Bài đăng nổi bật

Bức tường Berlin (Phần 1): Nước Đức chia cắt

  Bức tường Berlin (Phần 1): Nước Đức chia cắt 12/08/2021 Nguyễn Thọ 12-8-2021 Vào ngày này cách đây 60 năm, đêm 12, rạng sáng ngày 13.08.19...

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2016

Ngày Quốc khánh lặng nhìn Hòn ngọc Viễn Đông

Ngày Quốc khánh lặng nhìn Hòn ngọc Viễn Đông

bauxitevnSun 5:05 AM


Đỗ Thành Nhân
“Sài Gòn - Hòn ngọc Viễn Đông” được các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước lặp lại nhiều lần từ sau ngày Đại hội Đảng XII,
- Bí thư Thăng muốn TP.HCM phải đúng tên gọi “Hòn Ngọc Viễn Đông”(1);
- Thủ tướng: “TP.HCM phải phát huy được vai trò đầu tàu. Là hòn ngọc chiếu sáng Viễn Đông chứ không phải hòn ngọc Viễn Đông thông thường”(2)…
Những ngày cuối tháng 8, sau vài cơn mưa, chứng kiến Tp HCM ngập nước(3) người dân lại càng mong muốn lời nói của Bí thư Tp và Thủ tướng thành hiện thực.
Tên gọi Sài Gòn - Hòn ngọc Viễn Đông có từ khi quân đội viễn chinh Pháp xác lập quyền cai trị ở 3 nước Đông Dương, tên gọi này mất đi từ khi những đôi dép cao su từ núi rừng Trường Sơn của người cộng sản công khai đi trên đường phố Sài Gòn và Sài Gòn chính thức đổi tên Thành phố Hồ Chí Minh.
Trước khi muốn lấy lại tên Hòn ngọc Viễn Đông (theo Bí thư Thăng) hay muốn là hòn ngọc chiếu sáng Viễn Đông (theo Thủ tướng) thì hãy tự hỏi: Tại sao lại mất tên gọi Hòn ngọc Viễn Đông? Trả lời câu hỏi này sẽ tìm ra nhiều điều khác biệt; sự khác biệt đã làm đảo lộn từ thượng tầng kiến trúc đến hạ tầng xã hội của Sài Gòn vào thời điểm ngày 30/4/1975. Rút ngắn hay xóa bỏ sự khác biệt thì may ra mới xác lập lại những điều kiện cần và đủ để Sài Gòn “Là hòn ngọc chiếu sáng Viễn Đông chứ không phải hòn ngọc Viễn Đông thông thường”.
Rất nhiều sự khác biệt để làm nên một tên gọi “Sài Gòn - Hòn ngọc Viễn Đông”, có một khác biệt rất quan trọng mà trong quan hệ “Nhân - Quả” nó vừa là Nhân, vừa là Quả.
- Là Quả: vì nó là kết tinh của hiện thực xã hội hiện tại.
- Là Nhân: vì nó sẽ làm môi trường phát triển cho xã hội tương lai.
Sự khác biệt này chính là Hiến pháp. Mọi người hãy phân tích kỹ những Hiến pháp gần nhất trước và sau năm 1975 là Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa năm 1967 (4) và Hiến pháp Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (5).
Có một điều thú vị, không biết có phải là ngẫu nhiên hay là sự cố ý của những người lập hiến sau này, đó là sự đối kháng nhau tại Điều 4 của cả 2 bản Hiến pháp.
* Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa năm 1967
“Điều 4
1- Việt Nam Cộng Hòa chống lại chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thức
2- Mọi hành vi nhằm mục đích tuyên truyền hay thực hiện chủ nghĩa cộng sản đều bị cấm chỉ”.
* Hiến pháp Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
“Điều 4
1. Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình.
3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.
Hiến pháp và Điều 4 Hiến pháp là một trong những sự khác biệt để có thể hoặc không thể làm nên một “Sài Gòn - Hòn ngọc Viễn Đông”.
Sự khác biệt về Điều 4 Hiến pháp tương tự như: Mặt trời hay Trái đất là trung tâm vũ trụ; Trái đất quay quanh mặt trời hay Mặt trời quay quanh Trái đất. Để khẳng định được chân lý nhiều nhà khoa học đã chấp nhận bị trừng phạt, thậm chí đưa lên giàn hỏa thiêu như Giordano Bruno(6).
Chúng ta không được vĩ đại như những nhà khoa học, nhưng ít ra chúng ta cũng nên kính trọng những người chấp nhận bị trừng phạt để khẳng định chân lý cho phát triển của xã hội.
Liệu Sài Gòn có thể “Là hòn ngọc chiếu sáng Viễn Đông chứ không phải hòn ngọc Viễn Đông thông thường”, khi các chuyên gia cho rằng(7): “Nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế đã cạn kiệt”; “Nguy cơ Việt Nam tụt hậu đang ngày càng trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết khi các nước ngày càng phát triển, khoa học công nghệ thay đổi từng ngày”; “Đã đến lúc phải giải quyết những vấn đề ngoài kinh tế thì mới giải quyết được những vấn đề kinh tế”
Gốc rễ vấn đề ở đâu!? - mọi người hãy tự tìm câu hỏi trả lời trong những ngày nghỉ lễ Quốc khánh.
Đ.T.N.
__________
Chú thích:
(1) Bí thư Thăng muốn TP.HCM phải đúng tên gọi “Hòn Ngọc Viễn Đông”: http://www.nguoiduatin.vn/bi-thu-thang-muon-tphcm-phai-dung-ten-goi-hon-ngoc-vien-dong-a233584.html
(2) Thủ tướng: TP.HCM phải là hòn ngọc chiếu sáng Viễn Đông: http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/312539/thu-tuong-tp-hcm-phai-la-hon-ngoc-chieu-sang-vien-dong.html
(5) Hiến pháp Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/ThongTinTongHop/hienphapnam2013
(7) Nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế đã cạn kiệt: http://www.thesaigontimes.vn/150837/Chuyen-gia-Nguon-luc-cho-tang-truong-kinh-te-da-can-kiet.html
Tác giả gửi BVN.

Bỏ Đảng và hệ lụy

Bỏ Đảng và hệ lụy

bauxitevnSun 5:04 AM


Mặc Lâm, biên tập viên RFA
clip_image001
Các đại biểu giơ thẻ đảng viên tại lễ bế mạc Đại hội toàn quốc lần thứ 12 của Đảng Cộng sản Việt Nam ở Hà Nội vào ngày 28 tháng 1 năm 2016. AFP Photo
Trong vài ngày qua câu chuyện ông Võ Văn Thôn đang là đầu đề thời sự xoay quanh vấn đề bỏ Đảng của các đảng viên cao cấp, lâu năm. Nguyên nhân của mỗi cá nhân có thể khác nhau nhưng nếu tập trung từng trường hợp riêng biệt thì nguyên nhân lớn nhất vẫn là do chủ trương toàn trị của Đảng tuy nhiên cho tới nay con số người bỏ Đảng vẫn không nhiều.

Vì sao bỏ Đảng?

Trưa ngày 28 tháng 8 năm 2016, ông Võ Văn Thôn cựu Giám đốc Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh, từng được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng 3, Huân chương kháng chiến hạng 1 xác nhận quyết định xin ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam.
Câu chuyện bắt đầu vào ngày 24 tháng 8, chi bộ đảng mà ông sinh hoạt tổ chức cuộc họp nhằm tiến hành “đấu tố” ông, vì ông đã tự ứng cử Quốc hội khóa rồi mặc dù thất cử, cuộc đấu tố này như một giọt nước tràn ly khiến ông quyết định bỏ Đảng 4 ngày sau, ông cho biết:
“Tôi mới có ý kiến đó bữa 28 Tây thôi. Hôm đầu năm tôi có đăng ký ra ứng cử Đại biểu Quốc hội Hội đồng nhân dân rồi bây giờ chi bộ kiểm điểm kỷ luật khiển trách cho nên tôi không đồng ý và xin ra khỏi Đảng. Tôi đưa ý kiến vào chiều Thứ Sáu rồi Thứ Bảy Chủ Nhật cho nên các cơ quan của Đảng cấp trên chưa thấy có ý kiến.
Chuyện này là đảng viên mà còn trong Đảng thì có quy định trong nội bộ trong tổ chức đoàn thể nào cũng vậy thôi tôi có xin phép ở chi bộ nhưng mà bây giờ mấy ổng cũng kiểm điểm nên tôi không đồng tình, tôi không có vi phạm cho nên tôi nộp đơn người ta mới nhận, kiểm điểm chỉ trong tổ chức Đảng thôi chứ người ta không đặt vấn đề ra ứng cử gì cả. Nó có tính cách xử lý kỷ luật mà tôi không đồng tình tôi thấy nó không đúng cho nên tôi không đồng ý và phản đối với hình thức như thế”.
Thời gian sau khi về hưu, ông Võ Văn Thôn tham gia câu lạc bộ Lê Hiếu Ðằng, một tổ chức tập hợp nhiều nhân sĩ trí thức từ trước 1975, phần lớn đều từng là đảng viên Đảng Cộng sản.
Trước ông Thôn hơn hai năm, Bác sĩ Đinh Đức Long cũng đã quyết định bỏ Đảng vì sự bao che trong toàn bộ hệ thống mà ông là một thành viên lẫn nạn nhân, nói với chúng tôi lý do khiến ông có quyết định này:
“Tôi đấu tranh trong nội bộ Đảng chống tiêu cực trong tổ chức Đảng. Tôi đấu tranh từ cấp chi bộ cơ sở tới Đảng ủy của bệnh viện lên Thành ủy Đảng Cộng sản Việt Nam và tận Ban kiểm tra Trung ương, Ban Nội chính Trung ương, đấy là về mặt Đảng. Còn chính quyền thì lên đến cấp bộ trưởng thế nhưng tất cả các cấp đều không có nhận thức gì hết, khi tôi kiện ra tòa thì tòa cũng kéo dài cả năm trời không xử và các cơ quan ngôn luận cũng vậy báo chí tôi đưa tài liệu thì không có hồi âm gì hết chỉ sau khi tôi từ bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam và tòa xử tôi thắng kiện thì từ đó trở đi khi ông giám đốc là người vi phạm pháp luật đã bị bắt giam. Cuối cùng là gì đó là các cấp vi phạm pháp luật nói không đi với làm không những vi phạm pháp luật Việt Nam mà còn vi phạm pháp luật quốc tế”.
Bên cạnh sự bao che, độc đoán, Chủ nghĩa Mác Lê là một trong những nguyên nhân khiến đảng viên nào có ý thức về sự độc hại của nó sẽ suy nghĩ và từ bỏ Đảng. Giáo sư Nguyễn Đình Cống là một trí thức đã công khai bỏ Đảng sau khi Đại Hội 12 tiếp tục kiên trì theo đuổi chủ nghĩa này.
Ngày 3 tháng 2 năm 2016 ông đã thông báo từ bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam và yêu cầu tổ chức Đảng xóa tên ông ra khỏi danh sách.
TS Phạm Chí Dũng, một đảng viên có rất nhiều bài viết phản biện chống lại sự độc tài toàn trị, chà đạp nhân quyền cũng như các quyền sơ đẳng của công dân, sau khi nhận thấy Đảng không có khả năng tự đổi mới như nhiều lần tuyên bố, ngày 05 tháng 12 năm 2013, TS Phạm Chí Dũng tuyên bố quyết định ra khỏi Đảng vì tự nhận thấy Đảng Cộng sản không còn đại diện và phục vụ cho quyền lợi của đại đa số nhân dân, và điều đó đi ngược với tôn chỉ mục tiêu ban đầu của Đảng cùng lời thề của ông khi vào Đảng.

Vì sao chưa bỏ đảng?

clip_image003
Các thành viên của Ủy ban Trung ương mới của Đảng Cộng sản Việt Nam tại lễ bế mạc Đại hội toàn quốc lần thứ 12 tại Hà Nội, ngày 28 tháng một năm 2016. AFP Photo
Cho tới nay sau hơn 85 năm thành lập, tổng cộng người bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam chưa tới con số trăm trong 4 triệu rưỡi đảng viên hiện nay thật quá ít ỏi. Nguyên nhân thì nhiều nhưng điều chủ yếu mà đa số không vượt qua được là nỗi sợ hãi.
Ông Đặng Xương Hùng, cựu lãnh sự từng làm việc tại Bộ Ngoại giao Việt Nam từ năm 1983 nguyên lãnh sự Việt Nam tại Genève từ năm 2008 đến 2012 và cũng là người từ bỏ Đảng Cộng sản, cho biết sự lo sợ của người đảng viên khi bỏ Đảng không phải cho chính họ mà là cho chính gia đình họ, ông nói:
“Cân nhắc chứ. Cân nhắc nhiều lắm chứ vì mình còn đang ở bộ phận được hưởng lợi mà bỏ đi. Rồi sự đe dọa nữa ai mà chả sợ? Ai mà chả sợ nhất là sợ sự tàn ác, trả thù của Việt Nam? Nó rất quỷ quái, nó không những chỉ trả thù cá nhân đâu mà vào gia đình, vào những người khác của mình làm cho mình nhụt chí đi. Có những người không sợ với cá nhân họ nhưng người ta sợ việc làm của họ sẽ ảnh hưởng đến gia đình người thân. Nếu người nào đã xác định được giới hạn cuối cùng của sự trả giá để vượt qua nỗi sợ đó thì chả còn gì là sợ nữa”.
Bác Sĩ Đinh Đức Long là hình ảnh mới nhất phản ánh sự trả thù của Đảng, ông cho biết:
“Sau khi tôi từ bỏ Đảng thì có thuận lợi là dư luận trong nước và quốc tế quan tâm đến việc này. Sau khi thắng kiện tôi về làm việc bình thường và có một số việc lạ là an ninh theo dõi tôi năm sáu an ninh chìm nổi và khi tôi tham gia các hoạt động xã hội dân sự như tham gia các cuộc mít ting kỷ niệm những ngày Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa Trường Sa hay ngày 17 tháng 2 cuộc chiến tranh biên giới và nhất là cái vụ cá vừa rồi thì an ninh đã chận và đánh tôi, hành hung tôi, bắt vào đồn công an câu lưu 6 tiếng đồng hồ. Họ thường xuyên theo tôi có những ngày còn chặn đường không cho tôi đi làm nữa và bây giờ họ vẫn còn giám sát tôi bằng cách theo dõi”.
Luật gia Lê Hiếu Đằng nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, 45 năm là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam cũng bỏ Đảng vào ngày 4 tháng 12 năm 2013. Trước khi mất ông đã nói với đài Á Châu Tự Do về tâm nguyện của ông mà một trong những ước ao đó là đảng viên đừng sợ nữa:
“Tâm nguyện của tôi là mọi người đừng sợ gì nữa, phải hành động, phải làm việc, phải đấu tranh để bảo vệ chủ quyền - toàn vẹn lãnh thổ, đấu tranh vì nhân quyền, dân quyền, bảo vệ môi trường. Thực tế đó là ba yếu tố vì con người, cho con người. Còn chủ nghĩa xã hội là cái không nói nữa, ngay tại Liên Xô - quê hương của nó người ta cũng đã chán ngán rồi. Tại sao con cái các ông lãnh đạo đi các nước tư bản học hành, trong khi các ông bắt cả dân tộc này phải đi theo con đường mơ hồ chẳng tới đâu. Do đó trong thủ bút tôi nêu rõ Đảng Cộng sản nay là lực cản sự phát triển của đất nước. Đó là cái nguy hiểm nhất, phải đấu tranh để ngăn chặn điều đó”.
Theo công bố mới đây của nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thì hiện nay có 4 triệu 500 ngàn đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, tính trung bình nếu mỗi gia đình có thêm 2 người ăn theo thì con số ấy sẽ lên đến 13 triệu 500 ngàn người có liên hệ trực tiếp tới Đảng. Thử đặt câu hỏi 9 triệu người ăn theo ấy sẽ ra sao nếu cha anh của họ từ bỏ Đảng?
M.L.

THÔNG BÁO Về Đại Hội Kỳ II của Liên Đoàn Lao Động Tự Do Việt Nam

THÔNG BÁO Về Đại Hội Kỳ II của Liên Đoàn Lao Động Tự Do Việt Nam

bauxitevnSun 5:01 AM


clip_image002
(Lao Động Việt – LĐV)
Kính gửi: 
- Các Tổ Chức, Đoàn Thể, Các Cơ Quan Truyền Thông
- Quý Thân Hữu, Quý Đồng Hương,
Thấm thoát đã 10 năm kể từ ngày HỘI NGHỊ VỀ QUYỀN LAO ĐỘNG được tổ chức vào tháng 10 năm 2006 tại Warszawa, Ba Lan.
Từ Hội nghị này, Ủy Ban Bảo Vệ Người Lao động Việt Nam đã được thành hình và hoạt động tích cực ở các địa bàn Việt Nam và Mã Lai.
Đầu năm 2014, Tổ chức Liên Đoàn Lao Động Việt Tự Do (viết tắt là Lao Động Việt) được thành lập tại Bangkok (TL). Mục đích của việc thành lập này là để củng cố và phát triển lực lượng nhằm bảo vệ hữu hiệu quyền của Người lao động cũng như đẩy mạnh việc thành lập các Nghiệp Đoàn Độc Lập tại Việt Nam.
Việc Việt Nam là một trong 12 thành viên của TPP cũng là một cơ hội lớn để các Nghiệp đoàn độc lập có cơ hội hoạt động hợp pháp trong tương lai. Vì vậy vai trò của Lao Động Việt càng quan trọng hơn trong việc vận động hình thành các Nghiệp đoàn độc lập tại Việt Nam.
Sau nhiệm kỳ 3 năm, theo nội quy của Lao Động Việt, Đại Hội kỳ II sẽ được tổ chức để tường trình quá trình hoạt động vừa qua và kế hoạch cho 3 năm sắp tới cũng như bầu lại Ban Chấp Hành nhiệm kỳ 2016-2019.
Được sự ủy nhiệm của Chủ tịch LDV, Ban Tổ Chức Đại Hội kỳ II LĐV xin thông báo:
1. Việc chọn địa điểm cũng như thời gian tổ chức Đại Hội, nhân sự tham gia đã được quyết định sau tất cả 7 buổi họp thông qua phương thức biểu quyết dân chủ, công khai với sự đồng ý của đa số quá bán thành viên hiện diện.
2. Theo Biên Bản cuộc họp ngày 22/5/2016: Lao Động Việt đã chọn địa điểm tổ chức Đại Hội kỳ II tại Virgina (Whashington D.C.) Hoa Kỳ. Thời gian 17-18 tháng 9 năm 2016.
Lý do để chọn địa điểm này là:
2.1. Một cơ hội để viếng mộ cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, một thành viên sáng lập UBBV NLD VN cũng như Lao Động Việt;
2.2. Gặp gỡ các cơ quan chính quyền Hoa Kỳ, NGO, Nghiệp đoàn v.v… để vận động cho Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đoàn Huy Chương đang còn bị giam giữ trong tù.
3. Buổi họp ngày 22/5/2016 cũng quyết định:
- Trưởng Ban Tổ Chức Đại Hội Kỳ II LĐV: Ông Nguyễn Đình Hùng;
- Trưởng Ban Tổ Chức tại Địa Phương: Bà Jackie Bông.
4. Theo điều 22b của Nội Quy LĐV: những thành viên trong và ngoài nước vì lý do cá nhân hay lý do an ninh không thể tham dự được vẫn có thể tham gia Đại Hội qua hình thức online và được toàn quyền sử dụng tư cách thành viên trong khi phát biểu cũng như bầu cử, ứng cử.
Nhân dịp Đại Hội kỳ II Lao Động Việt năm 2016: kỷ niệm 10 năm thành lập Ủy Ban Bảo Vệ Người Lao động Việt Nam, 3 năm thành lập Lao Động Việt. Chúng tôi muốn chia sẻ những thành quả trong 10 năm qua với các Quý Thân Hữu cũng như những Tham dự viên của Hội Nghị Warszawa năm 2006.
Qua thông báo này, Ban Tổ Chức kính mời quý Anh Chị đã tham dự Hội Nghị Warszawa cũng như các Thân Hữu của Lao Động Việt dành chút thì giờ quý báo để tham dự Đại Hội kỳ II của Lao Động Việt.
Mọi thông tin về Đại Hội II LDV cũng như ghi danh tham dự, kính xin quí vị liên lạc về Ban Tổ Chức. Chúng tôi sẽ gửi thư mời và chương trình Đại Hội đến quý vị
Điện thoại:
1. Ông Nguyễn Đình Hùng +61 408 166 648(Úc)
2. Bà Jackie Bông +1 571 - 422 - 5704 (Hoa Kỳ)
Thay mặt Ban Tổ Chức Đại Hội Kỳ II LĐV
Nguyễn Đình Hùng

Vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp

Vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp

bauxitevnSat 10:35 PM


Trần Văn Chánh
Tình trạng ô nhiễm môi sinh, thoái hóa môi trường dẫn đến biến đổi khí hậu, vốn là hậu quả trực tiếp của nền sản xuất trong điều kiện tiến bộ khoa học-kỹ thuật do chính con người tạo ra từ nhiều thế kỷ, đến nay đã trở thành một hiện thực cụ thể, và cũng là mối lo âu chung của toàn thể nhân loại, đã làm nát óc biết bao các nhà khoa học, giáo dục, triết học và tôn giáo trên toàn thế giới trong quá trình nhận thức để tìm phương cứu chữa. Nhìn chung, nếu đã hiểu rõ được nguyên nhân tất phải có giải pháp, nhưng giữa giải pháp và thực hành giải pháp vẫn luôn còn một khoảng cách khá xa, có thi triển được hay không và hữu hiệu ở mức độ nào lại còn tùy thuộc rất nhiều yếu tố khác nữa, liên quan chằng chịt lẫn nhau và không thể tách rời nhau thuộc về kinh tế-chính trị-văn hóa-xã hội hết sức phức tạp.
Ngoài nạn lũ lụt, hạn hán… gia tăng gây thiệt hại về người và tài sản do quá trình biến đổi khí hậu, loài người vẫn phải tiếp tục đối đầu với những hình thức ô nhiễm (khói, bụi, tiếng động, phóng xạ nguyên tử, nguồn nước, rác…) và các loại thiên tai truyền thống khác (như núi lửa, động đất, sóng thần, sạt lở đất đá ở núi và các bờ sông…) đã có mà vẫn chưa ngăn lại được, cũng như tình trạng cạn kiệt tài nguyên, vẫn tiếp tục phát tác và ngày càng thêm mạnh, cùng với tình trạng đói nghèo, chiến tranh và khủng bố, bệnh dịch, một số loại bệnh nan y cũ và bệnh lạ mới xuất hiện…, tạo thành một tổng thể đa dạng các mối đe dọa nguy hiểm đối với sự tồn vong của mình.
Cho đến hiện tại, tình trạng nhiệt độ trái đất nóng dần lên do hiệu ứng nhà kính (greenhouse effect) như các dự báo đã trở thành một thực tế bình thường mà một người không cần tri thức khoa học cao sâu vẫn có thể cảm nhận được, khi so sánh một cách đơn giản năm hiện tại với những năm về trước. Ngày nay, thực trạng ô nhiễm môi sinh và biến đổi khí hậu, cũng như các kiến thức liên quan đến chúng, đã ngày càng được phổ cập trên sách báo cùng những phương tiện truyền thông đa dạng khác.
Trong biến đổi khí hậu toàn cầu, Việt Nam được dự đoán là một trong vài quốc gia chịu hậu quả nặng nề nhất trên thế giới khi mực nước biển dâng lên. Đây là lời cảnh báo được nêu trong “Hội thảo quốc tế về biến đổi khí hậu và các cực trị khí hậu tại Việt Nam” do Bộ Tài nguyên & Môi trường phối hợp với Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tổ chức ngày 19.2.2012. Theo các kịch bản biến đổi khí hậu, đến cuối thế kỷ 21, mực nước biển có thể dâng cao thêm 1m, ước tính khoảng 40% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long, 11% diện tích Đồng bằng sông Hồng và 3% diện tích của các tỉnh khác thuộc vùng ven biển bị ngập. Riêng Thành phố Hồ Chí Minh có thể sẽ bị ngập đến 20% diện tích; khoảng 10-12% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp và tổn thất có thể lên tới 10% GDP…
Trong những năm gần đây, các hiện tượng thời tiết cực đoan, các loại thiên tai ở Việt Nam đã có những diễn biến phức tạp, khôn lường.
Theo dự đoán của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), vào năm 2050, khoảng 9,5 triệu người Việt Nam sẽ ở trong tình thế nguy hiểm trước tác động của sự gia tăng mực nước biển.
Chỉ riêng trong vòng 3-4 tháng đầu năm 2016, liên quan đến ô nhiễm môi sinh và biến đổi khí hậu, Việt Nam đang phải đối đầu với một số hiện tượng thật sự đáng lo ngại, đó là hiện tượng nhiễm độc biển ở miền Trung làm cá chết hàng loạt (do chất thải của Công ty TNHH gang thép Formosa Hà Tĩnh), nạn hạn hán ở Tây Nguyên và các tỉnh miền Tây, đi cùng với tình trạng xâm nhập mặn ở vùng Tây Nam Bộ. Đây là đợt hạn hán nghiêm trọng nhất trong vòng 100 năm qua, với 13 tỉnh thành tại Đồng bằng sông Cửu Long bị nhiễm mặn, gây nên tình trạng thiếu nước uống và tác động nặng nề đến sản xuất nông nghiệp. Đời sống hằng ngày của khoảng 20 triệu người dân ở Đồng bằng Sông Cửu Long đã chịu ảnh hưởng. Theo ước tính của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, có khoảng 160.000ha lúa bị thiệt hại, khoảng 800.000 tấn lúa đã bị mất trắng. Các tỉnh bị thiệt hại nặng nhất trong đợt hạn hán này là Kiên Giang (hơn 54.000ha), Cà Mau (gần 50.000ha), Bến Tre gần (14.000ha), Bạc Liêu gần (12.000ha).
Sáng ngày 28.4.2016, công bố Báo cáo nghiên cứu mới nhất về tác động của biến đổi khí hậu ở khu vực Đông Nam Á, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cho hay sản xuất lúa gạo của Việt Nam có thể giảm mạnh. Mực nước biển tăng có thể nhấn chìm hàng chục ngàn hecta đất canh tác vào cuối thế kỷ này (xem Tinmoi online, 28.4.2016).
Một cách tổng quát, việc hạn chế ô nhiễm môi trường/hủy hoại sinh thái và chống biến đổi khí hậu là vấn đề nan giải chưa chắc giải quyết nổi chung cho cả toàn cầu, bởi trước hết đều do chính sự phát triển của khoa học-kỹ thuật hiện đại đi liền với nền sản xuất và lối sống văn minh của loài người tạo nên. Nó là một cái vòng luẩn quẩn vì con người không thể dừng khai thác, sản xuất cũng như khó thể thay đổi lối sống theo hướng giảm đi rất nhiều loại nhu cầu trong sinh hoạt đã trở thành thói quen. Tại những xứ nghèo đói và một số quốc gia đang phát triển, vấn đề còn tỏ ra rắc rối hơn, vì muốn phát triển kinh tế-xã hội, chống đói nghèo, nâng cao đời sống vật chất của người dân thì không thể không mở thêm những nhà máy gây ô nhiễm. Rốt cuộc, con người vẫn tiếp tục lúng túng ở trong cái vòng lẩn quẩn này, vì thực tế không thể ngăn chặn sự khai thác bừa bãi (nhất là ở những nước nghèo) hoặc ngưng lại các tiến bộ khoa học-kỹ thuật: Muốn phát triển thì phải mở thêm các nhà máy và như thế là làm gia tăng ô nhiễm; muốn cải thiện tình trạng lương thực thì phải dùng các loại phân bón và nông dược, thuốc kích thích sinh trưởng có nguồn gốc hóa học độc hại…
Ngoài ra, nếu xét về mặt khoa học, việc loại bỏ chất thải tuôn ra từ các nhà máy sản xuất (không thể không có, như khói độc, nước thải chứa hóa chất…) cũng có cái vòng luẩn quẩn của nó, như khi tìm cách di dời một nhà máy từ khu đô thị đông đúc ra vùng ngoại ô, thì thực tế chỉ là di chuyển những chất độc hại sang nơi khác, vì những chất này dù có được xử lý “sạch” đi nữa vẫn không biến khỏi hẳn môi trường mà lại chuyển hóa và tồn tại dưới những dạng khác, theo định luật bảo toàn khối lượng về chất (hay định luật Lomonosov-Lavoisier).
Với hiện thực Việt Nam, môi trường đã và đang bị phá hủy một cách hết sức nghiêm trọng, mà theo ý kiến đánh giá gần chục năm về trước của GS Võ Quý (một nhà sinh học Việt Nam từng nhận giải thưởng “Hành tinh xanh” năm 2003, từng được tạp chí Timebình chọn là “Anh hùng môi trường” năm 2008), “đang tiến đến chỗ không kiểm soát nổi”. Cũng theo ông, những thiên tai liên tiếp ở Việt Nam như lũ quét, trận ngập lụt lịch sử ở Hà Nội... không thể gọi là thiên tai mà chính là nhân tai, “Lấp hết hồ ao, lấn sông lấn ngòi thì nước thoát vào đâu mà không ngập úng. Chặt hết cây rừng thì lấy gì giữ nước mà không lũ quét”... (xem báo Tuổi Trẻ, 26.11.2008).
Biến đổi khí hậu vì vậy không chỉ đơn thuần là vấn đề môi trường mà còn là vấn đề phát triển bền vững, và điều đó nhất thiết phải liên quan đến những vấn đề thuộc về lối sống, văn hóa và hoạt động xã hội, cùng với những tiến trình cải cách chính trị phù hợp.
Ngày nay, ngày càng có nhiều người và nhiều dân tộc ý thức được rằng tai họa sinh thái một khi đã xảy ra sẽ không còn ranh giới quốc gia, nên phải có sự hợp lực giữa mọi quốc gia dân tộc để cùng nhau đối phó. Tuy nhiên, sự chú ý vấn đề lại không đồng đều nhau. Ở các quốc gia đang phát triển, khác với quốc gia đã có nền công nghiệp phát triển cao, vấn đề làm thế nào thoát ra khỏi sự nghèo đói thường được quan tâm trước tiên trong khi vấn đề bảo vệ môi trường chỉ được xem là thứ yếu, đôi khi còn bị xem là một việc làm xa lạ-xa xỉ, hoặc chỉ được làm một cách chắp vá chiếu lệ đầy tính hình thức, như trường hợp Việt Nam cũng là một thí dụ khá điển hình. Vì vậy, tại các cuộc hội nghị quốc tế về môi trường, luôn diễn ra các cuộc tranh luận gay gắt giữa các nước có trình độ phát triển khác nhau: các nước giàu không muốn ký kết các hiệp ước có nguy cơ làm giảm lợi nhuận trước mắt và mức sống hiện nay của họ; trong khi các nước nghèo cho rằng không có lý do gì họ phải giảm tốc độ phát triển, đổ thừa 80% tình trạng ô nhiễm hiện nay là do các nước giàu gây ra trong quá trình đã công nghiệp hóa.
Mặc dù vậy, đuổi kịp theo trình độ nhận thức chung của thế giới về những tác động nghiêm trọng của biến đổi khí hậu đến sự phát triển bền vững đất nước, Chính phủ Việt Nam đã sớm tham gia và phê chuẩn Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (1992) và Nghị định thư Kyoto (ký kết 1997, có hiệu lực từ 2005) mà mục tiêu là cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, đồng thời đã sớm phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu (2011), Chương trình Mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu (2008), Chiến lược Quốc gia về phòng chống và giảm nhẹ thiên tai (2007)...
Tuy nhiên, nhận thức, chương trình, kế hoạch, nguyện vọng đưa ra là một lẽ, điều kiện thực tế để thực hiện lại là một lẽ khác, còn tùy thuộc rất nhiều vào các yếu tố xã hội, phong tục tập quán, trình độ phát triển các mặt cụ thể của mỗi nước.
Về phương diện kinh tế-xã hội, trong điều kiện Việt Nam, khả năng yếu kém của nền kinh tế và ngân sách giới hạn không cho phép thực hiện tốt việc di dời các cơ sơ sản xuất gây ô nhiễm vừa và nhỏ ra khỏi các vùng đông dân cư, vì muốn vậy nhà nước phải có đủ ngân sách để tài trợ cả cho việc di dời lẫn việc xây dựng cơ sở vật chất mới cho người sản xuất, khi mà việc cấm đoán hoặc đóng cửa tất cả những cơ sở sản xuất dạng đó là không thể, vì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nền sản xuất, cũng như đến đời sống của các chủ nhân và những người thợ ăn theo.
Tình trạng thất nghiệp hoặc khiếm dụng lao động cao như hiện nay cũng là một điểm bất lợi lớn. Thất nghiệp không có gì để sống, muốn kiếm được miếng ăn thì phải giết thú, chặt cây rừng... Ở Việt Nam, một nhà lãnh đạo chính trị cấp tỉnh đã trả lời một nhà khoa học khi nhà khoa học cảnh giác ông ta về nguy cơ gây ra bệnh ung thư của những nhà máy phôtphat tại địa phương: “Đồng ruộng cần phân bón hơn, năng suất lúa thấp lắm, dân sợ đói hơn sợ ung thư”. Nhà lãnh đạo đã nói rất thật lòng, mà cũng sát với thực tế cuộc sống của người dân, phải giải quyết cái ăn trước đã, bao giờ mắc bệnh rồi sẽ tính sau…
Tại những nước còn nghèo, mọi “mô hình” hay con đường dẫn đến vấn nạn rắc rối về môi sinh đều diễn ra một cách tương tự như câu chuyện của nhà lãnh đạo vừa kể.
Kế đến là trình độ văn hóa chung, bao gồm tập quán xã hội và do đó ý thức của toàn xã hội đối với vấn đề bảo vệ môi trường, ở nước ta hiện nay vẫn còn ở mức rất thấp, biểu hiện qua những hành vi phổ biến giết hại động vật để ăn nhậu, chặt phá cây rừng để lấy gỗ sử dụng hoặc buôn bán, phá rừng để làm thủy điện, và nạn cháy rừng…. Tuy các kiến thức về môi trường/bảo vệ môi trường đã ngày càng được phổ biến rộng rãi hơn trên các phương tiện truyền thông đại chúng, nhiều luật liên quan môi trường cũng đã được ban hành, nhưng cả người dân lẫn nhân viên/quan chức các cơ quan chức năng ở vùng sâu/vùng xa vẫn còn hết sức hời hợt; việc áp dụng các biện pháp chế tài về phá hủy môi trường thông qua hệ thống pháp luật còn hết sức lỏng lẻo, cho tới nay vẫn chưa thấy có một vụ xét xử nào đáng kể có tác dụng răn đe ảnh hưởng lớn đến dư luận cả nước.
Lợi nhuận là một động lực khiến người ta quên hết mọi thứ và dám làm cả những việc gây tác hại cho cộng đồng, nhưng một phần cũng có thể do nhận thức kém mà ra. Còn nhớ vào khoảng tháng 8 năm 2011, khi người ta đặt vấn đề phá hủy môi trường đối với Vườn quốc gia Cát Tiên (thuộc 2 tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng) trong việc triển khai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và Đồng Nai 6A thì một người đại diện của phía chủ đầu tư đã trả lời một cách rất thản nhiên với báo chí: “Mất 137,5ha vườn quốc gia là không đáng kể!”.
Chính vì kiểu suy nghĩ đơn giản tương đối phổ biến như thế nên rừng Việt Nam đã bị phá nát gần hết, chỉ trồng lại tượng trưng theo kiểu trả nợ quỷ thần! Thú rừng thì ngày càng bị tàn sát dã man; chim chóc không còn đất sống, số lượng ngày càng thu hẹp, phải bay tản mác qua Lào, Campuchia… kiếm mồi. Trong khi đó, tình trạng bán chim, thú hoang dã vẫn tiếp tục tràn lan trên khắp cả nước từ Bắc chí Nam, trên các quốc lộ, và thậm chí cả đường vào… chùa trong những ngày lễ hội lớn! Tuy có pháp luật ngăn cấm đấy, nhưng vô phương kiểm soát, khiến cho những người yêu thiên nhiên và các chuyên gia bảo vệ môi trường chỉ còn biết ngậm ngùi thương cảm!
Thực trạng phá rừng, quy hoạch đất đai làm dự án gây hậu quả nghiêm trọng nhiều mặt khiến đất nước điêu tàn đã được nhà thơ Trịnh Hoài Giang ghi lại vài năm trước qua mấy câu thơ cảm khái rất sinh động: “Bây giờ ruộng đã bê tông/Cây đa đã cụt, dòng sông đã què (…)/Heo may thổi dọc triền đê/Nghe câu “Dự án” mà tê tái lòng”…
Trong dân và trong giới các nhà hoạt động doanh nghiệp là như vậy, nhưng điều đáng tiếc hơn là ngay trong các viên chức nhà nước, kể cả tầng lớp lãnh đạo, sự nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường cũng chưa được đồng đều, từ đó đã ký duyệt cho phép xây dựng quá nhiều dự án mà không quan tâm đầy đủ đến tác động phá hủy của chúng về phương diện môi trường, như có thể kể hàng trăm dự án thủy điện và khai thác khoáng sản, đã có lúc được cho ra hàng loạt. Ngoài ra, vì chủ nghĩa thực dụng và quyền lợi cục bộ, phổ biến có hiện tượng các địa phương còn đua nhau “chạy dự án” với những bộ hồ sơ tài liệu về ảnh hưởng/tác động môi trường rất sơ sài, chủ yếu chỉ biết nhắm vào lợi ích thiển cận trước mắt. Do có hiện tượng “chạy chọt” của các địa phương như trên nên ý kiến của quan chức ở các bộ, ngành hữu quan đưa ra trong quá trình nghiên cứu, xét duyệt dự án cũng thường thiếu khách quan, và thỉnh thoảng tuy có nảy ra những vấn đề cần tranh luận quyết liệt giữa các ban ngành hữu quan với sự tham gia của các nhà khoa học nhưng kết quả cuối cùng vẫn dựa trên phương thức quyết định tập thể, có nghĩa trên thực tế khi trong tương lai có xảy ra hậu quả xấu nào về mặt môi trường thì đâu cũng vào đó, vì không một cá nhân hay cơ quan quyết định tối cao nào phải chịu trách nhiệm một cách cụ thể. Như báo chí vẫn thường đưa tin, không ít dự án “phá nát môi trường” nơi này nơi khác đã được triển khai trong những điều kiện làm việc như vậy, trong đó vai trò tư vấn của các nhà khoa học đôi khi chỉ có tính tượng trưng/chiếu lệ, lu mờ và bị lép vế hẳn trước sự chỉ đạo có tính quyết định của một số nhà đương cuộc nằm trong những tổ chức chính trị có quyền quyết định cao hơn.
Trong điều kiện quốc nạn tham nhũng tràn lan, đã và đang hoành hành vô phương cứu chữa, tạo điều kiện cho sự câu kết khai thác bừa bãi giữa giới doanh nhân/nhà đầu tư trong cũng như ngoài nước với một số cơ quan nắm quyền hành chính, người dân càng ít có sự lựa chọn hơn để hi vọng vào những dự án công trình khai thác có hiệu quả kinh tế nhưng vẫn đảm bảo độ an toàn cao về mặt môi trường.
“Mạnh ai nấy đào”, đó là một tít lớn của bài báo đăng cách nay 5 năm, trên trang nhất báo Tuổi Trẻ ngày 14.9.2011 để nói về tình trang tài nguyên của đất nước đã và đang bị khai thác một cách bừa bãi, bất chấp những hậu quả tệ hại có thể gây nên. Đây cũng là kết luận về tình trạng khai thác khoáng sản được thừa nhận tại cuộc họp của Bộ Tài nguyên-Môi trường (13.9.2011) là lộn xộn, bát nháo, hỗn loạn và không kiểm soát. Theo ông Nguyễn Văn Thuấn (Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất và Khoáng sản) thì “Cả 63 địa phương cùng ‘a lát xô’ làm, không có ai định hướng cả. Ai xin cũng được bổ sung quy hoạch, như thế là quy hoạch của chúng ta bát nháo, theo ý muốn của doanh nghiệp. Tất cả những việc đó khiến việc cấp phép khai thác khoáng sản trở nên hỗn loạn”. Còn theo ông Lê Văn Thành (Phó cục trưởng Cục Kiểm soát hoạt động khoáng sản) thì nguyên nhân chính của sự bát nháo, hỗn loạn nằm ở khâu quy hoạch, vì trong quá trình làm quy hoạch đã có vấn đề quyền lợi cục bộ của các bộ ngành, địa phương. Ví như Bộ Xây dựng làm quy hoạch vật liệu xây dựng, Bộ Công Thương làm quy hoạch các loại khoáng sản, các tỉnh thành làm quy hoạch về các loại khoáng sản được phân cấp cấp phép: “Cả ba đơn vị cùng làm quy hoạch về khoáng sản đã tạo ra sự bùng nhùng, và khi quyền lợi cục bộ bị xâm phạm thì khó có đơn vị nào chịu chấp hành quy định một cách nghiêm túc”.
Tổng cục Địa chất và Khoáng sản cho biết, nếu tất cả 63 tỉnh thành báo cáo số liệu đầy đủ, ước tính số giấy phép khai thác khoáng sản do các địa phương cấp lên đến khoảng 4.200 giấy phép.
Những thực tế quá quắt như vừa nêu trên chứng tỏ hiệu quả điều hành chung của bộ máy nhà nước đã và đang gặp nhiều trục trặc, hạn chế, khiến cho hành chính bất lực, các bộ ngành mạnh ai nấy làm, dẫn đến tình trạng gần như có thể gọi là vô chính phủ.
Trong khi đó, vai trò lẽ ra phải quyết định của Quốc hội trong đa số trường hợp cũng chỉ là thụ động, đối với một số dự án lớn đặc biệt quan trọng có tầm cỡ quốc gia và có yếu tố đầu tư vốn lớn từ nước ngoài, như trong trường hợp dự án khai thác bauxit ở Tây Nguyên (khởi động năm 2009), dự án khu gang thép Formosa Hà Tĩnh (được cấp Giấy chứng nhận đầu tư năm 2008)…, Quốc hội cũng không được hỏi ý kiến trước. Khi có xảy ra vấn đề gì lớn gây xôn xao dư luận thì Quốc hội cũng vào cuộc tranh tranh luận, đòi giám sát. Họ đưa ra những lời phê phán gay gắt giống như thật, nhưng dường như chỉ có tác dụng xoa dịu người dân nghe cho “mát ruột”, còn các nhà hoạch định chính sách thì vẫn “việc mình mình làm”, dừng bớt dự án này họ lại tìm cách đẻ ra kế hoạch khác, với một kiểu cách làm việc không mấy gì khác trước. Vì thế, tin tức trên báo chí về việc hủy hoại môi trường ngày càng tăng, có khi mỗi ngày chỉ trên một tờ báo đã phản ảnh đến hai ba vụ liên quan môi trường lớn nhỏ đủ loại, cộng lại vài chục năm nay có đến số ngàn số vạn, không sao kể xiết!
Nói chung, một đất nước đang trên đà phát triển không thể không có các dự án khai thác, xây dựng này khác ở những quy mô lớn nhỏ khác nhau, nhưng vấn đề quan trọng là cần đặt việc xây dựng các dự án như vậy trên cơ sở định hướng phát triển hợp tình lý, bền vững, nếu không muốn nói là một triết lý định hướng căn bản về phát triển tổng quát có tính vĩ mô. Triết lý này nhất thiết phải được suy ngẫm trên một tầm nhìn xa rộng và có tính cách toàn diện, lâu dài, bao quát cả những vấn đề thuộc thực tế văn hóa, lịch sử, xã hội và hoàn cảnh phát triển cụ thể của đất nước chứ không chỉ nhắm mắt chạy theo một cách rập khuôn những nước tiền tiến có điều kiện hoàn toàn khác hẳn.
Việc bảo vệ môi sinh/môi trường, chống biến đổi khí hậu vì vậy không thể chỉ giản lược bằng hành vi quản lý, xử phạt đối với những pháp nhân vi phạm, mà đứng về mặt lâu dài, nên được coi là một công trình giáo dục công dân rộng lớn. Phải chỉ ra cho mọi người thứ triết lý cơ bản như đã nói trên, để ai cũng thấy được mối tương quan giữa phát triển kinh tế và sự hủy hoại tất yếu của môi sinh nếu không ý thức sâu sắc việc kiểm soát và hạn chế những phương diện tác hại ở ngay trong quá trình của sự cải thiện mức sống, và vì thế cần phải đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững, một khái niệm hiện đại đã và đang được toàn thể nhân loại phấn đấu.
Bảo vệ tài nguyên-môi trường là việc quốc gia hệ trọng, và theo quan niệm của thời đại ô nhiễm, đôi khi nó còn quan trọng hơn cả những việc khai thác hoặc sản xuất này khác nhân danh nhu cầu phát triển kinh tế của một đất nước. Vì vậy, luôn cần cân nhắc kỹ lưỡng rất nhiều mặt, theo hướng phải ưu tiên xem xét đến các yếu tố về bảo vệ nguồn tài nguyên khoáng sản có hạn (không thể tái sinh), cũng như ảnh hưởng của việc khai thác chúng đối với môi trường tự nhiên-xã hội và văn hóa khu vực, bởi nếu không sẽ có thể gây nên những ảnh hưởng xấu chưa lường hết được cho các thế hệ tương lai. Bảo vệ môi trường vì thế cũng phải được xếp vào loại chính sách quốc gia ưu tiên hàng đầu.
Tuy nhiên, bất kỳ ở nước nào, và càng đúng hơn với những quốc gia đang phát triển như Việt Nam, do luôn có những mâu thuẫn, khoảng cách giữa lý thuyết với hành động, giữa mục tiêu nhắm tới và điều kiện thực thi, tùy thuộc vào đặc điểm cụ thể của bốn yếu tố chính trị-kinh tế-văn hóa-xã hội quan hệ chằng chịt lẫn nhau, muốn thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn dẫn tới ngõ cục, thông thường các quốc gia đều phải lựa chọn giải pháp tăng cường về giáo dục và luật pháp.
Cụ thể, vấn đề giáo dục môi trường cần được đặt ra một cách cấp bách quyết liệt hơn, bằng cách nâng cao vai trò của môn học về ô nhiễm môi sinh và biến đổi khí hậu từ cấp tiểu học đến bậc đại học. Riêng ở hai bậc trung và đại học, nên biến nó thành môn học chính thức và là môn thi bắt buộc có tầm quan trọng ngang hàng với các môn Văn, Toán, Lý…, chứ không nên chỉ lồng ghép/tích hợp vào những môn học khác (như Sinh học, Đạo đức…), song song với việc biên soạn riêng với chất lượng cao hơn những sách giáo khoa dành cho môn học này. Ở bậc đại học, một số môn khoa học mới xuất hiện vài chục năm gần đây như Đạo đức học môi trường (Environmental Ethics) (tương đương thuật ngữ Đạo đức học sinh thái - Ecologycal Ethics), Đạo đức học về Trái đất (Land Ethics), Đạo đức sinh học (Bioethics), Đạo đức sinh-y học (Biomedical Ethics), Sinh thái học tầng sâu (Deep Ecology)…, cũng như một số khái niệm/nhận thức mới của nhân loại về quyền động vật (Animal Rights), về ý nghĩa-vai trò quan trọng của các tôn giáo (đặc biệt đạo Phật) trong nỗ lực bảo vệ sinh thái…, rất cần phải được đưa vào sách giáo khoa, áp dụng giảng dạy chung cho sinh viên cả hai ngành khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội. Những sách giáo khoa này, được biên soạn cẩn thận, có thể sau đó sẽ được cải biên phù hợp để dùng rộng rãi thêm cho thành phần cán bộ quản lý mọi ban ngành và cho quảng đại quần chúng trên cả nước.
Được biết, liên quan vấn đề giáo dục môi trường, mặc dù đã có Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”, nhưng công việc triển khai trên thực tế vẫn còn rất chậm, nếu không muốn nói hiện chỉ dừng lại ở mức độ tượng trưng, qua quýt, và trên thực tế cũng ít nghe thấy có học sinh, phụ huynh học sinh hay giáo viên nào buồn nhắc đến nó khi có dịp đề cập chuyện thi cử.
Trên phương diện chính sách và luật pháp, Việt Nam đã có khá nhiều luật pháp (như Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật đa dạng sinh học năm 2008, Nghị định năm 2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm…) và một số kế hoạch liên quan, nhưng chỉ còn trên giấy, không thực thi được bao nhiêu, nếu chưa muốn nói là hiện vẫn đang trong tình trạng bất khả thi, hay bất lực: cây rừng vẫn bị đốn chặt bừa bãi, động vật hoang dã tiếp tục bị sát hại hàng loạt, nhưng phần lớn người vi phạm không bị phát hiện, hoặc nếu có phát hiện thì chủ yếu chỉ bị xử phạt hành chính; tính đến nay, mới thấy chỉ có vài ba vụ được đưa ra xét xử công khai tại tòa án. Cho nên ngay từ bây giờ, cần phải đưa vấn đề bảo vệ môi trường/chống biến đổi khí hậu lên hàng quốc sách ưu tiên, nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan, và soạn thảo thêm một luật riêng về bảo vệ động vật trên cơ sở công nhận quyền động vật (animal rights) như ở một số nước tiên tiến.
Để ngăn chặn bớt những hậu quả ô nhiễm môi trường có thể phát sinh thêm trong tương lai do một số dự án đã được ký duyệt, sắp sửa tiến hành hoặc thậm chí đã tiến hành mà chưa thẩm định kỹ, Chính phủ nên thiết lập một định chế đặc biệt tạm gọi là “Ủy ban Môi trường Quốc gia”, để tái thẩm định tính khả thi của những dự án này, về phương diện môi trường, với sự tham gia của các nhà khoa học có thực tài trong nước cùng sự tư vấn hỗ trợ của các chuyên gia quốc tế. Đặc biệt chú ý tái thẩm định kỹ hơn nữa những dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở Ninh Thuận và vài nơi khác. Trong khi lựa chọn các quyết sách, điều quan trọng là cần có một sự tách rời rõ rệt hơn giữa quyền lực khoa học với quyền lực chính trị, không để cho chính trị lấn ép khoa học, trên cơ sở coi quyền lợi, sức khỏe của nhân dân là luật pháp tối thượng.
Về giải pháp lâu dài phát triển công nghệ “xanh” phù hợp môi trường, đã được nêu ra từ lâu, và luôn nhận được sự khuyến khích của Liên Hiệp Quốc cùng các tổ chức quốc tế bảo vệ môi trường khác, như việc cần phát triển những loại năng lượng mới còn ít sử dụng (sức gió, nhiệt mặt trời…) để thay thế nhiên liệu hóa thạch (than đá, xăng dầu…) gây ô nhiễm… Hiện nay tại Việt Nam, đang có dấu hiệu đáng mừng là một vài loại năng lượng như vậy đã được chú ý khai thác (như Dự án Điện gió Bạc Liêu, khởi công tháng 9.2010, khánh thành tháng 1.2016…) nhưng trong khi chờ đợi đủ dùng (mà không bao giờ đủ), do lối sống và nhu cầu chưa thay đổi, ý thức bảo vệ môi trường còn chậm, người ta vẫn phải sử dụng chủ yếu các loại năng lượng cũ truyền thống. Vấn đề khắc phục ô nhiễm vì thế vẫn chưa thể thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn bế tắc vô cùng khắc nghiệt, không chỉ với Việt Nam mà còn với cả thế giới văn minh này nữa!
Điều này có nghĩa, cần phải quan tâm nhiều hơn đến khía cạnh kinh tế-văn hóa-xã hội của vấn đề bảo vệ môi trường, trong đó có việc nâng cao mặt bằng nhận thức của cả người dân lẫn các nhà chức trách. Đối với nạn phá hoại môi trường sinh thái dưới dạng chặt phá cây rừng, đốt rừng, săn bắt chim thú, xây dựng các dự án sản xuất có hại…, thì nguyên nhân không chỉ từ một phía người dân, hay từ một số nhà doanh nghiệp ham hố lợi nhuận, mà còn ở phía các nhà chức trách đương cuộc trong trách nhiệm đánh giá tác động môi trường, phê duyệt các dự án quan trọng, cũng như việc thực thi nghiêm minh hệ thống pháp luật sẵn có. Điều kiện tiên quyết do vậy vẫn phải cần đến một hệ thống chính quyền lành mạnh, có khả năng dự kiến tương lai, đủ sức ngăn chặn quốc nạn tham nhũng, từ lâu được coi là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên hầu hết mọi hành vi chính quyền chệch choạc, làm vô hiệu hóa luật pháp và mọi ý đồ quốc gia tốt đẹp, không chỉ đúng trên phạm vi bảo vệ môi trường mà còn đúng trong mọi lĩnh vực hoạt động khác của đời sống xã hội. Điều này cũng còn rất đúng như lời cảnh báo/dặn dò của Lênin vào một thế kỷ trước, đối với những đồng chí CS của ông sau Cách mạng Tháng 10 Nga, rằng nếu người ta còn có thể hối lộ được thì người ta cũng không có cái điều kiện tối thiểu để làm chính trị, vì khi đó mọi biện pháp, pháp lệnh, nghị quyết đều sẽ trở thành những tờ giấy lộn và chỉ lơ lửng trên không trung mà thôi (xem Bàn về chủ nghĩa quan liêu, NXB. Sự Thật, Hà Nội).
Ngoài ra, cũng phải dự liệu rằng, nếu chưa khắc phục được một cách cơ bản quốc nạn tham nhũng trước khi tiến hành các kế hoạch dài hạn bảo vệ môi trường/chống biến đổi khí hậu thì phải coi chừng những khoản tiền khổng lồ hàng trăm ngàn tỉ đồng sắp sửa chi ra dài dài lấy từ ngân sách quốc gia và các nguồn tài trợ quốc tế sẽ rất dễ bị tổn thương, vì khó được kiểm soát chặt chẽ để sử dụng một cách trọn vẹn, minh bạch và hiệu quả cao cho những mục tiêu quốc gia cần đạt.
Trong một bối cảnh đặc thù Việt Nam như vậy, với một số kinh nghiệm thất bại trong quá khứ đã mô tả ở trên về hoạt động xâm hại môi trường, việc cải cách thể chế chính trị theo chiều hướng dân chủ hóa mạnh mẽ đời sống xã hội để nâng cao cùng lúc vai trò quyết định thực chất của Quốc hội, hiệu quả điều hành của bộ máy hành chính, tính độc lập của ngành tư pháp, xem ra phải được coi là điều kiện tiên quyết có tính đột phá, để dọn đường cho tất cả các chương trình hành động và giải pháp dự định có khả năng đạt được kết quả cao nhất. Nếu không như thế, thì không chỉ riêng trong phạm vi chống biến đổi khí hậu/bảo vệ môi trường sống, mà mọi ý đồ cải cách hay mục tiêu quốc gia tốt đẹp khác của chúng ta (như bảo vệ an toàn thực phẩm…) cũng đều trở nên lơ lửng, vô vọng, không lối thoát.
30.6.2016
T.V.C.
Nguồn: Đặc san Suối Nguồn, tập 20 (Trung tâm Dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang-NXB Hồng Đức), tháng 8.2016.

Súng nguyện hồn ai

Súng nguyện hồn ai

bauxitevnSat 8:36 AM


Khi đọc tin về vụ nổ súng ở Yên Bái, tôi không sốc. Ở thời sấp ngửa câu view này, chúng ta đã moi sạch và bị moi sạch vốn cảm xúc thực của mình, để rồi bơm trở lại và được bơm trở lại những cảm xúc pha chế. Khả năng sốc trước tin bạo lực hầu như không còn nữa. Những vụ cướp giết hiếp xuất hiện hàng ngày như hoa hậu và bóng đá. Có những ngày như 27 tháng 11 năm ngoái, đến báo chí cũng uể oải với quá nhiều máu của 11 vụ án mạng và 12 xác chết. Sau những Nghệ An 2/7/2015, Bình Phước 7/7/2015, Yên Bái 12/8/2015, Gia Lai 23/8/2015, Thanh Hóa 1/11/2015 và gần đây nhất, Lào Cai 9/8/2016, ba mạng người ở Yên Bái quá khiêm tốn để tấn công kỷ lục quốc gia về choáng và sốc.
clip_image002
Tôi cũng không thấy mình có bất kì một biểu hiện nào của thương cảm. Mỗi cái chết đều đáng rỏ ít nhất một giọt nước mắt, và trái với hình dung không tưởng của chúng ta, những kẻ rất xấu xa vẫn được tiễn đưa bằng rất nhiều khói hương và thương tiếc. Song vấn đề của phần lớn các quan chức trong một chính quyền kiểu Việt Nam là họ không có một diện mạo riêng nào hết. Họ nhuộm tóc và rẽ ngôi giống nhau, phụ nữ thì đều uốn tóc. Thân hình họ phát triển mạnh ở những an toàn khu như nhau. Họ đoàn kết trong những chiếc áo sơ mi trắng giắt trong quần màu đen và cả trong những chiếc quần tắm nhiều màu trên bãi biển, phụ nữ thì trong những chiếc áo dài râm ran hoa và kim tuyến. Họ sống sót qua những lộ trình tiến thân như nhau để giành một chỗ ngồi nhạy cảm như nhau trên những chiếc ghế cùng một loại gỗ quý cùng một gu chạm trổ trong những văn phòng cùng một phong cách trang trí ở những trụ sở cùng một mô hình thiết kế. Họ đọc những bài diễn văn trùng nhau và ra những chỉ đạo giống hệt nhau, cả tốc độ nói và cách ngắt câu của họ cũng y chang nhau. Họ chung sở thích về xe hơi, về tường cổng bao quanh biệt thự, về tủ kính phòng khách, về trường học cho con cái, về cặp xách đi họp, về nén hương dâng trong đền thờ, về các điếu văn, vòng hoa và cả những người phúng viếng trong tang lễ của chính họ. Bây giờ, các đồng chí Yên Bái còn kết thúc cuộc đời đồng phục của mình bằng cùng một kiểu chết từ cùng một vũ khí. Nhưng thương cảm là điều hoàn toàn riêng tư, từ riêng một con người gửi đến một con người riêng biệt. Làm sao tôi có thể khóc cho một cái khuôn đúc?
clip_image004
Cùng kiểu trang phục và tóc, ai hói thì ngoại lệ 
Khi đọc tin về vụ nổ súng ở Yên Bái, tôi chỉ nhận ra ở mình một cảm giác: sự háo hức. Như những người đã được nền văn minh gọt rũa kha khá, tôi cố kiềm chế cái cảm xúc không phải  đó, nhưng vô ích. Nó chẳng liên quan gì đến sự hả hê thường thấy của dân đen ở mọi xã hội khi những con thú alpha sa lưới, nhất là khi giới quyền lực mà người ta vừa thù ghét vừa muốn tham dự tự thanh toán lẫn nhau. Nó cũng không phải là sự hào hứng, rằng tiếng súng Yên Bái báo hiệu ngày tàn của bạo chúa. Không ở đâu giới quyền lực thanh trừng nhau kinh hoàng  như ở Trung Quốc, mà ngày sụp đổ của nhà nước bạo chúa khổng lồ ấy vẫn chỉ nằm trong tiên đoán vô vị. Ba chiếc ghế còn dính máu ở Yên Bái vẫn là niềm khao khát của không biết bao nhiêu người: hệ thống vẫn nhanh chóng phục hồi và tự củng cố. Ngày tàn nào mà đáng ao ước thế? Sự háo hức của tôi hoàn toàn cá nhân, nó đơn giản là cảm giác tò mò, thích thú của một người viết trước một cơ hội bất ngờ. Ngày 16 tháng 11 năm 1959, khi đọc một cột tin ngắn về vụ thảm sát cả gia đình một điền chủ giàu có ở trang 39 tờ New York Times, Truman Capote cũng không cưỡng nổi một cảm giác như vậy. Ông không ngồi yên ở bàn viết được nữa mà phải chạy đi chạy lại, bồn chồn, phấn khích, ám ảnh. Tác phẩm của ông viết về vụ án ấy, tiểu thuyết phóng sự Máu lạnh (Cold Blood), khai phá một trường phái văn chương mới, Tân Tân văn (New Journalism), trở thành kinh điển và biến tác giả thành triệu phú. Cái Thiện may ra có thể làm điểm tựa, nhưng cái Ác là nguồn cảm hứng và lợi nhuận lớn của các nhà văn. Somerset Maugham từng than rằng vừa là nhà văn vừa là gentleman – đúng ra phải là gentleperson, ở thời giới tính đại đồng này – thì hơi khó.
clip_image006
Cùng kiểu quần tắm và bụng 
Quả là khó. Tôi chọn một vế. Nhà văn. Trong đầu tôi, cuốn tiểu thuyết xã hội về Việt Nam những năm tháng này gào lên đòi được viết. Với một mở đầu đầy ắp triển vọng: ba xác chết cao cấp chào một ngày làm việc tốt đẹp như mọi ngày, ngay tại đầu não quyền lực của một hệ thống tuy thất bại về nhiều phương diện, song luôn xuất sắc trong việc bưng bít xung đột và tuyên truyền đồng thuận. Hiện thực, một lần nữa giàu sáng kiến hơn hư cấu. Dường như không buồn chờ trí tưởng tượng hạn hẹp của các nhà văn nữa, nó quăng một mâm cỗ ba đầu người lên bàn, phủ cờ đỏ sao vàng và nhếch mép đứng chờ các đầu bếp văn chương mò công thức nấu theo. Tất nhiên tôi chỉ có thể mò. Báo chí Việt Nam, biết thân phận “bắt đái dầm phải đái dầm, cho ngồi bô mới được phần ngồi bô” của mình, được vứt cho cái vỏ trấu nhạt phèo của hạt gạo sự thật để nhằn đi nhằn lại đến rát lưỡi là đã mừng. Đó phải là một hạt gạo đen thui, vĩnh viễn chìm trong máu đỏ và sẽ nhanh chóng bị gạt bỏ khỏi sự chú ý của công luận. Chúng ta sẽ không bao giờ có lời giải cho câu đố Yên Bái.
clip_image008
Rất nhiều hoa, và kiểu tóc cũng đoàn thể như nhau 
Truman Capote cũng đứng trước một câu đố của tội ác. Ông chỉ có trong tay một hiện trường với bốn xác chết và vỏn vẹn 45 dollar trong két bị mất. Song ông có sáu năm trời để thực hiện 6,000 trang ghi chép từ hàng trăm cuộc phỏng vấn, với từng người trong cái thị trấn hẻo lánh nơi xảy ra vụ thảm sát, với từng nhân viên điều tra vụ án, với từng người thân, bạn bè, đồng nghiệp của các nạn nhân. Khi hai hung thủ bị bắt, ông đến gặp họ hơn hai trăm lần trong tù, lần theo mọi địa điểm trên đường họ chạy trốn, có mặt từ đầu đến cuối những phiên tòa xét xử họ, và chứng kiến giờ khắc họ bị treo cổ. Để viết ra 130,000 chữ, chữ nào cũng đơn giản là sự thật. Từ loại kẹo cao su mà các hung thủ thích nhai nhất đến từng giấc mơ mà họ còn nhớ. Từ ông chủ điền trang bị giết, “bốn mươi tám tuổi, sức khỏe tuyệt hảo, đeo kính và chỉ cao 1,77m nhưng dáng dấp vẫn oai vệ, vai rộng, tóc chưa hề chớm bạc, gương mặt vuông vức đầy nghị lực, nước da trẻ trung, răng trắng và khỏe, có thể cắn quả óc chó dễ như bỡn, nặng gần 70kg và không hề lên một gam từ ngày tốt nghiệp ngành canh nông ở đại học Kansas” đến ông hàng xóm “chỉ ở cách đó chưa đầy một trăm mét nhưng không hề nghe tiếng súng vì hôm đó có gió. Gió Tây, thổi bạt tiếng súng đi hướng khác. Giữa hai nhà lại có một nhà kho chất lương thực đến tận nóc, ngăn hết mọi tiếng động”. Sau 500 trang tiểu thuyết người thật việc thật, Truman Capote cung cấp một lời giải sửng sốt: đó đơn thuần là một tai nạn tâm lý, hoàn toàn ngẫu nhiên như một tai nạn thiên nhiên, các nạn nhân cũng có thể bị sét đánh chết.
clip_image010
Vụ Yên Bái cũng có thể đơn thuẩn là một tai nạn, dù khó tin tới mức nào. Quan chức cộng sản cao cấp hay gia đình họ cũng có quyền hưởng những trớ trêu lãng xẹt của số phận. Song bức màn bí mật có lẽ là đặc điểm nhận dạng cuối cùng của những người cộng sản sau tiến trình biến tướng và chà đạp chính lý tưởng của họ. Nó phủ lên tất cả, khiến một chuyện tình cũng thành thông tin cấm đoán và sau mỗi đồng chí về hưu là một âm mưu căng thẳng. Như người con gái bạc mệnh của ông Lê Duẩn không thể kể câu chuyện thật của mình được nữa: trí nhớ của ông viện sĩ Sô-viếtlôi cuốn hơn những lời bộc bạch muộn nào đó rất nhiều, ông chi cục trưởng kiểm lâm Đỗ Cường Minh cũng không còn cơ hội trần tình nữa. Trí tưởng tượng dân gian đã bay bổng: Tình tiết, diễn biến đằng sau 8 vỏ đạn tại trụ sở Văn phòng Tỉnh ủy Yên Bái quá nhiều kịch tính; chức vụ của các nhân vật chính gắn liền với quá nhiều quyền lực, thứ quyền lực được chia chác rắc rối trong bóng tối, ở một môi trường quá thối nát, tại một xã hội quá tha hóa, của một đất nước quá mông muội, thuộc một thời đại quá bạo loạn. Đó là chưa kể những chất liệu đầy hứa hẹn khác: một tiểu sử tiến thân nhờ nhà vợ trong bối cảnh một xã hội vẫn đậm đặc tính gia trưởng, và rừng, rừng vàng bao la, mỏ kim cương của một tỉnh miền núi kém phát triển trong một quốc gia nghèo đang phanh thây xẻ thịt tài nguyên của chính mình… Tất cả đã sẵn sàng cho một thrillerchính trị, thể loại có lẽ nghiêm túc nhất để lột tả sự băng hoại của đất nước này. John le Carré có thể ghen với các đồng nghiệp Việt Nam.
Tôi đã có một cái tên cho thriller Yên Bái: Súng nguyện hồn ai. Hiện thực thường giàu sáng kiến hơn hư cấu. Song hư cấu có thể giàu sáng tạo hơn hiện thực.
Ngày 26 tháng 8 năm 2016
P.T.H

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2016

NHÀ MÁY THÉP TÔN HOA SEN Ở BIỂN CÀ NÁ LÀ CỦA TRUNG QUỐC?

NHÀ MÁY THÉP TÔN HOA SEN Ở BIỂN CÀ NÁ LÀ CỦA TRUNG QUỐC?


Sau sự cố thảm họa môi trường biển của Formosa chưa giải quyết được gì, chính phủ đã chính thức nhận 11.500 tỷ bồi thường của Formosa vào ngày 29/8/2016. Nhưng đến nay thông tin chính phủ trợ cấp cho ngư dân 4 tỉnh chỉ có 2 tỷ đồng từ Liên đoàn Lao động Việt Nam nhân ngày khai trường 05/9/2016.

Theo tính toán của chúng tôi, thiệt hại tại chỉ một xã của 4 tỉnh miền Trung bị biển chết đã lên đến hơn 2.000 tỷ đồng. Chúng tôi sẽ công bố một số kết quả thiệt hại trong tháng này để đồng bào trong và ngoài nước rõ.

Nhưng gần đây rộ lên tin đồn dự án Nhà máy thép của Tôn Hoa Sen sẽ được xây dựng tại bờ biển Cà Ná thơ mộng của tỉnh Ninh Thuận. Nên chúng tôi đi tìm thông tin nguồn tài chính để xây dựng nhà máy thép này từ đâu ra. 

Trong lúc này, ngay cả chính phủ cũng không còn tiền để bù đắp vào bội chi ngân sách năm 2016, mà phải tăng giá xăng 2 lần trong một tháng qua với tổng số tăng là 650 + 702 = 1.352 đồng mỗi lít xăng, trong khi giá xăng thế giới giảm từ $52/thùng xuống còn $45/thùng trong 1 tháng qua, thì Tôn Hoa Sen lấy tiền đâu ra làm nhà máy thép? 

Với giá dầu $45/thùng này thì năm ngoái 2015, giá xăng A92 trong nước chỉ còn 11.500 đồng mỗi lít, như vậy 1 năm qua, chính phủ đã thầm lặng tăng giá xăng khoảng gần 5.000 đồng mỗi lít. Vì giá xăng A92 hiện nay là 16.070 đồng mỗi lít!

Hôm nay có thông tin về việc khảo sát xây dựng tổ hợp nhà máy luyện cán thép Hoa Sen tại tỉnh Ninh Thuận của ông Trần Ngọc Chu tổng giám đốc tập đoàn Hoa Sen gửi cho UBND tỉnh Ninh Thuận ngày 15 tháng 6 năm 2015 thì thành phần khảo sát gồm có 10 người. Trong đó 4 người là Việt Nam và 6 người là của Trung Quốc. Xem hình 1 và hình 2 kèm theo.


Tại sao Tôn Hoa Sen lại mời đến 6 người Trung Quốc thuộc tập đoàn CISDI? Vậy CISDI làm gì? của ai? Tôi đi tìm hiểu thì thấy rằng:

1. Đây là một tập đoàn kỹ nghệ của nhà nước Trung Quốc được đặt tại Trùng Khánh, Trung Quốc có thâm niên 50 năm làm công nghệ thép.

2. Tập đoàn CISDI chuyên cung cấp tư vấn, thiết kế kỹ thuật, tổng thầu EPC ký kết hợp đồng, và các dịch vụ thiết bị tích hợp để sản xuất thép trên toàn thế giới. 

Vậy có phải cũng như Formosa của Đài Loan chỉ là cái vỏ bọc còn ruột là của Trung Quốc, nên tới giờ này nhiều quan chức Việt Nam nhắc đi nhắc lại cả chục lần là, nếu Formosa tái phạm sẽ đuổi nó ra khỏi Việt Nam. Nhưng từ tháng 4/2016 đến nay Formosa đã tái phạm hơn 3 lần thải chất rắn trái phép ở 9 nơi từ miền Bắc đến Đà Nẵng nhưng chính phủ và nhà nước cộng sản ở Việt Nam vẫn câm như hến.

Liệu đây có phải là bài hủy diệt dân tộc Việt của Trung Quốc từ sự tiếp tay của đảng cộng sản ở Việt Nam không? Dân Việt cần câu trả lời rõ ràng của đảng cầm quyền về thủ đoạn hủy hoại môi trường từ Bauxite Tây Nguyên đến các nhà máy thép có dính dáng đến Trung Quốc.

Sài Gòn, 11h32' ngày thứ Ba, 06/9/2016

Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2016

Về sự vắng bóng Bà Đầm Xòe Phạm Thành trên fb và blog.


Về sự vắng bóng Bà Đầm Xòe Phạm Thành trên fb và blog. 


Kính bạn đọc.
Thanh trờiSau khi viết bài “Ống cống cho Nguyễn Phú Trọng”, Phạm Thành hầu như bỏ mọi việc, tập trung vào sửa tiểu thuyết Cò hồn Xã nghĩa.Sau đúng 4 tháng, đêm không ăn, ngày không ngủ, làm việc từ 12 tiếng mỗi ngày, hôm nay coi như đã sửa chữa xong. Trong lúc đọc lại và sửa chữa Phạm Thành nhận ra, một số bản in tặng bạn bè, đúng nó chỉ xứng đáng là bản thảo ( viết trong 9 tháng) xét trên mọi mặt của tiểu thuyết. (Ấy mà tác giả bị hàng chục lần công an Hà Nội triệu tập). Vì lý do đó, Phạm Thành khuyến cáo, những ai đọc rồi thì lượng thứ, nhưng ai chưa đọc thì không nên đọc nữa. Đợi một thời gian ngắn nữa sẽ có nhà xuất bản ( tất nhiên là ở nước ngoài) chính thức in, các quý bạn sẽ đọc trên bản in đó. Với dung lượng 260 ngàn từ, tương đương 1.000 trang in, bao quát đời sống chính trị ở Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2000 (tập 2 sẽ lấy bối cảnh từ năm 2000 – nay) với bút pháp bi hài kịch ( một thể loại văn chương khó viết bậc nhất), tác phẩm sẽ là một kỳ đài của dòng văn học phản kháng trên quy mô thế giới (không chấp các tác phẩm đã in ở Việt Nam). Với tất cả sự khiêm tốn, Phạm Thành tự tin thưa với các bạn, viết bị hài kịch dưới dạng tiểu thuyết, liệu có ai trên thế giới sánh được với Phạm Thành?
Nhân ngày Quốc tang 2 tháng 9 cận kề, Phạm Thành lần lượt trích một số đoạn ngắn phục vụ các bạn. Hôm nay là đoạn hậu quả của cải cách ruộng đất, bắt đầu từ năm 1947 kéo dài cho đến năm 1958 Xin cảm ơn các bạn.
Chương 12 (trích)
“Quyền lực của đảng trưởng Hò Văn Đản sau cải cách dâng cao như sóng thần, không gì có thể cản nổi. Người người đều kính cẩn trước đảng trưởng Hò Văn Đản như kính cẩn thánh thần. Kinh sợ đảng trưởng Hò Văn Đản như những con thú hoang đang nằm trong bẩy.
Đảng trưởng Hò Văn Đản ho một tiếng. Dân nghe liền sợ sệt như nghe sấm vang, trời động.
Đảng trưởng Hò Văn Đản hắt xì hơi một tiếng. Dân nghe liền sợ như nghe gió mưa, sóng thét, núi gầm.
Đảng trưởng Hò Văn Đản đánh rắm một tiếng. Dân nghe liền sợ như nghe súng nổ bên tai.
Đảng trưởng Hò Văn Đản đã nói là phải đúng. Nếu thấy sai, tranh luận lại, chỉ còn có đường chết. Đến mẹ đẻ ra Hò Văn Đản khi nghe Hò Văn Đản hò hét những khẩu hiệu sắt máu như vậy, bà cũng phải run lên. Bà cứ lo rằng: “Nếu bây giờ hắn biết cha hắn đích thị là ai? Chắc hắn cũng sẽ đem mẹ hắn ra xử bắn”.
Ai ai cũng có thể bỗng nhiên trở thành kẻ thù trực tiếp của cách mạng. Đặc biệt, những người có tiếng tăm, những người có chữ nghĩa, những người có của cải, những người có uy tín, tất cả bướm, buồi đều rung lên bần bật khi có ai nhắc đến tên Hò Văn Đản.
Sợ hải thường trực hiện hữu, mắt thấy, tai nghe. Sợ hải lan tràn như cỏ mọc. Sợ hải cài sâu vào máu chảy, tim rung. Ai muốn sống phải tự hoá kiếp người thành kiếp trâu, bò, chó, lợn….  yên phận cụp đuôi, ngoe ngẩy trong củi, trong chuồng; hoặc tìm cách lẩn trốn, chuồn khỏi nước Mynga; hoặc nằm lòng ngậm miệng, dán miệng lại.
Hò Văn Đản Giáp, một giáo viên sử học, bỗng nhiên thành tướng năm sao, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước Mynga, chỉ huy trận Điên Biên khét súng, đẫm máu. Trong năm sáu ngày đêm, Đản Giáp nướng chín gần năm ngàn người, bị thương mười ngàn người, tưởng đã đạt đỉnh ghê gớm, máu lạnh. Nào ngờ, không mở mặt trận, không giáp lá cà, không xua người ào ào xông lên ăn đạn, ngã xuống như sung rụng, chỉ âm thầm lặng lẽ, Hò Văn Đản phay gọn gần hai trăm ngàn người, hành hạ liệt tay, lết chân, bại não năm trăm ngàn người[1]. Đản Giáp hỏang hồn, kinh sợ đến mức, Hò Văn Đản bảo đi là đi, bảo đến là đến, bảo thắng là thắng, Bác bảo đi là đi, Bác bảo thắng là thắng[2], chưa một lần dám ngẩng thẳng cổ, quay đầu nhìn về phía sau. Hoảng hồn kinh sợ đến mức, đương kim bộ trưởng quốc phòng mà vào bệnh viện, vào nhà vệ sinh, không bao giờ dám cởi bỏ quân phục, cất mũ ca pi đội trên đầu, gỡ lon năm sao trên cầu vai, hóa thân thành nhộng, chui vào, nằm im trong bọc kén có tên là Nhẫn. Hoảng hồn, kinh sợ đến mức, làm trưởng ban sinh đẻ có kế hoạch cũng tưởng như mình đang làm tư lệnh lực lượng vũ trang đánh giặc.[3].
Hò Văn Đản Chinh, cây lý luận Mác xít, nói giỏi, không giỏi làm, ít thực tế, giữ chức tổng bí thư đảng, trưởng ban cải cách. Sau cải cách bị Hò Văn Đản chọn làm vật hiến tế, bắt làm kiểm điểm, cách chức tổng bí thư đảng. Đản Chinh hoảng hồn, kinh sợ đến mức, co mình, chui sâu vào hang, đậy kín nắp như ếch mùa đông. Mấy chục năm sau mới dám rời hang. Cứ tưởng cải cách vẫn còn, liền đớp ngay người đồng chí Ngọc Kim, vì tội đem đất đai của nhà nước giao cho dân mượn sử dụng, nhằm dâng công lên đảng trưởng Hò Văn Đản. Trong khi đảng trưởng Hò Văn Đản đã bị quỷ sứ phanh thây, hành xác đã hơn một chục năm.
Hò Văn Đản Đồng, thủ tướng chính phủ, hoảng hồn kinh sợ đến mức, nhìn người Mynga, ai ai cũng chỉ là những hình nhân cụt đầu. Đứng đầu hành pháp mấy chục năm không dám phê bình ai, không dám cách chức một ai. Cứ định xử lý một ai, hình nhân cụt đầu đó lại hiện lên trước mặt. Đem đất nước dâng cho ngoại bang, lại cứ tưởng đem mấy sao vườn ở Ngải Quảng giao lại cho người anh em trước khi thoát ly theo Hò Văn Đản làm cách mạng.
Hò Văn Đản Đang, người dựng chòi cho Hò Văn Đản đọc tuyên ngôn độc lập ngày mùng Hai tháng Chín, hỏang hồn kinh sợ đến mức liều thân chạy về phía Nam. Chạy cũng không thoát. Thành thân tù cả đời. Không dám ăn cơm, không dám ngủ giường, quanh năm chỉ dám ăn cóc, ăn nhái.
Anh hai nam bộ Hò Văn Đản Thắng. Từng ngang dọc biển khơi. Từng nả súng vào đầu Nga Hoàng. Đản Thắng sợ đến mức, có miệng nhưng câm, cả đời làm chủ tịch nước Mynga chỉ nói được mỗi một câu có giá trị: Đù má. Đến tao còn phải sợ[4]”.
Hò Văn Đản Hữu, trưởng ban tư tưởng văn hóa, soái thơ hiện thực Xã nghĩa, hoảng hồn kinh sợ đạt mức đỉnh điểm. Đản Hữu viết văn làm thơ chửi Hò Văn Đản là chó, là kẻ sát nhân Người là Cha, là Bác, là Anh, Mynga có bác Hò, thế giới có Stalin[5], lại cứ tưởng như đang hết lòng ca ngợi Hò Văn Đản, vì trong thế giới động vật, loại nuôi con bằng sữa, chỉ có giống chó mới loạn luân, nên có con mới vừa là cha, là bác, là anh, còn Stalin, là một lãnh tụ cộng sản, một chuyên gia diệt chủng hàng đầu. Hò Văn Đản Hữu chửi đảng cộng sản như ma như quỷ mà cứ tưởng như mình đang ca ngợi đảng: “Đảng ta đó trăm tay, ngìn mắt, Đảng ta đây xương sắt mình đồng. Như đứa trẻ sinh năm trên cỏ, Không quê hương sương gió tơi bời, Đảng ta sinh ở trên đời, Một hòn máu đỏ nên người hôm nay[6]”.
Người duy nhất không sợ mà còn thích thú hưởng ứng, đó là đặc phái viên của Hò Văn Đản, trưởng bản cải tạo xây dựng đất nước Hò Văn Đản Mười”…
[1] Theo tài liệu của Nhà nước Việt Nam. Thực tế người bị giết, oan sai còn nhiều hơn.
[2] Thơ của nhà thơ Tố Hữu.
[3] Đại tướng Võ Nguyên Giáp, không giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng, Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang Việt Nam chuyển sang chức Chủ tịch Ủy ban quốc gia dân số và sinh đẻ có kế hoạch Việt Nam năm 1984.
[4] Câu nói của ông Tôn Đức Thắng, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
[5] Thơ của nhà thơ Tố Hữu, nguyên văn: Người là Cha, là Bác là Anh. Việt nam có Bác Hồ/ Thế giới có Stalin
[6] Thơ của nhà thơ Tố Hữu.