắp đặt với các cận vệ hay các cán bộ cấp cao rõ ràng để làm công việc đối ngoại. Một vài người thậm chí còn trở thành cán bộ. Phần 5 quản lý toàn bộ hoạt động.”
Le Il-Nam, một cháu trai của cha của Kim Jong un, cũng mô tả về đội khoái cảm trong một quyển hồi ký ông viết trước khi bị ám sát, tên là “hoàng tộc Kim Jong Il.”
Ông nói những bữa tiệc độc quyền tại nơi ở chính thức của nhà Kim tại Pyongyang là thường thấy. Những bữa tiệc này có thể kéo dài tới 3 giờ sáng, và tập trung vào rượu, tình dục và những thực phẩm xa xỉ. Chỉ có 40 người trong số 200 cộng sự của ông ta được lựa chọn.
“Thường thì các bữa tiệc bao gồm ăn, uống và nhảy nhót, nhưng thường kết thúc với các trò chơi khiêu dâm,” Lee viết.
“Một trò chơi ưa thích là trò chơi mà người thua phải cởi đồ ra từng miếng một. Nó là bắt buộc, bất kể là đàn ông hay phụ nữ. Nếu họ say bí tỉ, họ cũng chơi trò chơi cạo tóc. Nếu đàn ông thua, một phần tóc của họ sẽ bị cạo, nếu nó đã bị cắt trước đó. Với phụ nữ, lông mu của họ sẽ bị cạo.”
Ông cũng nói có những bữa tiệc hoàn toàn chuyên dụng cho tình dục, cho những khi các lãnh tụ có “tâm trạng đặc biệt tốt.”

Điều gì xảy ra với những cô gái sau đó?
Sau khoảng 1 thập kỷ “phục vụ,” thường là khoảng tuổi 22 đến 25, các cô gái nghỉ hưu khỏi vai trò của mình. Các báo cáo nói rằng sau đó họ thường bị ép gả cho bất kỳ vệ binh ưu tú nào đang tìm cô dâu.
Bất chấp số phận của họ, họ được giám sát chặt chẽ, để không bộc lộ những bí mật này lan rộng trong xã hội Bắc Triều Tiên.
Cuối năm 2011, khi Kim Jong Il chết, nhóm gái của ông bị giải tán và cho phép về lại với gia đình.
Các nhân viên chính phủ đã quá sắc sảo để tránh tiết lộ thông tin, họ trả mỗi cô gái 4,000 đô tiền mặt và quà tặng để đổi lại lời hứa giữa bí mật. Chừng đó gần gấp đôi thu nhập hàng năm của một gia đình trung lưu tại Bắc Triều Tiên.
Bất kỳ cô gái nào bị phát hiện vi phạm lời hứa sẽ bị xử tử ngay lập tức. Họ hàng của họ hầu hết cũng sẽ chịu số phận tương tự.
Café Ku Búa, theo News.com.au

Căn nguyên dân trí thấp

Căn nguyên dân trí thấp

bauxitevnMon 9:01 AM


…ngay cả trí thức, nếu chính họ nói rằng dân trí thấp để đổ lỗi cho hiện trạng xã hội, thì bản thân họ là kẻ phải chịu trách nhiệm đầu tiên về hậu quả đó, bởi trách nhiệm của người trí thức là khai sáng…
clip_image002
Nhiều người có học, thuộc lớp trí thức, có nhiều người khác nữa, nói với tôi về việc dân trí chúng ta thấp, ngay cả quan chức phát biểu tại nghị trường, trên báo chí còn có lập luận này, tựu chung cho những nhận định chung nhau ấy là để đổ lỗi cho xã hội về những điều xấu xí và tồi tệ đang diễn ra, mà họ là một kẻ ngoài cuộc không dính dáng đến những điều đó.

Tôi cũng chưa bao giờ nói, dân trí chúng ta cao, ngay cả quan trí cũng vậy vì họ có quyền lực nhưng chưa bao giờ thoát bỏ ra được những định hướng tư tưởng và mắc kẹt trong chủ thuyết xã hội chủ nghĩa mơ hồ, ảo tưởng.
Tuy nhiên, cùng là một nhận định, dân trí thấp, nhưng là hai hướng trái ngược về căn nguyên của nó, giữa tôi và những con người còn lại. Những người mà nói với tôi ấy, họ cho rằng là vì dân trí thấp nên không thể thay đổi tốt lên được nếu nhận thức của người dân chưa lên đủ mức, và vì thế những gì đang diễn ra ở xã hội này là bởi họ và chính họ, do nhận thức thấp kém của họ mà ra.
Ngược lại với họ, tôi chỉ cần đặt câu hỏi, dễ dàng nhận ra người ta đang nguỵ biện mà không biết, hoặc là để né tránh thực tế gốc rễ của nó.
Câu hỏi: Ai khiến cho dân trí thấp?
Giáo dục, do ai đặt ra và kiểm soát? Do ai định hướng và đào tạo? Do ai có quyền dạy, dạy gì và bác bỏ điều gì, nếu muốn?
Đó chính là chính quyền, nhà nước đang trị vì quốc gia ấy.
Mà đến nay, ngay cả trí thức, nếu chính họ nói rằng dân trí thấp để đổ lỗi cho hiện trạng xã hội, thì bản thân họ là kẻ phải chịu trách nhiệm đầu tiên về hậu quả đó, bởi trách nhiệm của người trí thức là khai sáng, là đem đến cho người dân những giá trị nhận thức đúng và khai phóng họ khỏi những thứ hủ lậu, tụt hậu và xấu xa, dù họ trong chính quyền hay ở ngoài thực thể đó, thì việc để cho dân trí thấp thì họ không thể đứng ngoài công cuộc “dân ngu” đó được. Họ là thành phần phải cúi đầu đầu tiên mà nhìn lại và nhận lấy trách nhiệm đó về mình, vì rằng họ đã không thể đóng góp hay làm gì cho nhận thức của người khác, của xã hội, mà sau nửa thế kỷ họ vẫn vô tư đổ lỗi cho người khác về tình trạng dân trí thấp.
Nhiều người trí thức bây giờ chạy theo bằng cấp, khoa bảng chỉ để kiếm lợi ích và an thân, thăng tiến cho mình, bảo bọc gia đình, họ hàng, còn công cuộc thúc đẩy xã hội đi lên là gần như ngược lại, họ bỏ mặc hoặc thờ ơ một cách vô tư đến mức vô trách nhiệm. Những người dân, mà đa phần là nghèo khó và yếu thế khác, đều cần được giúp đỡ, chia sẻ tri thức, được giáo dục đúng mức và đúng cách, nhưng họ lại bị bỏ rơi bởi chính những người trí thức, người có lòng muốn thay đổi thì rời bỏ quê hương mà đi để tìm kiếm cơ hội ở một chân trời mới, kẻ khác ở lại thì ít ỏi mà lại cô độc trong chính tổ quốc mình. Người dân bỗng chốc trở nên bơ vơ và phải tiếp nhận thụ động những thứ giáo dục do người khác áp đặt lên, mà hầu như không được phản biện hay lên tiếng dù nó có bất cập, sai lầm đến đâu (như những người hít phải khói thuốc lá từ kẻ khác và chính mình lại mắc bệnh vậy).
Nhiều người khác thì cho rằng, kiếm được tiền và ổn định gia đình sẽ tìm cách đấu tranh cho những giá trị tiến bộ hơn cho xã hội. Vậy, nếu ai cũng nghĩ như thế thì khi nào người ta mới bắt tay làm mà không phải là từ bây giờ và ngay tại lúc này?
Trong một xã hội được tạo dựng và duy trì quá nhiều thói quen xấu, chúng ta lại hoà nhập vào đó để tìm kiếm lợi ích, và để sinh tồn thì bắt buộc bàn tay chúng ta phải nhúng vào những bất công nếu muốn có lợi ích, vậy là họ trở nên bất lực với chính mình vì đã trở thành một thành phần đang chấp nhận và dung dưỡng cái xấu đó, vậy làm sao còn lý do để chống lại nó, nếu cái tâm trí lợi ích ấy chưa thể gột rửa ra khỏi chính can tri của mình?
Chúng ta, hay những người dân trót bị chê là dân trí thấp kia, sẽ trông chờ gì ở đám trí thức mà chỉ chăm bẵm bộ lông của mình, và khi nói đến thảm trạng xã hội thì họ lại mở miệng ra để đổ lỗi cho “dân trí thấp” như mình là một kẻ vô can? Vậy, nếu ai cũng chỉ lo sống đời mình như thế thì dân trí nào có thể cao lên được, mà đó vốn là bổn phận và trách nhiệm của họ, kẻ khoác áo và mang danh trí thức?
Người Nhật đã trở nên vĩ đại cũng vì những nhà tư tưởng có tầm nhìn để vực dậy cả một dân tộc bại trận và bị kìm kẹp bao năm bởi Nho giáo, trong đó có ông Fukuzawa như một bậc hiền tài mà đã để lại di sản quá lớn cho các thế hệ sau tự hào. Ở Việt Nam, thực ra không phải ông Hồ Chí Minh, mà với tôi, bậc đại tài của dân tộc chính là cụ Phan Chu Trinh, người chí sỹ có tầm nhìn và tư tưởng vĩ đại cho dân tộc, mà đến nay những nỗi niềm của cụ vẫn còn là nhiệm vụ cấp bách của thời đại, nhất là đối với dân tộc bị kìm kẹp hết từ thời phong kiến đến việc khủng hoảng sau bước nhảy từ một sự đói nghèo sang một trạng thái không hề tồn tại, ngay cả cho đến lúc này.
Tại sao không tiếp nhận tri thức văn minh của thế giới? Tại sao những quốc gia Tây phương đã đi thuộc địa các quốc gia khác từ hàng trăm năm trước? Bởi họ giàu có và văn minh, bởi họ đã có thời kỳ phục hưng và cuộc cách mạng đại công nghiệp, mà chính cụ Phan và ông Fukuzawa còn phải kinh ngạc và biết rằng dân tộc mình phải học hỏi từ các quốc gia ấy nếu muốn trở nên văn minh và phát triển.
Nhiệm vụ khai sáng cho người dân, đến lúc này là cấp thiết như nước Nhật thời cải cách Minh Trị hay thời Duy Tân của cụ Phan vậy. Đó là con đường duy nhất đưa đất nước đến văn minh, không thể để xảy ra bạo lực hay dồn đẩy mâu thuẫn xã hội đến cùng để là động lực thay đổi đất nước.
Với tôi, đó là sự trả giá, chứ không phải là thay đổi. Hoàn toàn không. Vì dân tộc này đã trả giá quá nhiều cho những “thắng lợi” bằng những cuộc chiến khốc liệt và sinh mệnh biết bao nhiêu thế hệ rồi.
Khai dân trí, gặt văn minh.
Gây hận thù, chuốc bạo lực.
Gieo ngu dốt, nhận khổ nhục.
Gieo bạc nhược, lãnh yếu hèn.

Phong trào bảo vệ môi trường ngày càng lớn mạnh ở Việt Nam

Phong trào bảo vệ môi trường ngày càng lớn mạnh ở Việt Nam

bauxitevnMon 6:12 AM


The Diplomat, ngày 29/10/2016
(Bản dịch của Vũ Quốc Ngữ)
…khi công chúng ngày càng hiểu về tội lỗi của Formosa và thất vọng về việc chính quyền đổ lỗi một cách miễn cưỡng cho một nhà đầu tư lớn nhất của nó, biểu tình đã bùng lên ở một số thành phố trong nhiều chủ nhật liên tiếp…
clip_image002
Trong hành động hiếm hoi của sự bất tuân dân sự, hàng ngàn công dân Việt Nam đã tham gia biểu tình vào đầu tháng 10 - lần này đòi Formosa Plastic Group bồi thường sau khi nhà máy thép của tập đoàn Đài Loan này bị coi là chịu trách nhiệm về việc cá chết hàng loạt dọc theo 200km bờ biển miền Trung trong tháng 4. Thảm họa môi trường khốc liệt nhất trong nhiều thập kỷ qua đã làm cho ngư dân và những nghề liên quan đến hải sản đối mặt với việc không có thu nhập trong nhiều năm tới.

Cuộc biểu tình hôm 02/10 có sự tham gia của khoảng 10.000 người vào buổi sáng chủ nhật để biểu tình ôn hòa đòi mức bồi thường cao hơn và yêu cầu chính quyền đóng cửa nhà máy thép của Formosa. Chính quyền đã điều động một lực lượng cảnh sát hùng hậu để bảo vệ nhà máy và xô xát với người biểu tình khi một số người biểu tình tìm cách trèo qua cổng còn một số khác đi vào cửa sau và đập vỡ một số cửa sổ và máy quay an ninh. Cuộc biểu tình kết thúc một cách hòa bình vào khoảng giữa trưa mà không có chấn thương hoặc bắt giữ nào. Cuộc biểu tình được tổ chức bởi một giáo phận Công giáo tại địa phương, chỉ một ngày trước khi các giám mục từ 26 giáo phận Công giáo ở Việt Nam gặp nhau ở Đại hội lần thứ 13 của Hội đồng Giám mục Công giáo Việt Nam.
Formosa Plastics Group, một tập đoàn của Đài Loan, đang xây dựng nhà máy thép với tổng mức đầu tư là 10,6 tỷ USD ở tỉnh Hà Tĩnh, và các ngư dân địa phương đã nghi ngờ nhà máy này xả chất thải độc hại thông qua một đường ống dẫn xuống biển, gây ra cái chết của hơn 70 tấn tôm cá ở bờ biển miền trung Việt Nam.
Khi công chúng ngày càng hiểu về tội lỗi của Formosa và thất vọng về việc chính quyền đổ lỗi một cách miễn cưỡng cho một nhà đầu tư lớn nhất của nó, biểu tình đã bùng lên ở một số thành phố trong nhiều chủ nhật liên tiếp trong tháng 4 và 5. Sau 3 tháng điều tra với sự tham gia của các cơ quan trong nước và chuyên gia nước ngoài, chính quyền Việt Nam cuối cùng tuyên bố Formosa là thủ phạm và đòi 500 triệu USD tiền bồi thường từ công ty Đài Loan. Formosa đã trả tiền phạt vì đã gây ra thảm họa môi trường và công khai xin lỗi Chính phủ và người dân Việt, và tuyên bố nó đã thanh toán toàn bộ số tiền phạt cho chính quyền Việt Nam. Truyền thông nhà nước Việt Nam cho biết Formosa đã chuyển đợt tiền cuối cùng vào tháng trước, và việc chi trả bồi thường cho các ngư dân bị ảnh hưởng bắt đầu tháng này.
Khoản bồi thường dự kiến ​​sẽ dao động từ 130 đến 1.600 USD mỗi người, tính theo các khoản thất thu phát sinh từ tháng 4 đến tháng 9. Tháng 9 đánh dấu tháng mà cơ quan chức năng công bố các hoạt động nuôi trồng thủy sản ở các tầng trên của biển có thể tiếp tục, mặc dù sinh vật biển ở phía dưới (tôm, cua, mực, và nhiều loại khác) bị nhiễm phenol, xyanua và hydroxit sắt và không hoàn toàn an toàn để ăn. Một số ngư dân địa phương bày tỏ sự không hài lòng của họ với các khoản bồi thường, và hơn 500 người đã nộp đơn kiện đòi bồi thường bổ sung.
Để biện minh cho số tiền chi trả, Tổng cục Thống kê Việt Nam đã tiến hành một cuộc điều tra đối với những người dân bị ảnh hưởng bởi thảm họa môi trường. Kết quả, được thông báo vào ngày 29/9 trong một cuộc họp báo, đã tiết lộ cuộc khủng hoảng môi trường tác động lên 22.700 hộ, với 24.400 lao động địa phương buộc phải thay đổi việc làm, khoảng 19.000 người khác trở thành thất nghiệp, trong khi 5,000 đã buộc phải tìm một nghề mới và 17.353 lao động nhập cư bị ảnh hưởng .
Một số nhà phê bình có thể bị cám dỗ rằng số tiền 500 triệu USD được chia cho 65.753 người dân. Theo tính toán này mà không tính đến việc để tiền dọn dẹp môi trường và các chương trình khác, thì mỗi người được bồi thường 7.600 USD so với con số giữa 130 và 1.600 USD.
Có lẽ điều này giải thích cho sự thất vọng của những người biểu tình, một số trong đó có thể đã thực hiện phép tính trên - “Mọi người đều muốn gặp Formosa để trực tiếp thương lượng”. Tất nhiên, việc xác định đúng số tiền bồi thường không phải là dễ dàng như cách chia tổng số tiền được bồi thường với số dân bị ảnh hưởng - một số người đã bị hại nhiều hơn những người khác, và chính quyền có thể muốn sử dụng một số tiền để tăng cường giám sát môi trường và tiến hành chương trình đào tạo nghề cho người bị mất việc.
Trong khi một số ngư dân có thu nhập cao hơn so với những người khác, thu nhập bình quân hàng năm của ngư dân ở miền Trung Việt Nam trong năm 2005 là dưới 20 triệu đồng (khoảng 890 USD). Ngay cả nếu chúng ta giả định không có tăng trưởng thu nhập trên một khoảng thời gian mười năm, số tiền bồi thường 1.600 USD chỉ là thu nhập trong hai năm. Ngoài ra, nếu được bồi thường trung bình 7.600 USD, sẽ bằng 8.5 năm của thu nhập dựa trên số liệu năm 2005. Các nhà chức trách cũng cần tính đến yếu tố khả năng và thời gian của ngư dân với đào tạo nghề không đủ để tìm việc khác ngoài việc thuyết phục những người biểu tình rằng họ đã chia số tiền một cách công bằng.
Cho đến nay, đó không phải là khó khăn duy nhất khi hiện hữu mối đe dọa của nhiều cuộc biểu tình đòi chính quyền Việt Nam đóng cửa nhà máy thép Formosa Hà Tĩnh. Cảnh sát cũng đã được huy động để bảo vệ nhà máy cũng như các doanh nhân Đài Loan trong tỉnh. Chính phủ không chỉ cần phải tiếp tục hành động minh bạch hơn trong việc chia số tiền bồi thường mà còn phải đối phó với những người biểu tình đòi đóng cửa hoàn toàn nhà máy.
Chúng tôi đã thấy các hoạt động bảo vệ môi trường mạnh mẽ ở Trung Quốc, và dường như người Việt Nam lên tiếng nhiều hơn về mối quan tâm tương tự. Các lãnh đạo mới ở Việt Nam sẽ cần phải minh bạch và công bằng để tránh việc lặp lại bạo loạn như năm 2014 ở cùng nhà máy thép đó. Năm đó, nhiều cuộc bạo loạn đã diễn ra sau khi Bắc Kinh đã triển khai một giàn khoan dầu ngoài khơi Trung Quốc vào vùng biển tranh chấp với Việt Nam. Ít nhất bốn công nhân Trung Quốc từ công ty Metallurgical Group của đại lục đã bị giết tại nhà máy thép.
Việc công bố số người Việt Nam bị ảnh hưởng bởi thảm họa môi trường gây ra bởi Formosa là một bước đi đúng hướng, nhưng bây giờ các lãnh đạo mới phải làm tốt công việc bồi thường thỏa đáng cho tất cả, giải quyết các vụ kiện, và thu hút đầu tư nước ngoài trong khi đảm bảo một thảm họa môi trường tương tự không xảy ra.
__________
* Gary Sands là một nhà phân tích cao cấp tại Wikistrat, một tư vấn cộng đồng và là giám đốc tại Highway West Capital Advisors tư vấn về công ty liên doanh, tài chính dự án và rủi ro chính trị. Ông đã có nhiều bài tổng hợp cho South China Morning Post, U.S. News và World Report, Newsweek, Washington Times, The Diplomat, International Policy Digest, Eurasia Review, Indo-Pacific Review và China Digital Times.

Việt Nam: Đảng Cộng sản có thể tiếp tục cải cách thị trường?

Việt Nam: Đảng Cộng sản có thể tiếp tục cải cách thị trường?

bauxitevnMon 6:11 AM


The Diplomat, ngày 29/10/2016
Bản dịch của Phương Thảo
clip_image002
Năm 1986, tại Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), giới lãnh đạo quyết định đã đến lúc phải thay đổi.
Ba mươi năm sau, Việt Nam đã chuyển đổi kinh tế và xã hội, nhưng nền chính trị của đất nước vẫn còn tụt lại phía sau. Đảng Cộng sản vẫn duy trì độc quyền quyền lực, vì dường như có rất ít sự phản đối. Điều này có thể vì hai lý do chính. Đầu tiên, ĐCSVN đã thành công trong việc kiểm soát môi trường chính trị, ngăn cản bất kỳ lực lượng chính trị nào khác bước vào đấu trường chung. Điều thứ hai, nhưng không kém phần quan trọng, là Đảng đã cố để chuyển chiến thắng quân sự thành cái đôi khi được gọi là “tính chính đáng”.

Nhờ những cải cách đổi mới, Việt Nam đang trở thành một cỗ máy tăng trưởng, thu hút đầu tư nước ngoài và đa dạng hóa xuất khẩu. Chi phí thấp lao động, lực lượng lao động được đào tạo tốt, cởi mở với nguồn vốn nước ngoài và tham gia tích cực vào các hiệp định thương mại tự do đã thu hút tất cả các doanh nghiệp quốc tế đến Việt Nam. Số tiền được đổ vào đã được đưa vào sử dụng tốt, với mức giảm tỷ lệ nghèo đáng kể, phát triển đời sống, và tăng tuổi thọ.
Đảng Cộng sản nắm quyền sở hữu hoàn toàn những thành công của việc cải cách. Vào thời kỳ Đại hội Đảng và các kỳ họp Đảng là lúc các quyết định quan trọng đã được đưa ra; đảng viên và các nhà lãnh đạo là những người thiết kế và thực hiện cải cách thị trường; và Đảng đã không ngần ngại quảng cáo vai trò chính của họ trong việc cải cách nền kinh tế. Do đó, nguyên do vững vàng hơn nhằm hỗ trợ những người Cộng sản ngoài chiến thắng của họ ở miền Nam Việt Nam đã được đưa đến cho dân chúng - một mô hình kinh tế bền vững và thành công.

Thách thức

Sau 30 năm và hai cuộc khủng hoảng tài chính, Việt Nam hiện nay đang trên bờ vực của một quá trình chuyển đổi nhiều khó khăn hơn. Duy trì và đẩy mạnh đà đổi mới kinh tế là không còn chỉ là về việc thu hút tiền đầu tư, tín dụng và hỗ trợ phát triển của nước ngoài. Để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam sẽ phải cơ cấu lại nền kinh tế, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp công nghệ cao, tìm kiếm thị trường xuất khẩu mới, tạo sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp tư nhân trong nước, đối phó với khu vực kinh tế nhà nước cồng kềnh, kém hiệu quả, và cải cách thể chế.
ĐCSVN dường như nhận ra sức lao động phi thường ở trong tầm tay, được thể hiện trong các văn bản chính thức và báo cáo của Đảng cũng như trong báo cáo về Việt Nam 2035 của Ngân hàng Thế giới và Bộ Đầu tư và Thương mại Việt Nam. Tuy nhiên, có một mâu thuẫn cơ bản trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã đang được tiến hành trong 30 năm qua và dường như còn tiếp tục ít nhất 30. Sự biến đổi kinh tế đã mang lại sự xuất hiện tất cả các tầng lớp xã hội và các nhóm lợi ích mới, nhóm người giờ đây có thể là tương đối khá giả và lặng lẽ, nhưng không có nghi ngờ gì khi họ sẽ đòi hỏi tham gia vào chính trị để đảm bảo vị trí của họ trong tương lai.
Ví dụ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã tăng lên nhanh chóng trong những thập kỷ vừa qua. Sự thừa nhận hoàn toàn đối với các doanh nghiệp tư nhân đã mở ra khả năng tiềm tàng của chủ nghĩa tư bản Việt, với khoảng 500.000 doanh nghiệp, mà 97 % trong số đó là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Giờ đây họ sử dụng một nửa lực lượng lao động của cả nước. Nhưng Đảng chưa chiếm được vị trí an toàn trong nhóm này vốn là nhóm rất quan trọng cho sự ổn định xã hội ở Việt Nam. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như các doanh nghiệp tư nhân nói chung vẫn mong muốn được tiếp cận tốt hơn tới tín dụng, thủ tục hành chính đơn giản, và quyền sở hữu, và do đó sẽ tìm kiếm đại diện chính trị thích hợp.
Một nhóm khác bị Đảng bỏ qua là lớp trung lưu thành thị. Tầng lớp trung lưu Việt Nam đang ngày càng tăng nhanh, từ 12 triệu vào năm 2012 và dự tính sẽ là 33 triệu vào năm 2020, và chiếm một nửa lượng tiêu thụ của cả nước. Nhóm này sẽ đóng một vai trò thiết yếu nếu Việt Nam là xây dựng một nền kinh tế mới dựa vào các ngành công nghiệp giá trị gia tăng cao và nếu Việt nam ltrở thành một “quốc gia khởi nghiệp”, như tuyên bố của lãnh đạo cao nhất. Đây là một nhóm có một cảm giác tăng về công bằng xã hội sẽ thúc đẩy các chiến dịch bộc phát trong công chúng thông qua phương tiện truyền thông xã hội vốn là một bộ khuếch đại cho tất cả các loại bất bình - từ cuộc đình của công nhân đến các thảm họa môi trường. Hơn nữa, qua cái nhìn của tầng lớp trung lưu đô thị - và đặc biệt là những người trẻ - mà thế giới nhìn thấy được các sự kiện ở Việt Nam. Đó là lý do tại sao Đảng quan tâm đến việc kết hợp với nguyện vọng của nhóm này vào tiến trình chính trị.
Đây chỉ là hai ví dụ về các diễn viên mới nổi lên trong khung cảnh xã hội Việt Nam nảy sinh từ cải cách kinh tế, nhưng cơn đau tăng trưởng khác có thể cũng kêu gọi chuyển đổi chính trị. Một nền kinh tế đang phát triển nhanh đã sản sinh ra tất cả các kiểu mất cân bằng điển hình của việc phát triển nhanh chóng - tham nhũng quy mô rộng, bất bình đẳng thu nhập và sự chênh lệch ngày càng lớn giữa khu vực thành thị và nông thôn cũng như giữa người kinh và dân tộc thiểu số. Về chính trị, người miền Bắc vẫn còn chiếm đa số trong Đảng và các cơ quan quản lý cũng như các tập đoàn thuộc ‘nhà nước’.

Áp lực

Bên cạnh đó, về môi trường Việt Nam vẫn rất dễ bị huỷ hoại, phá rừng, nhiễm mặn, và các yếu tố do con người gây ra như vấn đề ô nhiễm không khí ngày càng tăng ở Hà Nội cùng với sự cố chết cá hàng loạt trong năm nay. Người dân địa phương đã cho thấy rằng họ sẵn sàng để phản đối vì lợi ích của môi trường sống an toàn của họ, bởi đó không chỉ là một vấn đề chất lượng cuộc sống, mà còn là có ý nghĩa với đời sống kinh tế của các cộng đồng lớn ven biển.
Tất cả những vấn đề này có thể trở thành một vấn đề đối với nhà cầm quyền do một cộng đồng báo chí sôi động và phương tiện truyền thông xã hội tương đối cởi mở. Không giống như ở Trung Quốc, Chính phủ Việt Nam đã không chọn việc cấm Facebook và phương tiện truyền thông xã hội khác bằng các mạng xã hội thay thế và dễ kiểm soát. Kết quả là tin tức chính trị và xã hội được đưa lên mạng ngay lập tức mà Đảng Cộng sản không thể làm gì được nhiều. Việt Nam đang ngày càng trở nên minh bạch hơn khi hàng triệu khách du lịch đến thăm đất nước mỗi năm, các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đến sự ổn định trong nước, và khi có các tổ chức phi chính phủ quốc tế và trong nước quan sát chính phủ từng bước.
Đây không phải là để cho rằng Đảng Cộng sản đã không cảnh giác với những rủi ro mà việc tiếp tục đổi mới có thể mang nguy hại đến sự tồn tại của Đảng. Hoàn toàn ngược lại, Cộng sản Việt Nam đã thích ứng đáng kể trong suốt ba thập kỷ qua, nắn cách tiếp cận của họ đến các vấn đề về tư tưởng và chính sách. Có một điều, ĐCSVN không còn là Đảng của giai cấp công nhân và nông dân, nhưng đại diện cho “toàn bộ người Việt”, mà có thể tiến đến một sự mở rộng nền tảng xã hội.
Hơn nữa, các chuyên gia đã nhận thấy rằng “Tư tưởng Hồ Chí Minh” đã chiếm vị trí nền trong nền tảng ý thức hệ của Đảng, đẩy chủ nghĩa Mác và Lênin chính thống ra phía sau. Điều kỳ lạ là không ai cũng biết được “Tư tưởng Hồ Chí Minh” chính xác là cái gì, ngoại trừ đó là “áp dụng chủ nghĩa xã hội với chi tiết cụ thể của Việt Nam”. Ai cũng có thể dễ dàng nhìn thấy làm một loạt các chính sách có thể được đặt dưới loại biểu ngữ này thế nào.

Sẵn sàng đối mặt?

Dường như quan chức Việt Nam mình đang ngày càng quan tâm đến chính trị thực tế. Có xu thế rõ ràng ở các nhà lãnh đạo chính phủ để xác định họ là các nhà điều hành và các nhà kỹ trị, mà không chỉ đơn thuần là đại diện của Đảng. Và với sự gia tăng của phương tiện truyền thông xã hội, lãnh đạo các cấp đang nắm lấy kiểu chính trị phương Tây, hướng đến sự cởi mở nhằm giám sát và thực hiện các pha PR (quan hệ công chúng) nguy hiểm tắm biển để chứng tỏ biển an toàn mặc cho một thảm họa môi trường gần đó.
Tất nhiên vấn đề quan tâm hàng đầu đối với Đảng là sự độc quyền. Khi xã hội Việt Nam phát triển, thì nền tảng xã hội và các cán bộ của Đảng cũng sẽ phát triển. Trong 30 năm cải cách kinh tế sâu hơn - sự cần thiết cho sự phát triển của Việt Nam - Đảng sẽ nhận ra chính họ trong một đất nước hoàn toàn khác. Liệu Đảng sẽ trở thành một lực lượng chính trị khác với sự độc quyền mà chỉ còn lại các nguyên tắc thống nhất? Liệu Đảng sẽ thừa nhận sự cạnh tranh bè phái có là lựa chọn duy nhất cho một hệ thống đa đảng? Liệu Đảng sẽ ngăn chặn cải cách thêm ở thời điểm mà khi chỉ một bước nữa thôi sẽ làm việc xói mòn sự độc quyền mà không còn đường quay trở lại?
Bất kỳ kịch bản nào cũng có thể xảy ra, nhưng Đảng Cộng sản sẽ phải thay đổi cùng với nền kinh tế của Việt Nam hay đánh mất sự phù hợp.

Tác dụng phụ hay tai họa tất yếu sinh ra từ cộng sản

Tác dụng phụ hay tai họa tất yếu sinh ra từ cộng sản

bauxitevnSun 8:16 AM


Nguyễn Đình Cống
…tác dụng phụ của CS là những thứ gì? Đó là những độc hại chứa đựng trong bản thể của nó. Một cách ngắn gọn và cụ thể, đó là những thứ tệ nạn, tai họa mọi mặt mà bạn thấy trong xã hội Việt Nam hiện nay do sự lãnh đạo và quản lý của ĐCS mang lại...?
Trong bài “Đại bi kịch Việt nam” tôi có viết: “Công nhận rằng những tai họa do sự phá nát, sự hủy hoại này (truyền thống văn hóa, đạo đức, môi trường, đất nước, dân tộc) không phải là ý đồ tự giác của CS, họ không cố tình làm những việc đó, nhưng nó là kết quả tất yếu của đấu tranh giai cấp, của vô sản chuyên chính, của công hữu hóa tư liệu sản xuất, của nền độc tài Đảng trị. Những tai họa tất yếu này ban đầu những người CS chưa nhận thấy, đến khi nó bộc lộ rõ thì cố tinh bưng bít, che giấu, ngụy biện để đổ vấy cho các thế lực thù địch”. Bài này xin trình bày rõ hơn.
Tác dụng phụ hoặc phản ứng phụ là thuật ngữ thường dùng trong y tế. Thí dụ thuốc chữa đau tim lại có tác dụng phụ làm hại dạ dày, thuốc chữa dạ dày làm hại gan, thuốc chữa gan làm hại thận v.v… Thế rồi một bệnh nhân, chữa được bệnh tim lại bị chết vì suy gan, suy thận. Mà chết vì dùng thuốc chứ ngay từ đầu gan và thận vẫn tốt. Tác dụng phụ của một loại thuốc nào đó là điều không mong muốn, không có trong mục đích của người nghiên cứu tìm ra công thức và người sản xuất thuốc, nhưng là kết quả tất yếu phải xảy ra, không tránh được khi dùng đúng công thức đó để bào chế. Muốn khắc phục tác dụng phụ thì bắt buộc phải thay đổi công thức. Trong xã hội tác dụng phụ xẩy ra khắp nơi và có khi cái phụ lại chuyển hóa thành chính vì nó tạo ra ảnh hưởng rất lớn, làm mất tác dụng của mục đích chính. Thí dụ thuốc Viagra và vụ Nước mắm có chứa chất asen.

Thuốc Viagra được bào chế để chữa bệnh tim. Trong quá trình sử dụng các bệnh nhân phát hiện ra nó có tác dụng phụ làm cương cứng dương vật. Điều này người bào chế không hề biết trước. Thế là người ta chuyển sang dùng nó để chữa yếu sinh lý của nam giới mà phần lớn quên mất mục đích ban đầu là chữa bệnh tim. Vụ nước mắm nhiễm asen, mục đích chính của người tạo ra thông tin là để người dân bớt dùng nước mắm truyền thống và tăng việc dùng nước mắm công nghiệp. Nếu ý đồ này thành công thì có tác dụng phụ là làm sụp đổ một nền sản xuất nước mắm của dân tộc. May thay, nhờ Trời Đất, Tổ tiên phù hộ mà đã kịp thời thoát khỏi tai họa, lúc này lại phát sinh tác dụng phụ khác, quay lại với những kẻ chủ mưu.
Sau khi tin nước mắm truyền thống nhiễm asen được tung ra, các cửa hàng nước mắm vội thu lại hàng triệu sản phẩm của Phú Quốc, Phan Thiết…, những kẻ chủ mưu vội vã ăn mừng, chúc tụng nhau vì thắng lớn. Không ngờ rồi “gậy ông đập lưng ông”. Sau khi âm mưu bị vạch trần, họ đang đứng trước nguy cơ phá sản hoàn toàn. Vì sao để xẩy ra như vậy? Đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa ba tính chất: đểu, tham và ngu. Đã ngu rồi, tính đểu và tham làm ngu trầm trọng thêm. Nếu không quá ngu thì phải dự đoán được những phản ứng, những tác hại có thể xẩy ra. Cái lợi tưởng có thể đạt được đã làm tối trí, làm mờ mắt, làm thối nát lương tâm họ.
Thông thường, khi người ta thấy được một mối lợi nào đó hay bị nó quyến rũ, không thấy hết những cái hại đi kèm theo, ẩn nấp đàng sau, sẵn sàng xông ra phát huy tai họa. Khổng Tử có lời khuyên: “Kiến lợi tư nghĩa” (khi thấy lợi phải nghĩ đến điều nghĩa), chứ không phải thấy lợi thì tập trung nghĩ về nó đến mụ mẫm, không thấy cái hại đi kèm. Ở Ba Tư cổ có châm ngôn nổi tiếng: “Khi định làm việc gì phải thấy cho hết những tác hại mà việc đó có thể mang lại”. Những tác hại ở đây chính là các tác dụng phụ, các phản ứng không mong muốn kèm theo.
Quay về với chủ thuyết cộng sản. Trong bài “Một số nhầm lẫn của Mác” tôi đã nhận xét Mác là một con người có lòng tốt đối với giai cấp vô sản, là người có một trình độ thông minh nhưng bị hạn chế nên trong khi cố làm những điều tốt đẹp đã phạm một số nhầm lẫn. Lúc còn trẻ Mác vạch ra con đường đấu tranh giai cấp, làm CM với mục đích chống bóc lột, chống áp bức, mang lại sự công bằng xã hội, hạnh phúc cho giai cấp vô sản và hăng hái cổ vũ, đấu tranh cho nó. Đến cuối đời, Mác có nhận ra một số tác dụng phụ nguy hiểm khi CM vô sản đã thành công. Đó là sự lạm dụng quyền lực để rồi tái thiết lập một hình thái áp bức mới. Nhưng đã quá muộn. Người ta vội vàng theo lý thuyết đấu tranh mà coi nhẹ hoặc quên mất tác dụng phụ mà Mác đã chỉ ra. Tuy vậy những tác dụng phụ đó là do Mác suy luận chứ chưa có thực tiễn chứng minh. Sau này khi các đảng cộng sản nắm được chính quyền thì nhiều tác dụng phụ nguy hại mới phát sinh, phát triển một cách mạnh mẽ, không sao ngăn ngừa và khắc phục được, vì nó là kết quả tất yếu, mặc dù không hề mong muốn, không có chủ ý.
Thế tác dụng phụ của CS là những thứ gì? Đó là những độc hại chứa đựng trong bản thể của nó. Một cách ngắn gọn và cụ thể, đó là những thứ tệ nạn, tai họa mọi mặt mà bạn thấy trong xã hội Việt Nam hiện nay do sự lãnh đạo và quản lý của ĐCS mang lại.
Những người cộng sản đầu tiên của Việt Nam với lòng yêu nước nồng nàn, chỉ thấy mặt tích cực của chủ thuyết CS là theo nó có thể giải phóng được dân tộc khỏi ách thuộc địa và xây dựng một tương lai tươi sáng mà chưa thấy được các tác dụng phụ nên hăng hái, vội vàng du nhập và phát triển. Tác dụng phụ là sự độc tài toàn trị sẽ dẫn dân tộc vào con đường lụn bại. Trong bài “Đuổi hổ cửa trước, rước sói cửa sau” tôi đã phân tích một vài ý như vậy. Khi những tác dụng phụ đã phát tác, một số người cộng sản VN, quá ngây thơ vì giáo điều, chỉ biết tin vào sự tốt đẹp của mục đích hoang tưởng mà không thấy rõ các tác dụng đó là kết quả tất yếu của chủ thuyết nên đã tìm cách quy kết nguyên nhân cho sự phá hoại của các thế lực thù địch, cho bọn phản động hoặc cho một số người không giữ được phẩm chất cần thiết. Họ không biết rằng những con người đó, những hành động đó là sản phẩm tất yếu của chế độ. Trừ một số bọn cơ hội, biết rõ tác hại của CS nhưng vẫn cố duy trì vì lợi ích cá nhân, vẫn còn một số ít người chân thật tin vào mục tiêu tốt đẹp của CS, vẫn muốn kiên trì chế độ chỉ là vì chưa hiểu được bản chất tất yếu của các tác dụng phụ, họ chỉ thấy và bị mờ mắt vì những mục đích tốt đẹp của chế độ CS, mặc dù chỉ là tốt đẹp hoang tưởng. Mà tai ác thay, nguy hiểm thay các tác dụng phụ khi phát triển mạnh lên nó lấn át tác dụng chính, chuyển hóa phụ thành chính, làm thất bại mục đích chính. Vì vậy, bây giờ nhìn vào ĐCS VN người ta thấy tiêu cực là chủ yếu.
Tác dụng phụ của CS chính là những độc hại của Chủ nghĩa Mác Lênin (CNML) do thực hiện đấu tranh giai cấp, vô sản chuyên chính, công hữu tư liệu sản xuất (đặc biệt là đất đai), do sự toàn trị của Đảng. Khi ĐCS còn trong thời kỳ vận động làm cách mạng thì những độc hại này tồn tại tiềm ẩn dưới dạng các hạt giống, chưa có điều kiện bộc lộ, rất ít người thấy được. Vì vậy CS mới lôi kéo, thu hút được khá đông quần chúng đi theo, đăc biệt là quần chúng nghèo khổ bị áp bức và những người yêu nước. Chỉ đến khi ĐCS có quyền lực các hạt giống đó mới nẩy mầm và phát triển lớn mạnh, thể hiện ra dưới trăm hình, ngàn vẻ. Nếu nhân dân VN vào những năm 1945- 1975 mà biết được những tác dụng phụ do ĐCS sẽ mang đến như bây giờ thì số người theo Đảng làm CM chắc sẽ giảm đi nhiều và lịch sử có thể đã rẽ theo hướng khác.
Hồ Chí Minh cũng phần nào thấy được một phần những độc hại này, đã viết “Sửa đổi lề lối làm việc” để cảnh tỉnh đảng viên và cán bộ về những tác dụng phụ của CS khi Đảng đã nắm trọn quyền lực. Rồi Đảng tổ chức học tập đạo đức của ông, ra hết nghị quyết này đến nghị quyết khác, lập hết ban này ban nọ để phòng chống tiêu cực, họp hành, kiểm điểm, phê bình, đấu tranh, kỷ luật, xét xử, đả hổ diệt ruồi v.v…, mong rằng ngăn ngừa được, chống lại được những tác dụng phụ của chế độ. Nhưng những biện pháp đó chỉ như xoa chút dầu cao ở ngoài da để trị bệnh trong tim, trong gan ruột.
Trong quá trình đấu tranh cho dân chủ, một số người phản biện, bất đồng chính kiến, vì lòng yêu nước thương dân nồng nàn mà hơi vội vàng quy cho CS những tội nặng mà những đảng viên có lòng yêu nước chân chính khó chấp nhận. Thí dụ trong một bài viết gần đây (Bảo tồn văn hóa Việt trước sự xâm lăng của phương Bắc – Đào Đức Thông), tác giả cho rằng: “Hậu quả của đất nước Việt Nam ngày hôm nay là do sự đểu cáng, dối trá, tàn ác mang danh XHCN nắm quyền”. Rồi tác giả đặt ra các câu hỏi: Ai đã làm việc xấu xa này, ai đã gây ra tệ nạn kia, ai đã chủ mưu tai họa nọ v.v…, và ám chỉ đó là ĐCS. Quy tội cho ĐCS là không sai. Tuy vậy vẫn chưa hoàn toàn đúng vì hai nhẽ: 1- Đó không phải là chủ tâm, là mục đích chính của ĐCS mà chỉ là tác dụng phụ tất yếu kèm theo (nhưng khổ thay cái phụ đang chuyển hóa thành chính). 2- Một mình ĐCS không thể tạo nên mọi tai họa mà còn là do kết hợp với những thói hư tật xấu trong nền văn hóa, trong truyền thống dân tộc.
Từ khi thành lập, ĐCS VN là một tổ chức tuyệt vời, nhưng tiếc thay đã ẩn giẩu trong nó những mầm mống độc hại của tác dụng phụ mà rất ít người biết. Những thế hệ đảng viên đầu tiên phần lớn là những chiến sĩ tuyệt vời. Nhưng rồi tác dụng phụ dần dần phát sinh. Trước hết là vinh dự và quyền lợi của đảng viên. Tác dụng này hấp dẫn, lôi kéo một số bọn cơ hội tìm cách vào Đảng để có quyền, có lợi. Hơn nữa trong thời gian dài sự tuyên truyền và việc kết nạp đảng viên phạm phải nhiều sai lầm từ trung ương đến các chi bộ, trong đó có những sai lầm nghiêm trọng,(*) nên đã kết nạp khá nhiều bọn cơ hội. Thế rồi bọn chúng chui sâu, leo cao. Bọn này mua chuộc, liên kết với những đảng viên, được tiếng là trung kiên nhưng kém trình độ để tìm mọi cách loại bỏ tiến đến hủy hoại thành phần tinh hoa của dân tộc (vì thành phần này là kẻ thù của bọn chúng). Kết quả là trong Đảng, trong Chính quyền và Quốc hội còn lại phần lớn là những người vừa tham lam, thích quyền lực mà kém trí tuệ, lại bị một bọn đểu trong nước và nước ngoài lừa gạt.
Những người như vậy mà lãnh đạo, mà đề ra đường lối chính sách, mà soạn thảo và thông qua luật pháp thì làm sao mà không phạm sai lầm. Những người như thế làm sao phát hiện và tránh được âm mưu thâm độc của bọn Đại Hán bành trướng để dâng đất, dâng biển cho nó, để cho nó thao túng chính trị, kinh tế, văn hóa. Nhiều người cho rằng mọi sự bất cập là từ thể chế, việc quan trọng trước hết là thay đổi thế chế, điều đó là đúng, tuy vậy nghĩ cho kỹ thì thấy cũng là do trình độ con người. Thực ra trong Đảng, Chính quyền, cơ quan dân cử các cấp cũng còn có một số người tử tế, có trình độ và đạo đức, nhưng tiếc thay số này quá ít nên khó phát huy tác dụng.
Tác dụng phụ của CS cũng gần gần giống vụ Formosa. Khi Formosa xả thải ra biển thì mục tiêu chính có lẽ chỉ là gian lận, trốn tránh các chi phí xử lý cần thiết khoảng vài chục triệu đô la. Nghĩ rằng rồi biển rộng mênh mông sẽ hòa tan chất thải và che giấu được sự gian dối, không ngờ đâu lại gây ra thảm cảnh như vậy. Kết quả biển nhiểm độc, thủy sản chết hết, hàng triệu người lâm vào tình cảnh phá sản. Thật ra đó là tác dụng phụ. Nhưng tác dụng phụ gây ra tai họa vô cùng to lớn, hủy diệt luôn mọi lời tuyên truyền tốt đẹp về mục đích chính là phát triển kinh tế.
Cũng cần phân biệt Đảng và đảng viên. Những tác dụng đối với Đảng là phụ, nhưng lại là mục đích chính của bọn đảng viên cơ hội, đã chui sâu và leo cao trong Đảng.
Xin hỏi các vị từ Tổng Bí thư, UV BCT, cán bộ Đảng các cấp cho đến đảng viên các loại, các vị có thấy rằng những tệ nạn như tha hóa quyền lực, tham nhũng, mua quan bán tước, suy thoái đạo đức v.v… đều là tác dụng phụ của sự độc quyền toàn trị của ĐCS hay không, và nó trở thành mục đích chính của số đông các đảng viên có quyền lực hay không? Các tác dụng ấy, các mục đích ấy là kết quả tất yếu, không tránh khỏi, không thể ngăn ngừa hoặc loại bỏ bằng các biện pháp thông thường. Mà nguy hại thay các tác dụng đó đang hủy diệt mọi lời tuyên truyền tốt đẹp về mục đích của các vị là xây dựng xã hội thế này thế kia. Muốn loại bỏ tai họa phải triệt hạ từ gốc rễ, nghĩa là phải từ bỏ sự độc quyền toàn trị, mở rộng dân chủ để tìm người thực sự có tài kinh bang tế thế lên lãnh đạo đất nước. Mấu chốt là cải cách đảng cách mạng thành một đảng chính trị. Thế mới trước thì cứu được dân tộc, sau cứu được Đảng.
Nếu các vị quả thật chưa thấy rõ những điều trên, nhưng còn tử tế, còn muốn tìm kiếm chân lý thì xin mở các cuộc trao đổi, đối thoại. Không cần công khai cũng được, nhưng phải thành tâm. Tôi sẵn sàng đến trao đổi thẳng thắn với quý vị.
Nếu các vị cứ khăng khăng tự cho mình là đúng mà không chịu tìm hiểu, không chịu đối thoại, vẫn quyết giữ bằng được sự toàn trị thì rồi dân tộc này sẽ phải kéo dài bất hạnh thêm một thời gian nữa, nhưng cuối cùng, không sớm thì muộn cũng sẽ tìm cách thoát được sự độc tài toàn trị và các vị sẽ được đánh giá lại trong lịch sử bằng những lời lên án và sỉ nhục.(**)
__________
(*) Đoán rằng cho đến nay nhiều tổ chức và cán bộ của Đảng, kể cả Tổng BT và Trưởng ban tổ chức vẫn chưa nhận ra việc kết nạp đảng viên phạm nhiều sai lầm ở những chỗ nào, nếu được hỏi tôi sẽ trình bày.
(**) Bài này đã được gửi đến địa chỉ: bandoc.dcsvn@gmail.com để nhờ chuyển đến BCT và các cơ quan của Đảng.
Tác giả gửi BVN.

Người cộng sản chống cộng

Người cộng sản chống cộng

bauxitevnSun 8:14 AM


Bùi Minh Quốc
…một lô-gích không gì cưỡng nổi: người cộng sản chân chính tất yếu trở thành người cộng sản chống Cộng khi Đảng CS cầm quyền trở thành Đảng cướp…
Trong cuộc CÁCH MẠNG LẬP QUYỀN DÂN - cuộc cách mạng nhằm thiết lập quyền làm chủ thực sự của nhân dân, tiến hành một cách ôn hoà, công khai, hợp hiến hợp pháp - có một lực lượng đặc thù, về mặt nào đó là khá quan trọng, làm những việc mà các lực lượng khác không dễ làm thay.
Đó là lực lượng những người cộng sản chống Cộng.
Bây giờ, hai tiếng “Cộng sản” chợt nghe đã khiến người ta muốn ói. Bởi đó là tên gọi của một thế lực quỷ dữ, một thế lực kết xoắn mọi độc ác và dối trá, một thiết chế của chế độ nô lệ mới.

Nhưng vào thời trẻ của tôi ở miền Bắc Việt Nam, những năm 60 thế kỷ 20, danh xưng người cộng sản là hiện thân của một phẩm chất cao quý. Đó là con người đặt Tổ quốc lên trên hết, Quyền Dân lên trên hết. Vì Tổ quốc và Quyền Dân, con người ấy dâng hiến cả đời mình, bất chấp mọi gian khổ, hiểm nguy, tù đày, chết chóc. Tôi đã thấy những con người như thế trong đời thực. Đó là vợ tôi, nhà báo nhà văn Dương Thị Xuân Quý, luôn nghiêm khắc tự rèn luyện cho đạt những phẩm chất ấy để trở thành đảng viên và đã hy sinh anh dũng trong quá trình rèn luyện. Đó là Chu Cẩm Phong, bạn tôi, nhà báo nhà văn, người cán bộ Đảng, Bí thư của Chi bộ Văn nghệ Khu 5 (thuộc Ban Tuyên huấn Khu 5). Chu Cẩm Phong ghi trong nhật ký ngày kỷ niệm 7 năm anh vào Đảng: “Mình có thể hy sinh trong mùa xuân lịch sử này lắm, nếu mình ngã xuống như Phương Thảo, Văn Cận, Xuân Quý, thì ba mình và nhất là mẹ, sẽ đau khổ đến nhường nào. Mình biết điều đó. Mình là đứa con trai được cả nhà yêu thương... nhưng dầu thế nào mình cũng không xê dịch cái phương châm sống của mình: dũng cảm, say sưa và quên mình như những chiến sĩ cộng sản chân chính đi trước. Dẫu ngã xuống một giờ, nửa giờ trước khi ta giành thắng lợi hoàn toàn, cũng Hạnh phúc lắm thay!”. Chu Cẩm Phong luôn sống gương mẫu và đã hy sinh anh dũng dưới hầm bí mật trong một cuộc chiến tuyệt đối không cân sức vào tuổi 30. Những dòng nhật ký vừa dẫn trên cho ta biết, vậy là Chu Cẩm Phong đã thấy trong Đảng có những người cộng sản chân chính và những người cộng sản không chân chính - tức là những phần tử có động cơ xấu tìm cách chui vào Đảng đội danh cộng sản để mưu lợi riêng. Trong lớp người cộng sản chân chính đi trước, tôi đã thấy những Kim Ngọc, những Trần Độ, Nguyễn Hộ, Võ Văn Kiệt… Đó là những chiến sĩ cách mạng đích thực đến trọn đời, họ luôn lấy lợi ích của Tổ quốc của Nhân dân, lấy thực tế khách quan làm căn cứ để suy nghĩ và hành động, dám nghĩ, dám nói, dám làm, thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh, tuyệt đối không nghĩ và làm theo bất cứ giáo điều chủ nghĩa nào, cho dù có thể bị khại trừ, bị cách chức, thậm chí có thể bị hãm hại. Vào thời ấy, những người cộng sản chân chính chiếm đa số trong Đảng. Điều lệ Đảng xác định: đảng viên là “người chiến sĩ cách mạng tiền phong gương mẫu, gắn bó máu thịt với nhân dân”. Thời ấy, phần lớn đảng viên đã sống như thế, và vì thế đại đa số nhân dân mới tin Đảng đi theo Đảng và nhờ thế mới giành được thắng lợi để đưa Đảng lên cầm quyền trên một nửa nước rồi cả nước.
Nhưng khi cầm quyền, và nắm độc quyền chính trị, Đảng trở thành chỗ để “thăng quan phát tài”. Từ sau năm 1975, nhất là từ khi Đảng cầm quyền buộc phải trở về theo cái dòng chảy bình thường muôn đời của nhân loại là kinh tế thị trường, có thể khẳng định mà không sợ nhầm rằng phần lớn đảng viên vào Đảng là để thăng quan phát tài. Hiện tượng mua một chân đảng viên, một chân cấp ủy, một chân đại biểu (như ngày xưa “mua một chân lý trưởng”), mua chức mua quyền (tất nhiên để có tiền) diễn ra phổ biến mà chưa thấy dấu hiệu gì ngăn chặn được. Và thực tế cho thấy sẽ không thể ngăn chặn được nếu không cải cách chính trị, nếu không có một thiết chế luật pháp buộc mọi hoạt động của Đảng - Nhà nước phải minh bạch kèm theo là một thiết chế luật pháp đảm bảo cho nhân dân thực hiện quyền giám sát của mình đối với mọi hoạt động của Đảng - Nhà nước.
Chủ nghĩa cộng sản là một ảo tưởng, một thiết chế phản động kéo lùi sự phát triển của xã hội, một mối đại hoạ của nhân loại còn khủng khiếp ghê tởm hơn cả chủ nghĩa phát-xít.
Nhưng phẩm chất, bản lĩnh, khí phách người cộng sản chân chính thì lại là một giá trị, một sức mạnh có thật. Đó là phẩm chất của những con người quên mình vì mọi người, giàu sang không thể làm hư hỏng, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục mà nhân loại thời nào và ở đâu cũng luôn trân trọng.
Tôi nhớ năm 1993, tại Mặt trận Tổ quốc tỉnh Lâm Đồng, trong cuộc hội thảo nhân kỷ niệm 100 năm thành phố Đà Lạt và tưởng niệm công lao của bác sĩ Yersin, người phát hiện ra vùng đất để lập nên thành phố Đà Lạt, TS Hà Sĩ Phu bạn tôi, người đã có 15 năm được coi là đối tượng để kết nạp vào Đảng (CSVN), phát biểu: theo những tiêu chí về người cộng sản chân chính thì ông Yersin đích thực là một người cộng sản chân chính dù ông ấy hoàn toàn xa lạ và có thể rất dị ứng với chủ nghĩa cộng sản. Bạn tôi, anh Hồ Hiếu, nguyên Chánh văn phòng Ban dân vận Thành ủy TP HCM, hiện là một trong những người chống Cộng hàng đầu, ngay sau 30/4/1975 đã đặt ra câu “đảng viên nhan nhản, Cộng sản khó tìm” rồi ngầm lan truyền như thành ngữ dân gian nhằm báo động một tình trạng tồi tệ mà hiện nay đã trở nên thảm hại - bình thường: đảng viên ngày càng đông, người cộng sản chân chính - chiến sĩ cách mạng đích thực ngày càng hiếm.
Năm 1988, trong chuyến đi Xuyên Việt vận động ra tuyên bố do 128 văn nghệ sĩ và công dân ký tên đòi đổi mới đồng bộ, triệt để, bạn tôi nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự có lời thơ: “Ai cộng sản / ai giả danh cộng sản / chân lý chói ngời sự thật / mắt nhân dân xuyên suốt lũ gian tà”, hai tiếng “cộng sản” ở đây là để chỉ người chiến sĩ cách mạng đích thực như đã nêu trên.
Cách đây mấy năm, bạn tôi, nghệ sĩ ưu tú Kim Chi, người đã tuyên bố không cần một bằng khen có chữ ký của một kẻ (là quan chức cộng sản hàng chóp bu) làm nghèo đất nước, làm hại nhân dân, khi trả lời phỏng vấn đã khẳng đinh mình tuyên bố điều đó với tư cách một người cộng sản chân chính.
Một lô-gích không gì cưỡng nổi: người cộng sản chân chính tất yếu trở thành người cộng sản chống Cộng khi Đảng CS cầm quyền trở thành Đảng cướp, đúng như dân gian từ xa xưa đã định danh “cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”.
Vậy là đã xuất hiện một lực lượng cộng sản chống Cộng, tức là một lưc lượng lấy sức mạnh phẩm chất, bản lĩnh, khí phách của người cộng sản chân chính chống chế độ độc tài cộng sản nhằm thiết lập quyền làm chủ thực sự của nhân dân để bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc và tự do của mỗi con người, và với quyền tự do ấy, mỗi con người phát huy mọi khả năng để mưu cầu hạnh phúc của bản thân và cho cả cộng đồng.
Người cộng sản chống Cộng từ nay đương nhiên đã tự rũ bỏ bỏ 2 chữ cộng sản, chỉ tự xác định mình là “người chiến sĩ cách mạng tiền phong gương mẫu, gắn bó máu thịt với nhân dân”.
Và họ quyết trọn đời không ngừng tiền phong gương mẫu vì nhân dân quên mình chiến đấu cho Tổ quốc và Quyền Dân, thiết lập bằng được quyền làm chủ thực sự của Nhân dân.
Đà Lạt tháng 10/2016
B.M.Q.

Thế nào là thông tin nhạy cảm?

Thế nào là thông tin nhạy cảm?

bauxitevnSun 8:10 AM


Thanh Trúc, phóng viên RFA
clip_image001
Ảnh minh họa. File photo
Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam hôm thứ Tư 26 tháng 10 khuyến cáo phóng viên và báo chí trong nước cẩn trọng khi đưa tin về nhân quyền mà bộ này cho là vấn đề ‘nhạy cảm’, thường bị những thế lực xấu lợi dụng để chống phá Nhà nước Việt Nam.

Quan điểm của nhà cầm quyền Việt Nam về nhân quyền, mức độ nhạy cảm của vấn đề như thế nào?

Nhạy cảm ngay từ trong khái niệm

Tại buổi họp có tên là Hội nghị cung cấp thông tin về công tác nhân quyền cho báo chí được tổ chức định kỳ hàng tháng, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam, ông Hoàng Vĩnh Bảo, đưa ra cảnh báo như vừa nêuvới báo giới trong nước.
Ông Hoàng Vĩnh Bảo còn lưu ý báo giới Việt Nam rằng những gì đang diễn ra trong nước, thí dụ kỳ họp Quốc hội hay chuyện ô nhiễm môi trường chẳng hạn, là những thông tin dễ bị kẻ xấu lợi dụng.
Ông Trịnh Hòa Bình, nguyên Giám đốc Trung tâm Dư luận xã hội, nay là thành viên của Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam, nhận định:
Đây là phát biểu chính thức của Nhà nước do Đảng Cộng sản cầm quyền, thế thôi. Đúng như điều anh Bảo nói, nhân quyền ở Việt Nam, dưới góc nhìn của quốc tế và đến lượt Việt Nam nhìn lại, thì nó là vấn nhạy cảm mà có lẽ cũng chưa bao giờ vấn đề nhân quyền một cách phổ quát được đặt ra... tôi không muốn nói là gay gắt.
Nói gì thì nói Việt Nam cũng đạt được những bước tiến nhất định xét về mặt lý luận, xét về mặt quan điểm chung quanh vấn đề nhân quyền. Có điều là như thế này, nhân quyền Việt Nam còn bị qui chiếu bởi văn hóa của Việt Nam nữa. Đương nhiên văn hóa này bao gồm cả chính trị, ở đây có những vấn đề như thế. Tôi nghĩ không nói được gì nhiều hơn bởi vì phát biểu chính thức của họ là như vậy, bản thân tôi không phải thước đo để đánh giá.
Đối với tầng lớp lãnh đạo Việt Nam hiện nay, nhân quyền là vấn đề nhạy cảm ngay từ trong khái niệm của nó. Đó là phát biểu của ông Vũ Quốc Ngữ, thành viên Mạng lưới các Tổ chức Xã hội Dân sự Độc lập:
Họ không muốn nhân dân hiểu rõ và thực thi nhân quyền. Trên các phương tiện thông tin đại chúng họ cũng không muốn báo chí nhắc nhiều đến vấn đề này.
Việt Nam nói họ có tiêu chuẩn nhân quyền riêng so với thế giới, họ không công nhận nhân quyền phổ quát, họ bảo rằng nhân quyền Việt Nam mang tính đặc thù xã hội chủ nghĩa, đại thể là như thế. Cho nên nhân quyền của người Việt Nam mình cũng khác với nhân quyền thế giới là nhân quyền phổ quát. Do đó việc đưa tin thế nào cũng phải theo đúng chỉ đạo của Đảng và Chính phủ, làm sao mà không ảnh hưởng đến sự lãnh đạo độc tôn của Đảng và của Chính phủ.

Cơ hội cho Việt Nam vi phạm quyền con người

clip_image003
Một phiên họp của Quốc hội Việt Nam trước đây.Ảnh minh họa AFP
Quốc hội Việt Nam đang nhóm họp với dự định thông qua một loạt các luật trong đó có luật về tôn giáo vốn là một trong những chủ đề liên quan đến nhân quyền. Các nhà lãnh đạo tôn giáo cùng các nhà hoạt động nhân quyền trong nước đã bày tỏ sự quan ngại rằng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, một khi được thông qua, sẽ là cơ hội cho Việt Nam vi phạm quyền con người nhiều hơn nữa.
Chính quyền thì lại cho rằng có những kẻ xấu, những thế lực thù địch đã nhân cơ hội này lôi kéo, tuyên truyền và kích động người dân chống phá Nhà nước như nội dung phát biểu của Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Hoàng Vĩnh Bảo khi đưa ra cảnh báo là cần phải thận trọng khi viết về nhân quyền.
Phát biểu của Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông như một lời đe dọa không hơn không kém, là ý kiến của cựu tù nhân lương tâm Nguyễn Bắc Truyển:
Lời đe dọa đó là chuyện hết sức bình thường ở Việt Nam. Đối với những ký giả mà tôi cho là thuộc Nhà nước kiểm soát thì họ sẽ hết sức thận trong và chẳng bao giờ dám viết. Nhưng bên cạnh đó có những người viết báo mà không lệ thuộc vào chính quyền cộng sản Việt Nam thì họ chấp nhận trả giá khi nói lên sự thật.
Ở Việt Nam nhân quyền đang bị đe dọa, vì lên tiếng cho quyền tự do ngôn luận mà blogger Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh bị bắt. Rất nhiều người khác cũng rơi vào tình trạng bị khởi tố theo Điều 88 tuyên truyền chống phá Nhà nước, bản thân tôi cũng đã bị tôi danh như vậy.
Vậy theo Nhà nước thì những kẻ xấu nào, những thế lực thù địch nào đã lợi dụng vấn đề nhân quyền để xúi dục hành động chống phá. Ông Nguyễn Bắc Truyển trả lời:
Nhà nước, Đảng Cộng sản Việt Nam nhìn người dân với cặp mắt thù địch khi họ nói lên sự thật trong đời sống xã hội của họ. Tôi xin khẳng định không có ai lợi dụng tôi cả. Tôi làm vì lương tâm của tôi, vì trách nhiệm của một công dân.
Câu hỏi tương tự cũng được nêu ra với cựu tù nhân lương tâm Phạm Thanh Nghiên, thành viên Mạng lưới Blogger Việt Nam:
Có lẽ tôi trả lời bằng hình thức hóm hỉnh một chút là tôi hoàn toàn bị lợi dụng, hoàn toàn bị kích động, hoàn toàn bị xúi dục bởi chính lương tâm và trách nhiệm của tôi chứ ngoài ra không có thế lực nào bên ngoài hết.
Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn coi nhân quyền là một điều cấm kỵ không chỉ riêng đối với các nhà báo lề Đảng mà đối với mọi thành phần trong xã hội Việt Nam.
Phải chăng đó là lý do khiến Bộ Thông tin và Truyền thông phải lên tiếng cảnh báo phóng viên cẩn thận trọng khi viết những tin những bài có liên quan đến nhân quyền?
Trong bối cảnh này tôi nghĩ chúng ta cần thừa nhận một điều là người dân càng ngày càng nhận thức được rõ hơn về giá trị con người mà cụ thể là vấn đề nhân quyền. Phát biểu này một lần nữa cho thấy trước sau như một Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán cho nhân quyền là điều tối kỵ, cấm kỵ, không được phép tồn tại.
Hiến định về quyền con người đang được hiểu khác nhau là tựa đề một bài do báo trong nước loan tải, đề cập đến báo cáo Quốc hội về kết quả thực hiện nhiệm vụ triển khai thi hành Hiến pháp giai đoạn 2014-2016, qua đó Chính phủ nêu ra một số vướng mắc cần tháo gỡ mà thí dụ điển hình là qui định trong Khoản 2 Điều 14 về quyền con người.
Tin nói vì cách hiểu khác nhau nên khó đạt sự nhất trí cao trong quá trình xây dựng các văn bản qui phạm pháp luật về quyền con người, quyền công dân, vì thế ảnh hưởng đến tiến độ soạn thảo văn bản cũng như sự trình bày của Chính phủ.
Ông Trần Ngọc Quang, trước kia là phóng viên báo Đảng, nay là một nhà báo độc lập, góp ý:
Thực sự ngay Nhà nước ngay Quốc hội, kể cả những tổ chức lề phải cũng chưa đưa ra được cho xã hội Việt Nam một khái niệm thế nào là nhân quyền. Bản thân họ cũng còn chưa hiểu thì đừng có nói đến chuyện hướng dẫn dư luận. Anh là quan chức mà trước hết tư cách con người anh còn chưa rõ, quyền của anh anh còn không biết, làm sao mà anh có thể dẫn dắt dân chúng được.
Chính vì những lẽ đó, nhà báo độc lập Trần Ngọc Quang kết luận, lãnh đạo Việt Nam đã có những khái niệm rất mơ hồ, trong lúc báo mạng thì đầy đẫy những định nghĩa cũng như những tin bài xác thực về nhân quyền, về dân chủ, về tự do mà Nhà nước không thể hay không có khả năng che lấp.
T.T.

Minh bạch vẫn là ‘xa xỉ phẩm’ chế độ không thể ‘cho’

Minh bạch vẫn là ‘xa xỉ phẩm’ chế độ không thể ‘cho’

bauxitevnSun 8:09 AM


…tại Việt Nam, minh bạch vẫn chỉ xuất hiện trên giấy và trên miệng của các viên chức…
clip_image002
Thiếu minh bạch nên quản lý - phân bổ - sử dụng ngân sách ở Việt Nam vừa lãng phí, vừa thiếu hiệu quả. Hình: Thời báo Kinh tế Sài Gòn.
Ông Trương Trọng Nghĩa, một đại biểu Quốc Hội Việt Nam vừa đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam yêu cầu chính phủ giải thích tại sao lại đóng dấu “Mật” lên các báo cáo.

Theo tường thuật của báo chí Việt Nam thì các báo cáo của Chính phủ, Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao,… gửi cho đại biểu Quốc hội đều đóng dấu “Mật”. Theo quy định của luật pháp hiện hành thì điều đó đồng nghĩa với việc không được phổ biến những thông tin trong các báo cáo này.
Ông Nghĩa bảo rằng đây là hành động không chính đáng. Dân chúng có quyền và cần phải được biết tình hình Biển Đông ra sao, tham nhũng thế nào…
Ông Nghĩa nêu thêm nhận xét rằng, nếu so các báo cáo của Chính phủ Việt Nam, của Tòa án Tối cao, của Viện Kiểm sát Tối cao,… với mong muốn của cử tri đã được Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tập hợp và công bố trước đó thì các báo cáo vừa kể không đạt yêu cầu.
Theo ông Nghĩa, tham nhũng, khai thác tài nguyên, ô nhiễm môi trường, an toàn thực phẩm,… đang là những vấn đề rất nóng, có nhiều chuyện phải bàn nhưng các báo cáo hoặc lờ đi, hoặc là chỉ đề cập rất chung chung. Chẳng hạn Chính phủ Việt Nam không đả động gì đến phá rừng, khai thác cát tràn lan,… dù phá rừng đã và đang làm lũ lụt thường xuyên, khai thác cát gây sạt lở khắp nơi kèm nhiều hậu quả đáng ngại khác.
Ông Nghĩa nhấn mạnh, vụ Formosa khiến vùng biển phía Bắc miền Trung bị ô nhiễm vốn hết sức nghiêm trọng nhưng báo cáo của Chính phủ Việt Nam chỉ đề cập đến chuyện “kẻ xấu sách động dân chúng miền Trung” là không thỏa đáng. Cũng vì vậy, ông Nghĩa đề nghị Ủy ban Thường vụ của Quốc hội Việt Nam yêu cầu Chính phủ Việt Nam phải soạn lại các báo cáo, làm rõ các nguyên nhân khiến tham nhũng, khai thác tài nguyên, ô nhiễm môi trường, an toàn thực phẩm,… trở thành thảm trạng như hiện nay.
Cần nhắc lại rằng, minh bạch không chỉ là khuyến cáo của nhiều chính phủ, nhiều tổ chức quốc tế dành cho Việt Nam mà còn là cam kết của chính quyền Việt Nam với cộng đồng quốc tế cũng như dân chúng Việt Nam.
Tuy nhiên tại Việt Nam, minh bạch vẫn chỉ xuất hiện trên giấy và trên miệng của các viên chức.
Hồi tháng 3 năm ngoái, World Justice Project (WJP) công bố kết quả một cuộc khảo sát về mức độ minh bạch của 102 quốc gia. Dựa trên nhận định của 1.000 người, cư trú ở Hà Nội, Hải Phòng và Sài Gòn về, mức độ công khai những thông tin liên quan đến chính quyền và luật pháp, sự đáp ứng quyền được cung cấp thông tin, sự tham gia của các tổ chức dân sự, cơ chế đáp ứng các khiếu nại của dân chúng, WJP xếp chính quyền Việt Nam hạng 86/102 ở bình diện toàn cầu và 11/15 ở bình diện châu Á. Tại châu Á, sự minh bạch của chính quyền Việt Nam chỉ hơn Trung Quốc, Mã Lai, Cambodia và Myanmar.
Trước nữa, hồi tháng 11 năm 2014, sáu tổ chức tại Việt Nam từng gửi kiến nghị, yêu cầu minh bạch về ngân sách, đúng vào thời điểm Quốc hội Việt Nam đang thảo luận, chuẩn bị cho việc thông qua Luật Ngân sách mới.
Ngoài việc yêu cầu minh bạch về ngân sách, kiến nghị nhấn mạnh rằng, chính quyền Việt Nam cần thực hiện nghĩa vụ giải trình và các biện pháp để dân chúng có thể tham gia vào tiến trình quản lý, phân bổ, sử dụng ngân sách.
Kiến nghị cho rằng, Luật Ngân sách mới phải minh định về việc công khai ngân sách. Nội dung và cách thức công khai phải giúp dân chúng có thể hiểu để tham gia vào tiến trình quản lý, phân bổ, sử dụng ngân sách. Đặc biệt là phải bảo đảm sự thuận tiện trong việc tiếp cận thông tin. Luật Ngân sách mới cũng cần minh định quyền tham gia giám sát của dân chúng trong việc quản lý, sử dụng ngân sách. Đồng thời phải xác định các hình thức xử lý đối với việc vi phạm nghĩa vụ công khai ngân sách và trách nhiệm giải trình về ngân sách.
Những kiến nghị như thế đã vào sọt rác. Thông tin về quản lý, phân bổ, sử dụng ngân sách của tất cả các cấp trong chính quyền Việt Nam vẫn thiếu và hết sức khó hiểu. Kết quả là sự lãng phí trong sử dụng ngân sách vượt xa sự tưởng tượng của mọi người.