Bài đăng nổi bật

Bức tường Berlin (Phần 1): Nước Đức chia cắt

  Bức tường Berlin (Phần 1): Nước Đức chia cắt 12/08/2021 Nguyễn Thọ 12-8-2021 Vào ngày này cách đây 60 năm, đêm 12, rạng sáng ngày 13.08.19...

Thứ Năm, 3 tháng 3, 2016

Chết trong ảo tưởng

Chết trong ảo tưởng

bauxitevnWed 7:45 AM


Ngọc Việt 
(GDVN) - Việc gây ảo tưởng về sự suy yếu của Trung Quốc có thể là sai lầm tai hại như vậy của truyền thông quốc tế gần đây.
Cách nay tròn một phần tư thế kỷ - 12 giờ ngày 28/2/1991 (theo giờ Hà Nội), cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất - Chiến dịch Bão táp Sa mạc chính thức kết thúc. Khi lính thủy đánh bộ Mỹ và liên quân 34 nước chỉ còn cách thủ đô Bagdad của Iraq khoảng 150 km thì Tổng thống G.W.Bush tuyên bố chiến thắng, chấm dứt chiến tranh, theo BBC ngày 28/2/1991.
Từ đó đến nay, lịch sử thế giới đã xảy ra biết bao sự kiện, xảy ra biết bao cuộc chiến, nhưng chưa có một cuộc chiến nào thể hiện tầm cỡ và quy mô như cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất ấy.
Lần đầu tiên, kể từ khi cuộc Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, một cuộc chiến ảnh hưởng trực tiếp đến cả nhân loại và được hầu hết các quốc gia trên thế giới đồng thuận.

25 năm đã trôi qua, những nhân vật chính của cuộc chiến thì có người đã về với đất, có người chỉ còn là nhân chứng lịch sử với ký ức về cuộc chiến năm xưa.
Và thật sự Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất cũng đã nhạt nhòa trong ký ức của người dân thế giới vì nỗi lo cho cuộc sống hàng ngày và cả vì những cuộc chiến khác đã làm thay đổi cái nhìn về Chiến dịch Bão táp sa mạc thời ấy.
clip_image001
Cựu Tổng thống Liên Xô Mikhail Gorbachev – người cay đắng nhất vì ảo tưởng trong Chiến dịch Bão táp sa mạc. Ảnh: History.com.
Tuy nhiên, theo người viết thì khi cuộc chiến bắt đầu nổ ra, hồi cuộc chiến đang diễn ra và lúc cuộc chiến kết thúc, có rất nhiều vấn đề liên quan tới Chiến dịch Bão táp sa mạc vẫn còn nguyên tính thời sự. Giá trị của nó không dễ bị phai mờ theo thời gian, trong đó đặc biệt là vai trò của truyền thông và sự hình thành thế giới đơn cực – kết thúc Chiến tranh Lạnh.
Tính lợi hại của thứ vũ khí mới -  truyền thông
Cũng nên nhắc lại rằng, vì tham vọng làm bá chủ Trung Đông nhưng thất vọng khi không thể chiến thắng trong cuộc chiến Iran – Iraq, với tính khi nóng nảy và hành xử kẻ cả, ngày 2/8/1990, Tổng thống Iraq Saddam Hussein đã xua quân sang xâm chiếm Kuwait và nhanh chóng chiến thắng. Trong cơn cao hứng, ngày 9/8/1990 Saddam tuyên bố sát nhập Kuwait làm tỉnh thứ 19 của Iraq, theo Newsweek tháng 3/1991.
Việc tấn công Kuwait của Saddam ngay tức khắc bị thế giới lên án và kêu gọi quân đội Iraq rút quân, lập lại hòa bình cho quốc gia vùng vịnh nhỏ bé nhưng giàu có này. Tuy nhiên, Saddam không những phớt lờ mà còn thách thức cả thế giới, bởi lợi ích quá lớn từ những giếng dầu của Kuwait và cả những thỏa mãn khát khao chiến thắng mà ông ta đã ôm mộng từ lâu.
Thế là để buộc Saddam Hussein phải tuân thủ Hiến chương Liên Hợp Quốc về việc tôn trọng chủ quyền của một quốc thành viên, Liên Hợp Quốc lấy danh nghĩa Giải phóng Kuwait, cho phép thành lập Liên Minh quân sự 34 nước do Mỹ đứng đầu, chuẩn bị tấn công, đánh đuổi quân Iraq, tái lập chủ quyền cho nhà nước Kuwait, lập lại hòa bình trên đất nước Kuwait.
Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho Saddam sửa sai và cũng là để đảm bảo chiến thắng cho cuộc chiến tranh Giải phóng Kuwait, LHQ, Mỹ và Liên quân 34 nước đã sử dụng nhiều biện pháp ngoại giao, kể cả lên án và trừng phạt, nhưng tất cả đều không làm thay đổi được Saddam.
Dư luận cho rằng Saddam không nhượng bộ vì ông ta quá tự tin sức mạnh của quân đội Iraq.
Phải khẳng định rằng, sức mạnh của quân đội Iraq không là gì cả khi so với sức mạnh của Mỹ và Liên quân, song Saddam lại không tin như vậy và càng ngày ông ta càng xem thường “quân đội Liên Hợp Quốc”.
Saddam đã quá ảo tưởng về sức mạnh của Iraq và tương quan Iraq – Liên quân lúc đó. Tuy nhiên, cơ sở khiến cho Saddam Hussein ảo tưởng không phải bởi số liệu do tình báo Iraq do thám được mà nó được cung cấp bởi truyền thông quốc tế.
clip_image002
Máy bay Liên quân ném bom trong Chiến dịch Bão táp sa mạc – chứng minh sự sai lầm trong  ảo tưởng của Saddam Hussein. Ảnh: Internet.
Có thể thấy rằng, Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất là một cuộc chiến tranh hiện đại mà lần đầu tiên truyền thông có ảnh hưởng manh tính quyết định tới cuộc chiến. Thời điểm ấy, không một ngày nào mà trên các phương tiện của truyền thông thế giới không có hàng trăm bản tin, bản phân tích, so sánh sức mạnh của Iraq với  Mỹ và Liên quân 34 nước.
Song trong tất cả các bản thông kê, liệt kê số liệu về phương tiện phục vụ cuộc chiến, về lực lượng tham gia cuộc chiến, không biết “vô tình hay cố ý” mà đều nghiêng về phía Iraq từ xe tăng, máy bay, pháo binh nhiều hơn, đến lực lượng quân đội nhiều hơn, thậm chí tinh nhuệ hơn, đặc biệt là tính thiện chiến của lực lượng Vệ binh Cộng hòa của Saddam Hussein.   
Trong tất cả những phân tích về tương quan lực lượng, từ những bình luận viên quân sự chính trị nổi tiếng đến những nhà chiến lược quân sự lão luyện, hầu hết đều đưa ra nhận định tương quan Iraq – Liên quân là một chín một mười.
Từ đó đưa ra nhận định là quân đội của Saddam Hussein có thể sẽ đánh bại Liên minh quân sự 34 nước và sau đó có rút khỏi Kuwait thì cũng là đội quân chiến thắng trở về.
Cứ thế, thời gian qua đi thì độ căng thẳng của cuộc chiến cũng tăng cao và kèm theo đó là sự tư tin của Saddam Hussein và chính quyền của ông cũng được củng cố vững chắc hơn trong ảo tưởng.
Khi giới hạn cho sự kiên nhẫn đã hết và tác dụng của vũ khí truyền thông cũng đã đạt tới đỉnh điểm thì rạng sáng ngày 17/1/1991, Tổng tư lệnh G.W. Bush phát lệnh tấn công Iraq – Chiến dịch Bão táp sa mạc bắt đầu, theo CNN 17/1/1991.
clip_image003
Cố Tổng thống Iraq Saddam Hussein đã thất bại thảm hại trong Chiến dịch Bão táp sa mạc vì ảo tưởng vào sức mạnh của Iraq. Ảnh: BBC.
Khi cuộc chiến diễn ra thì Saddam Hussein mới nhận ra mình ảo tưởng, bị mắc lừa bởi truyền thông và ông ta mới nhận ra một kiểu nghi binh mới mà G.W.Bush đã vận dụng quá hay, quá hoàn hảo.
Quân đội Iraq nhanh chóng bị đuổi khỏi Kuwait với thiệt hại vô cùng lớn về vũ khí và lực lượng. Ngay tại đất nước Iraq, những gì gọi là thiện chiến, là tinh nhuệ cũng bị tan tác bởi bom đạn của Mỹ và Liên quân.
May cho Saddam Hussein lúc đó khi mục đích của Chiến dịch Bão táp sa mạc chỉ là Giải phóng Kuwait nên ông ta mới còn cơ hội nắm chính quyền thêm hơn chục năm nữa.
Tuy nhiên, sau khi cuộc chiến kết thúc thì chủ quyền của Iraq bị hạn chế rất nhiều, mà cụ thể là vùng cấm bay tại Bắc Iraq được xác lập, quyền lợi chính trị của người Kurd - vốn là điều cấm kỵ của Saddam - đã được bảo đảm và bảo vệ của quốc tế.
Có thể nhận định rằng, Liên quân 34 nước chiến thắng Saddam Hussein trong Chiến dịch Bão táp sa mạc không chỉ vì vũ khí của Iraq cũ kỹ, trình độ kỹ thuật quân sự của Iraq lạc hậu mà còn do truyền thông quốc tế lúc ấy đã tạo cho Saddam một ảo tưởng vào sức mạnh. Từ đó ông ta khinh địch, chủ quan trong chiến thuật rồi phải chuốc lấy thất bại toàn diện và nhanh chóng. 
Với ảnh hưởng có tính quyết định trong Chiến dịch Bão táp sa mạc, truyền thông đã nhanh chóng được xem là một thứ vũ khí lợi hại, được khai thác tối đa để phục vụ cho tất các cuộc chiến, từ chiến tranh quân sự đến chiến tranh kinh tế. Truyền thông không gây sát thương nhưng khả năng gây thương vong thì có thể hơn tất cả những loại vũ khi giết người hàng loạt khác. 
Chính thức hình thành thế giới đơn cực
Khi Chiến dịch Bão táp sa mạc kết thúc, dư luận cho rằng người cay đắng nhất là Saddam Hussein vì ông ta bị thất bại hoàn toàn, niềm kiêu hãnh của ông ta bị tổn thương nghiêm trọng.
Tuy nhiên, theo người viết thì người cay đắng nhất không phải là Tổng thống Iraq lúc đó, mà là M.Gorbachev – Tổng thống đầu tiên và duy nhất trong lịch sử tồn tại của Nhà nước Liên Xô.
Nếu như Saddam Hussein ảo tưởng vào sức mạnh của Iraq nên thất bại thảm hại, thì M.Gorbachev còn ảo tưởng hơn Saddam rất nhiều về uy tín cá nhân của ông ta và về sức mạnh của Liên Xô. Nên qua Chiến dịch Bão táp Sa mạc, thất bại của M.Gorbachev thảm thương hơn rất nhiều so với Saddam Hussein. 
Thất bại của M.Gorbachev nặng nề hơn Saddam không chỉ vì ông ta phải rời bỏ quyền lực sau khi Chiến dịch Bão táp sa mạc kết thúc 10 tháng, còn Saddam phải 12 năm sau mới bị tước bỏ quyền lực, mà thất bại của M.Gorbachev nằm ở vị thế và vai trò của ông ta trong việc tham gia ngăn chặn chiến tranh và chấm dứt Chiến dịch Bão táp sa mạc.
Cần phải nhắc lại rằng, khi Liên Hợp Quốc thông qua việc cho phép Liên quân 34 nước tấn công Iraq thì Liên Xô lần đầu tiên phải bỏ phiếu thuận cho một cuộc chiến tranh có thể nổ ra mà thật sự họ không muốn.
Trung Quốc bỏ phiếu trắng, nhưng Liên Xô không thể làm như thế và có thể khẳng định rằng M.Gorbachev không dám làm như vậy. G.W.Bush, M.Thatcher và F.Mitterand buộc M.Gorbachev phải lựa chọn ủng hộ cuộc chiến vùng Vịnh lúc bấy giờ.
M.Gorbachev đã thúc đẩy hoạt động ngoại giao con thoi giữa Liên quân và Iraq nhằm ngăn chặn đổ máu, qua đó thể hiện vai trò của ông ta cũng như Liên Xô với cuộc chiến. Tuy nhiên, khi cơ hội ngoại giao còn thì Saddam không chấp nhận, đến khi Saddam chấp nhận thì bị Mỹ gạt bỏ. Mọi dàn xếp của Liên Xô lúc đó đều không có bất cứ ảnh hưởng gì đến cuộc chiến.
Hình ảnh đặc phái viên của Tổng thống Liên Xô, Viện sĩ Yevgeny Primakov phải nói chuyện với Saddam ở dưới hầm trú ẩn, trong khi máy bay Mỹ vẫn ném bom trên bầu trời Baghdad thì mới thấy rằng, Liên Xô không còn vai trò gì trong việc giải quyết các vấn đề chính trị thế giới lúc đó.
Thế giới lưỡng cực đã chính thức được thay bằng thế giới đơn cực và cực duy nhất là Mỹ.
Sự bi thảm ấy được phụ họa thêm bằng hình ảnh của Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Javier Perez de Cuellar ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Chỉ có Chúa mới biết chiến tranh có nổ ra hay không” khi trả lời phóng viên báo chí quốc tế, sau thất bại trong việc thuyết phục Saddam Hussein chấp nhận rút quân khỏi Kuwait vô điều kiện theo yêu cầu của Mỹ và Liên quân, theo BBC 13/1/1991.
clip_image004
Chiến tranh Lạnh kết thúc nhưng lại bắt đầu cho hàng loạt điểm nóng bởi xung đột vũ trang ở nhiều khu vực trên thế giới. Ảnh: BBC/Getty.
Có thể thấy rằng, việc Liên Xô sử dụng biện pháp ngoại giao để ngăn chặn Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991, cũng như chấm dứt Chiến dịch Bão táp sa mạc là những hành động cuối cùng của siêu cường quốc tế này vào việc giải quyết vấn đề chính trị thế giới.
Đó cũng là những cố gắng cuối cùng của ông M.Gorbachev trong quan hệ đối ngoại với tư cách là lãnh đạo Liên Xô.
Ngày 19/8/1991 tại Liên Xô xảy ra cuộc đảo chính nhằm lật đổ M.Gorbachev, mà nguyên nhân được dư luận cho là việc ký kết Hiệp ước Liên bang mới sẽ ảnh hưởng đến sự tồn tại của Liên Xô.
Song thật ra nguyên nhân của cuộc chính biến ngày 19/8 chính là sự thất bại của Liên Xô trong việc tìm kiếm giải pháp ngoại giao cho cuộc chiến Vùng Vịnh - Liên Xô chính thức bị tước mất vị thế siêu cường của mình.
Có người cho rằng Chiến tranh Lạnh kết thúc khi khối Hiệp ước quân sự Warszawa giải thể, cũng có người cho rằng nó kết thúc khi Liên Xô chấm dứt sự tồn tại. Song với cá nhân người viết thì Chiến tranh Lạnh bắt đầu khi Đệ nhị Thế chiến kết thúc và Chiến dịch Bão táp sa mạc là thời điểm kết thúc Chiến tranh Lạnh.
Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất đã trôi qua một phần tư thế kỷ, hậu quả của nó để cho người dân Kuwait và đặc biệt người dân Iraq là vô cùng khốc liệt. Cho dù yếu tố chính nghĩa và phi nghĩa của cuộc chiến ấy vẫn chưa thể khẳng định chính xác, song có một điều cuộc chiến luôn khẳng định được đó chính là giá trị của hòa bình.
Ngày nay, thế giới đang diễn ra hàng loạt những cuộc chiến tranh, những cuộc xung đột vũ trang, thậm chí cả những nguy cơ xảy ra xung đột vũ trang ở nhiều khu vực trên thế giới và Việt Nam là một trong những quốc gia đang đối mặt với nguy cơ ấy. Bên cạnh đó, một cuộc chiến tranh kinh tế cũng đang diễn ra, dù âm thầm nhưng không kém phần ác liệt.
Vì vậy, những bài học về những “cái chết trong sự ảo tưởng” trong cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất là vô quý giá cho việc khẳng định và giữ vững chủ quyền quốc gia.
Truyền thông quốc tế có thể gây ảo tưởng về “cái chết” của một thực thể kinh tế - chính trị nào đó nhưng lại có thể gây ra những cái “chết thật” cho những thực thể khác. Việc gây ảo tưởng về sự suy yếu của Trung Quốc có thể là sai lầm tai hại như vậy của truyền thông quốc tế hiện nay.
N.V.

Công nhân Pouchen được gì sau ba ngày đình công

Công nhân Pouchen được gì sau ba ngày đình công

bauxitevnWed 7:39 AM


Tường An, thông tín viên RFA  
clip_image002
Thông báo của công ty Pouchen sau ba ngày công nhân dình công. Ảnh do công nhân cung cấp

Nhiều ngày qua, các trang mạng đưa tin về cuộc đfinh công của công ty Pouchen. Sau 3 ngày đình công, hôm nay thứ hai, ngày 29/2, công nhân công ty Pouchen đã đi làm trở lại. Sáng ngày 29/2, từ công ty Pouchen, một công nhân cho đài Á châu tự do biết:
«Dạ công nhân đi làm rồi, công nhân đi làm rồi chị. Chừng nào đưa ra bảng thông báo như thế này người ta mới đi làm lại đó».
Khoảng đầu năm nay, công ty Pouchen 100 % vốn Đài Loan, có cơ sở tại thành phố Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai với 21.900 công nhân, chuyên sản xuất giày với đối tượng khách hàng chính là Nike đã ra thông báo sẽ áp dụng thử trong vòng 6 tháng chính sách “quản lý hiệu quả công việc”. Theo quy chế này, công nhân sẽ bị tính điểm tùy theo năng suất làm việc hay bị phạm lỗi trong khi làm việc. Cán bộ công ty sẽ theo dõi, ghi điểm và cuối năm xếp hạng A, B , C. Tùy theo bảng xếp hạng này mà công nhân sẽ bị trừ tiền thưởng cuối năm, giảm chế độ phụ cấp và tiền thâm niên. Điều này gây bức xúc cho công nhân. Vì theo chính sách này thì nghĩ không phép hay có phép đều bị trừ tiền thưởng, hoặc không công bằng cho công nhân vì bệnh nặng phải nghĩ  dài hạn, chưa kể đến tình trạng bè phái hoặc quen biết nên sự xếp hạng sẽ không công bằng. Chị Nga nói:
«Thí dụ mình nghỉ không phép thì người ta trừ mình bao nhiêu cũng được, nhưng còn những người đau ốm bệnh tật, những người bị mổ xẻ, tai nạn họ phải nằm viện cả mấy tháng trời mà trừ tiền thưởng người ta thì cũng tội. Tết đến người ta chỉ có mong vào tiền thưởng».
Chính sách được áp dụng rất nghiêm ngặt: một sợi chỉ dù do ai làm rơi ra cũng phải nhặt ngay, trong lúc làm việc không được nói chuyện, bất cứ một vi phạm nào đều bị cán bộ ghi để cuối tháng trừ điểm và xếp hạng abc, ngay cả việc đi vệ sinh trong giờ làm việc cũng bị hạn chế tối đa. Công nhân bị coi như những người máy. Chị Nga tiếp:
«Chẳng hạn như họ làm ra một vạch đường vàng. Cái vạch vàng đó bắt buộc ngồi thẳng hướng, ngay hàng. Mình ngồi mỏi hay vô tình đi vô, đi ra, xê dịch một chút, không để ý là bị ghi lỗi và trừ tiền thưởng, áp lực người ta quá!»
Công ty đưa ra chỉ tiêu cho mỗi tháng, vì vậy cán bộ phải cố tìm lỗi của công nhân để trừ điểm cho đạt chỉ tiêu. Chị Nga nói:
«Từ tháng 1 đầu năm nay là bắt đầu áp dụng. Ở trên nó bắt cán bộ phải ghi bao nhiều lỗi, bao nhiêu lỗi, bắt buộc phải có. Cán bộ giống như công an, có ai sơ hở là nó ghi ngay. Ít nhất một ngày là phải vài người có lỗi».
Dạ công nhân đi làm rồi, công nhân đi làm rồi chị. Chừng nào đưa ra bảng thông báo như thế này người ta mới đi làm lại đó.
- Một công nhân
Ngày 25/2, công nhân đã bắt đầu đình công để phản đối quy chế tính điểm này. Khoảng 17.000 công nhân tràn ra quốc lộ 1K, Hòa An, làm tắc nghẽn giao thông. Cuộc đình công khởi đầu rất ôn hòa, tuy nhiên sau đó có sự can thiệp của công an và có xảy ra xô xát làm 3 công nhân bị thương.
Sau ngày đình công thứ nhất, công ty đã phải nhượng bộ và ra thông báo «ngừng thực hiện chính sách quản lý hiệu quả công việc» và trả lương ngày 25/2. Công nhân không đồng ý với thông báo «ngừng thực hiện» và tiếp tục đình công sang ngày thứ hai. Công nhân tiếp tục đình công. Đến ngày 27/2 công ty ra thông báo «công ty không thực hiện chính sách quản lý hiệu quả công việc» và đồng ý trả lương các ngày đình công 25,26,27/2. Chị Thu, một công nhân Pouchen kể lại từng bước nhượng bộ của công ty:
«Trưa 25 đình công là 26 nó đưa thông báo nó nói 25 không đi làm vẫn tính lương, yêu cầu 26 đi làm bình thường. Đến 26 đình công thì nó ghi là 25-26 nó vẫn tính lương, yêu cầu công nhân 27 lên ca bình thường. Ngày thứ bảy, 27 mời đình công nó lại đưa ra thông báo vẫn trả lương 3 ngày 25, 26, 27. Yêu cầu công nhân ngày 29 lên ca bình thường».
Tuy nhiên, nhiều công nhân chưa hoàn toàn đồng ý với chữ «Không thực hiện» trong thông báo mà đòi phải «Hủy thực hiện» vì họ cho rằng, có thể công ty bây giờ «không thực hiện» nhưng sau này lại thực hiện thì sao ? Nhiều công nhân phân vân không biết thứ hai có tiếp tục đình công không ? Đa số chọn thái độ chờ đợi.
«Mình cũng không biết nữa, nếu đình công thì mình đình công, còn mọi người làm thì mình làm. Nhưng mà mười mấy ngàn người mà phân nửa làm, phân nửa đình công thì cũng khó xử. Ba cái thông báo, nhưng nó không ghi là bãi bỏ, nó chỉ ghi là không thực hiện thôi !»
Tuy đã đi làm lại, công nhân vẫn còn chia ra hai ý kiến, một số thì cho rằng câu «không áp dụng chính sách» là không rõ ràng mà phải nói là không áp dụng việc phân hạng A, B, C. Nhưng một số khác thì cho rằng không áp dụng chính sách cũng đồng nghĩa với việc không áp dụng xếp hạng A, B, C. Chị Nga nói:
«Nhiều người thắc mắc là không quản lý hiệu quả công tác, thế thì nói về A, B, C thì chẳng hạn mình làm sai thì có ghi lỗi hay trừ nữa hay không? Có nhiều người nói vậy, có nhiều người không hiểu. Có nhiều người thì hiểu giống như em: cái câu A, B, C nó cũng tương tự như quản lý hiệu quả công việc vậy thôi, theo em nghĩ nó cũng giống nhau cả».
Dù vẫn còn hoang mang với chữ nghĩa trong thông báo này, nhưng sau 3 ngày đình công, nhiều công nhân đã phải đi làm vì sợ chủ phá sản thì mất cả việc. Chị Thu nói:
«Lúc đầu mình thấy công ty Pouchen mọi người cũng dứt khoát, mạnh mẽ lắm. Đến khi mà Nanh Sói (?) đưa ra ý kiến: sợ, đi làm thôi nghỉ mấy ngày cũng chán, sợ chết đói không có tiền lo cho gia đình.»
Tuy nhiên, cũng nhiều công nhân cũng ý thức được rằng công nhân phải dám hy sinh để đấu tranh cho quyền lợi lâu dài của mình. Chị Thu tiếp:
«Thà là mình mất vài ngày mà mình đạt được quyền lợi vĩnh viễn của mình còn đỡ hơn là mình cứ như làm là nó dí mình vào đường cùng thì sau này mình sẽ không có quyền lợi nào nữa hết. Mình làm mà không có quyền lợi chẳng khác nào nô lệ với vua».
Nhiều khi công nhân không có người đại diện thì họ sẽ bị chia rẽ, không kết hợp lại. Mình cũng nghĩ là cần một ai đó đại diện, nhưng mà chưa biết bắt đầu từ đâu thôi.
- Chị Thu 
Từ lúc Bộ luật Lao Động Việt Nam ra đời tháng 1/1995 cho đến năm 2012 đã có trên 5000 cuộc đình công. Phần lớn xảy ra tại các công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Và tất cả các cuộc đình công đều do công nhân tự phát, chưa có cuộc đình công nào do Tổng Liên đoàn lao động - một cơ quan chính thức đại diện cho công nhân Việt Nam - đứng ra tổ chức. Khi sự bức xúc của công nhân đã lên đến đỉnh điểm, một số công nhân dấu mặt đã thúc đẩy cuộc đình công. Từ cuộc đình công của 90.000 công nhân Pouyen cũng như cuộc đình công vừa qua của công ty Pouchen cũng đều do những công nhân ẩn danh đứng ra kêu gọi. Chị Gương, một công nhân làm việc tại công ty này kể lại:
«Em đang làm thì có một số công nhân ở các xưởng khác ào vào, không cho làm nữa, muốn làm nữa cũng không được, người ta đâu có cho mình làm đâu, họ tắt hết điện rồi».
Dù là những cuộc đình công tự phát, nhưng cũng đưa đến những thành quả nhất định: Từ cuộc đình công 5 ngày của công nhân Pouyen năm 2015 kết quả Quốc Hội phải sửa đổi luật Bảo Hiểm Xã Hội cho đến cuộc đình công 3 ngày của công ty Pouchen vừa qua đã buộc công ty phải nhượng bộ trước áp lực của  17.000 công nhân, chiếm trên ¾ tổng số công nhân của công ty. Sự thành công này theo công nhân là do sự đoàn kết của số đông công nhân. Chị Thu đánh giá:
«Thì do mọi người hợp tác với nhau. Theo cái đánh giá là thành công».
Và cũng do sự quyết tâm của công nhân như nhận định của chị Nga:
«Nói chung là công nhân quyết tâm là quyết tâm hết, như vậy đó!»
Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, một cơ quan trực thuộc đảng Cộng sản Việt Nam, với nhiều đại diện ở các công ty nhưng cho tới nay vẫn chưa thực hiện đúng vai trò bảo vệ quyền lợi cho công nhân. Mặc dù hàng tháng, công nhân vẫn phải đóng tiền cho cán bộ công đoàn hoạt động, nhưng về hiệu quả giúp đỡ công nhân thì hầu như không có. Chị Nga cho biết:
«Thì cũng có công đoàn đại diện, công nhân cũng có viết đơn, nhưng rồi dòm, dòm, ngó, ngó rồi đâu cũng vào đó thôi».
Tuy vậy, về phần công nhân vẫn chưa vượt qua được nỗi sợ của mình để tự đứng lên bảo vệ cho quyền lợi của chính họ. Chị Nga chia sẻ:
«Công nhân đâu có dám tự nguyện tự giác đâu, nhiều khi công ty có mời thì mới nói thôi chứ… Công nhân nó không dám, thật sự là công nhân không dám. Nhiều cái bức xúc thì chỉ có nói với nhau vậy thôi. Nhiều khi tập hợp lại, có ý kiến nào đó nhưng sợ, nhát … !! »
Mặc dù đã ký kết hiệp định TPP, nhưng việc các tổ chức độc lập bảo vệ quyền lợi cho người lao động ra hoạt động công khai vẫn còn gặp nhiều nguy hiểm. Vừa qua, thành viên của tổ chức Lao Động Việt- một tổ chức vận động thành lập nghiệp đoàn độc lập tại Việt Nam -  đã bị công an đánh đập khi giúp công nhân Yupoong, việc tiếp cận công nhân để truyền đạt kiến thức về nghiệp đoàn là vô cùng khó khăn, gặp nhiều cản trở. Nhiều công nhân nghĩ đến chuyện phải tự bầu lấy người đại diện cho mình, tuy nhiên, vì không có người hướng dẫn nên họ cũng chưa biết phải bắt đầu từ đâu. Chị Thu nói:
«Nhiều khi công nhân không có người đại diện thì họ sẽ bị chia rẽ, không kết hợp lại. Mình cũng nghĩ là cần một ai đó đại diện, nhưng mà chưa biết bắt đầu từ đâu thôi».
Sau hơn 4 tháng kết thúc đàm phán hiệp định xuyên Thái Bình Dương (TPP), người ta vẫn chờ đợi Việt Nam ra một bộ luật rõ ràng về việc tự do lập hội, trong đó việc cho thành lập những nghiệp đoàn độc lập là một trong những điều kiện tất yếu của hiệp định này. Tuy nhiên, điều đó, cho tới nay vẫn chưa thấy Hà Nội thể hiện cụ thể.
T.A.

Thứ Tư, 2 tháng 3, 2016

“Sự kiện bi thảm Katyn”

“Sự kiện bi thảm Katyn”.

Nguồn:Tìm hiểu lực sử chiến tranh

Trong những năm tháng tồn tại, Liên Xô đã có không ít bí mật, trong đó, có những bí mật có khả năng ảnh hưởng đến uy tín và an ninh quốc gia; vì thế, được che chắn, bảo vệ một cách hết sức cẩn trọng với nỗ lực của cả hệ thống chính trị. Chỉ sau khi Liên bang Cộng hòa XHCN Xô-viết sụp đổ, với độ lùi thời gian và dưới tác động của các yếu tố khách quan, chủ quan, những bí mật đó mới dần được hé lộ. Một trong những bí mật như vậy có tên gọi “Sự kiện bi thảm Katyn”.

1- Sự biến mất đầy bí ẩn của những tù binh Ba Lan

Cho đến mùa Hè năm 1939, I.V. Stalin có đầy đủ lý do để nghi ngờ Pháp và Anh không thực sự muốn liên minh quân sự với Liên Xô. Việc Ba Lan từ chối cho phép Hồng quân đóng trên đất Ba Lan trở thành trở ngại chính cho việc phòng thủ của Liên Xô; việc hình thành liên minh Nga-Anh-Pháp bảo vệ Ba Lan khó thành hiện thực… những diễn biến đó khiến lãnh đạo Liên Xô ngả sang đề nghị an ninh của Hitler. Ngày 23-08-1939, Ngoại trưởng V.M. Molotov đại diện cho Liên Xô và Ngoại trưởng J.V.Ribbentrop – đại diện cho nước Đức Quốc xã ký kết Hiệp ước không xâm lược lẫn nhau (còn được biết đến dưới cái tên Molotov–Ribbentrop hay Hiệp ước Hitler-Stalin) kèm với một Nghị định thư bí mật. Ngoài việc cam kết kiềm chế không tấn công lẫn nhau và giữ thái độ trung lập trong trường hợp một trong hai bên trở thành mục tiêu những hành động quân sự của bên thứ ba bất kỳ, Liên Xô và Đức còn thống nhất phân vùng ảnh hưởng đối với các nước Phần Lan, Estonia, Latvia, Lithuania, Roman; đồng thời, thỏa thuận phân chia Ba Lan. Ngày 1-9-1939, Đức tấn công Ba Lan và ngày 17-9-1939, Hồng quân Liên Xô tiến vào miền Đông Ba Lan, việc phân chia lãnh thổ của Ba Lan giữa Liên Xô và Đức được hoàn thành – điều đó cũng có nghĩa là cần “thiết lập những trật tự nhất định” tại Ba Lan. Bắt đầu từ thời điểm đó, những sĩ quan Ba Lan bất hợp tác với Liên Xô, những cảnh sát, hiến binh, điệp viên, chủ xưởng, chủ đất, viên chức chính quyền cũ, thậm chí cả những người tị nạn, dân thường Ba Lan… được chuyển đến giam giữ tại các trại đặc biệt ở vùng Ostashkov, Kozielsk và Starobilsk (Liên Xô), song không được hưởng những quy chế Công ước Geneva đối với tù binh.

Một khoảng thời gian sau đó, những tù binh này bỗng bặt tin,“biến mất” một cách bí ẩn, thân nhân không còn nhận được tin tức của họ, thư từ, quà, bưu phẩm gửi cho các tù binh đều bị chuyển trả lại. Mọi nỗ lực tìm kiếm thông tin về các tù binh, về nơi họ bị giam giữ đều rơi vào vô vọng. Tháng 11-1941, trong dịp tiếp kiến I.V.Stalin, Đại sứ Ba Lan Stanislaw Kot đã hỏi về số phận những tù nhân Ba Lan, song I.V.Stalin lảng tránh trả lời bằng cách thay đổi chủ đề câu chuyện. Tháng 12-1941, một lần nữa,Tướng Wladislaw Anders – Tổng tư lệnh Quân đội Ba Lan quay trở lại vấn đề trên, song I.V.Stalin một mực khăng khăng: “Những tù binh Ba Lan đã được ân xá hết, có thể do những khó khăn về phương tiện giao thông, nên họ chưa thể về tới Ba Lan”[1]. Cho tới mùa Xuân năm 1942, số phận các tù nhân Ba Lan là chủ đề của nhiều cuộc thảo luận giữa chính phủ Liên Xô và Ba Lan. Nhiều lần, I.V.Stalin khẳng định dứt khoát: “Không có bất kỳ một người Ba Lan nào trong các nhà tù, trại tạm giam của Liên Xô, ngoại trừ những tù hình sự hoặc những tội phạm có dính líu đến phát-xít Đức”[2]. Thậm chí, có lần I.V.Stalin còn nói rằng, số tù binh này đã trốn thoát tới Mông Cổ[3] (?!).Ngày 28-1-1942, Bộ trưởng Rachinsky thay mặt chính phủ Ba Lan trao cho Đại sứ Liên Xô Bogomolov Bản ghi nhớ về sự mất tích khó hiểu của hàng chục ngàn sĩ quan và công dân Ba Lan. Đáp lại, câu trả lời từ phía Liên Xô vẫn hết sức mập mờ, mâu thuẫn.
Sự biến mất phi lý của hàng chục ngàn con người khiến ngày càng có nhiều tổ chức kháng chiến Ba Lan vào cuộc. Các nỗ lực điều tra trở nên tích cực hơn từ năm 1943, có điều, chính quyền Xô-viết – từ đầu đến cuối – vẫn bác bỏ mọi giả thuyết về trách nhiệm và sự can dự của mình.

2- Những bí mật dần phát lộ

Năm 1943, quân đội Đức Quốc xã tìm thấy hàng loạt ngôi mộ tập thể tại rừng Katyn (cách thành phố Smolensk 18 km về phía Tây) sau khi chiếm đóng khu vực nàyvào năm 1941. Trong những ghi chép của mình, Bộ trưởng Tuyên truyền Đức J. Goebbels gọi sự kiện này là “món quà hiếm có của số phận”, “con át chủ bài”, đảm bảo cho một chiến dịch tuyên truyền nhiều mặt chống lại Liên Xô. Quả bom Katyn “đủ để gây ra một đòn đau đớn, đánh mạnh vào tâm tư, tình cảm của những người dân Ba Lan ủng hộ liên minh chống phát-xít, nổ tung vào mối liên kết lỏng lẻo giữa chính phủ Liên Xô và Ba Lan”[4].

Ngày 18-2-1943, người Đức bắt đầu đào các ngôi mộ tập thể, đến ngày 13-4-1943, có chừng 400 thi thể được khai quật. Cũng trong ngày 13-4-1943, Đài phát thanh Berlin đưa tin nước Đức tìm thấy hơn 10.000 thi thể các sĩ quan Ba Lan bị giết tại vùng Katyn, khẳng định “đây chính là thi thể các sĩ quan Ba Lan bị Liên Xô bắt làm tù binh khi chiếm đóng miền Đông Ba Lan”[5]. Ngày 17-4-1943, chính phủ Ba Lan lưu vong ra Tuyên bố “lên án mọi tội ác chống lại các công dân Ba Lan”[6], yêu cầu chính phủ Liên Xô một lời giải thích về vụ việc này và đề nghị Hội Chữ thập đỏ quốc tế tham gia làm rõ vấn đề. Ngày 21-4-1943, TASS ra Tuyên bố với lập trường cứng rắn: “Một chiến dịch chống Liên Xô bắt đầu trên báo chí Đức và Ba Lan – thực tế này cho thấy chiến dịch bôi nhọ Liên Xô được tiến hành bởi sự thỏa thuận bẩn thỉu với những kẻ xâm lược Đức”[7]. Trong một động thái quyết liệt hơn, lãnh đạo Liên Xô đã cảnh báo các đồng minh Anh và Mỹ về ý định cắt đứt quan hệ ngoại giao với chính phủ Ba Lan Sikorski, với lý do: “Thời gian gần đây, hành vi của Chính phủ Ba Lan đối với Liên Xô hoàn toàn bất thường, phá vỡ tất cả các quy tắc và chuẩn mực của quan hệ đồng minh. Chiến dịch vu khống chống Liên Xô được phát xít Đức đưa ra liên quan đến việc các sĩ quan Ba Lan bị giết trong khu vực Smolensk, trên lãnh thổ Đức chiếm đóng, lập tức được chính phủ Ba Lan nắm lấy và thông tin rầm rộ trên báo chí (…). Tất cả những điều đó khiến chính phủ Liên Xô không thể không nhận thấy chính phủ Ba Lan đang đi vào con đường thông đồng với chính phủ Hitler, muốn chấm dứt quan hệ đồng minh và trở nên thù địch với Liên Xô”[8]. Quả thật, J. Goebbels đã dự đoán không sai, “quả bom chính trị Katyn” đã phát nổ, vấn đề Katyn trở thành một trong những “điểm đau đớn” trong quan hệ Liên Xô – Ba Lan không chỉ tại thời điểm đó, mà còn mãi về sau này.

Với mục tiêu hạ uy tín và tuyên truyền về sự tàn bạo của Liên Xô đối với tù binh, ngày 16-4-1943, phía Đức mời Hội Chữ thập đỏ quốc tế và đại diện một số tổ chức xã hội Ba Lan trong vùng bị phát-xít Đức chiếm đóng đến tham dự việc khai quật và khám nghiệm tử thi tại 8 ngôi mộ tập thể. Trong số các xác chết được khai quật, người ta tìm thấy tử thi hai vị tướng Ba Lan Bronisław Bohatyrewicz và Mieczysław Smorawiński. Từ ngày 15-4 đến ngày 15-6-1943, tổng cộng hơn 4.100 xác chết được khai quật; 2.800 tử thi được nhận dạng[9]. Công việc thu thập tư liệu và nhận dạng tử thi được tiến hành một cách khoa học, chú trọng luận giải cách thức và loại hình hung khí thực hiện thảm sát. Đã thu thập được nhiều luận cứ chứng minh cho sự vô tội của người Đức: Những thư từ còn lại trong thi thể các nạn nhân đều có thời gian dừng lại ở năm 1940; tuổi của những cây cối mọc trên mộ, các chỉ số đo đạc phân tử canxi trên hộp sọ tử thi… đều cho chung một kết quả về thời điểm của vụ thảm sát – năm 1940, khi mà người Đức chưa có mặt ở vùng này.

Ngày 3-6-1943, việc khai quật bị dừng lại do diễn biến chiến sự, nhưng những phân tích, kết luận của toàn bộ quá trình đã được nước Đức kịp xuất bản thành “Tập tài liệu chính thức về vụ thảm sát tại Katyn” (Amtliches Material zum Massenmord von Katyn, Berlin, 1943), khẳng định Liên Xô phải chịu hoàn toàn tránh nhiệm về cái chết của 11.000 tù nhân Ba Lan[10]. Tài liệu này được dịch ra hầu hết các ngôn ngữ châu Âu, lưu hành trên các vùng Đức chiếm đóng và ở các nước đồng minh của Đức.
Sau khi Hồng quân tiến vào vùng Smolensk và đẩy lùi quân đội Đức, Liên Xô thành lập một Ủy ban đặc biệt điều tra tội ác của quân đội phát-xít Đức trong rừngKatyn. Tháng 1-1944, Ủy ban này công bố một loạt “chứng cứ” chứng minh vụ thảm sát Katyn là do quân đội Đức gây ra. Năm 1945, I.V. Stalin quyết định tháo “nút thắt Katyn” bằng cách đưa vụ thảm sát ra Toà án Quân sự tại Nürnberg. Công tố viên Liên Xô, Tướng R.A. Rudenco đã buộc tội phát xít Đức thảm sát 11.000 tù binh Ba Lan tại Katyn; tuy nhiên, Toà án Quân sự tại Nürnberg đã không đi đến một phán xét chung cuộc, vì phía Liên Xô không đưa ra được những bằng chứng thuyết phục. Ngày 22-12-1955, sau nhiều nỗ lực vận động của cộng đồng người Ba Lan tại Mỹ, một Ủy ban của Thượng viện Hoa Kỳ đề nghị chính phủ Hoa Kỳ đưa vụ Katyn lên Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc và buộc tội Liên Xô trước Tòa án Quốc tế (International Court of Justice) tại Netherlands, song đề nghị này không được chính phủ Mỹ chấp thuận.

Năm 1953, I.V. Stalin chết, bắt đầu “thời kỳ tan băng

Khrushchev”, thắp lên hy vọng về một kỷ nguyên mới trong quan hệ quốc tế giữa các nước xã hội chủ nghĩa, song để đảm bảo “sự thống nhất và đoàn kết”, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô N. Khrushchev đã không vượt qua “phương pháp áp lực trực tiếp” đối với nước láng giềng Ba Lan; vì thế, “vấn đề Katyn” không thể khêu lên. Phục vụ mục tiêu nói trên, cuối những năm 50 (XX), dưới chỉ đạo của N. Khrushchev, A.Shlepin[11] đã bí mật nghiên cứu hồ sơ vụ Katyn. Ngày 3-03-1959, A.Shlepin đệ trình Văn bản N-632-SH (Н-632-Ш), kiến nghị tiêu huỷ 21.857 cặp tài liệu về các nạn nhân Katyn – những tài liệu như A.Shlepin giải thích, chẳng những “không có bất kỳ ý nghĩa thực tiễn cũng như giá trị lịch sử đối với chính phủ Liên Xô (…) và có lẽ chúng cũng không phải là mối quan tâm thực sự đối với những bạn bè Ba Lan”[12]; trái lại, nếu ngẫu nhiên bị phát hiện, “có thể dẫn đến những hậu quả vô cùng bất lợi cho Nhà nước Xô-viết”[13]. A. Shlepin đề nghị giữ lại những hồ sơ quan trọng nhất: “Biên bản cuộc họp Troika[14] NKVD đồng ý xử bắn tù binh Ba Lan và những văn bản thực hiện quyết định đó. Do khối lượng của các tài liệu này không đáng kể, nên có thể lưu trữ chúng trong một cái cặp đặc biệt (…) phòng trường hợp phát sinh những chất vấn từ Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô hoặc chính phủ Liên Xô”[15]. Ngay sau đó, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã chuẩn y đề nghị của A. Shlepin, chỉ giữ lại những hồ sơ quan trọng, được tập hợp thành một bộ “Hồ sơ đặc biệt № 1”. “Hồ sơ đặc biệt № 1” được bảo quản theo chế độ tuyệt mật và chỉ những người lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Liên Xô mới có quyền tiếp cận.

Trong những năm 1971-1976, một số nước phương Tây (đặc biệt là nước Anh) liên tục đòi làm sáng tỏ vụ việc Katyn, đề nghị đưa ra Tòa án Quốc tế tại Netherlands. Phản ứng với “chiến dịch chống đối, bôi nhọ Nhà nước Xô viết dựa trên việc bóp méo sự thật lịch sử về các thủ phạm thực sự của thảm kịch Katyn, nhằm làm căng thẳng tình hình quốc tế”[16] – như Liên Xô nhiều lần khẳng định, năm 1978, Liên Xô dựng bia tưởng nhớ nạn nhân tại Katyn với dòng chữ: “Nạn nhân của chủ nghĩa phát xít – những sĩ quan Ba Lan bị bắn chết bởi quân đội Hitler năm 1941”.
Cho đến trước khi Liên Xô thực hiện cải cách (perestroika) năm 1986, “câu chuyện Katyn” vẫn là điều húy kị, nhạy cảm, bị nghiêm cấm nhắc tới trong các tranh luận xã hội với lý do “ảnh hưởng tiêu cực đến tình cảm dân tộc và tình hữu nghị Liên Xô-Ba Lan (…) gây nên những “vết đen” trong quan hệ hai nước”[17].
Tiến hành “perestroika”, thực hiện “glasnost”, với “người đồng minh Ba Lan”, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô M.

Gorbachev đặt mục tiêu “phát triển quan hệ chặt chẽ, vững chắc, đoàn kết, hỗ trợ lẫn nhau nhằm cùng tiến hành cải cách một cách tối ưu”[18]. Trong tiến trình thắt chặt toàn diện quan hệ Liên Xô – Ba Lan, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô M. Gorbachev và Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Ba Lan W.Jaruzelski ký Hiệp định về hợp tác Liên Xô – Ba Lan trong lĩnh vực tư tưởng, văn hóa và khoa học (1986); theo đó, hai bên “chú trọng cùng nghiên cứu lịch sử quan hệ giữa hai nước, hai Đảng, hai dân tộc, không để tồn tại “những vết đen” trong lịch sử hai nước, nhằm tăng cường tình đoàn kết, chống lại những luận điệu chia rẽ”[19]. Trên quan điểm “không để lịch sử đốt lên hận thù dân tộc”, W.Jaruzelski bày tỏ mong muốn “những trang sử quan hệ Liên Xô – Ba Lan phải được nhìn nhận một cách thực sự cởi mở và trung thực”[20]. Tiếp nối dòng chảy sự kiện, ngày 19-5-1987, tại Moscow diễn ra phiên họp toàn thể đầu tiên Ủy ban Liên Xô – Ba Lan về lịch sử quan hệ song phương, “vấn đề Katyn” được đưa vào chương trình nghị sự, song những nghiên cứu về sự kiện này diễn tiến khá trì trệ, “bí mật Katyn” được khai lộ một cách chậm chạp, bị chi phối bởi tư tưởng giáo điều, bởi các yếu tố chính trị trong nội bộ mỗi nước và trong quan hệ Liên Xô – Ba Lan. Đến ngày 13-4-1990, sau rất nhiều chần chừ, một số tư liệu lưu trữ liên quan đến sự kiện Katyn mới được chuyển giao cho Tổng thống W.Jaruzelski nhân chuyến thăm Liên Xô. Ngày 13-4-1990, TASS ra Tuyên bố chính thức thừa nhận trách nhiệm của Liên Xô trong “thảm kịch Katyn”[21], nói rõ: “Tài liệu tìm thấy trong kho lưu trữ cho phép kết luận về vai trò, trách nhiệm của Beria, Merkulov và các đồng sự”[22]. TASS đồng thời bày tỏ sự hối tiếc sâu sắc về sự kiện bi thảm Katyn, gọi đó là “một trong những tội ác khủng khiếp nhất của chủ nghĩa Stalin”[23].

Tháng 6-1991, B. Yeltsin trở thành Tổng thống Liên bang Nga và ngay lập tức đã nhận thấy “vấn đề Katyn” – vào thời điểm đó – có thể có lợi cho những diễn biến chính trị nội bộ của nước Nga liên quan đến việc xóa bỏ Điều 6 trong Hiến pháp về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đặt Đảng Cộng sản Liên Xô ra ngoài vòng pháp luật[24]. “Hồ sơ Katyn” chính là một chứng cứ thuyết phục cho B.Yeltsin “luận tội” chủ nghĩa Stalin và Đảng Cộng sản Liên Xô. Nhằm chứng minh cho tính bất hợp pháp củaĐảng Cộng sản Liên Xô, theo lệnh của B.Yeltsin, kho lưu trữ tư liệu Đảng Cộng sản Liên Xô được mở, hơn 6.000 các tài liệu tuyệt mật được giải mã, kể cả bộ sưu tập tài liệu về vụ thảm sát Katyn[25]. Ngày 24-9-1992, “Hồ sơ đặc biệt № 1” được mở ra và trước tính chất nghiêm trọng của nó, Tổng thống B.Yeltsin đã có một quyết định nhanh chóng: Lệnh chuyển ngay lập tức toàn bộ những tài liệu “chết người” này cho Ba Lan; đồng thời, chuyển một bản sao đến Tòa án Hiến pháp và Viện kiểm sát tối cao[26].Ngày 14-10-1992, “Hồ sơ đặc biệt № 1” được đại diện chính phủ Nga trao cho Tổng thống Ba Lan Walesa và nội dung của nó nhanh chóng được công bố trước công luận Ba Lan. Sau sự kiện này, ngày 15-10-1992, trả lời phỏng vấn của Đài truyền hình Ba Lan, B.Yeltsin “hào hứng nói về những tội ác khủng khiếp của chủ nghĩa Stalin, bày tỏ hy vọng rằng nó sẽ không còn là điểm nghẽn trong quan hệ song phương Nga – Ba Lan”[27].

3- Toàn cảnh sự kiện

Những diễn giải trên đây cho thấy, đến trước năm 1992, trên các văn bản chính thức của Liên Xô, kẻ bị buộc tội gây ra vụ thảm sát Katyn là quân đội Đức Quốc xã. Chỉ đến năm 1992 (khi Liên bang Cộng hòa XHCN Xô-viết sụp đổ một năm), sau rất nhiều toan tính chính trị, Liên bang Nga mới công bố những tài liệu trong bộ “Hồ sơ đặc biệt № 1” về vụ thảm sát Katyn[28]. Giải mã bộ Hồ sơ, câu chuyện về vụ thảm sát Katyn được hình dung như sau:

Ngày 3-3-1940, L.Beria[29] gửi đến Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (b) Văn bản № 794/B[30], báo cáo: “Trong các trại giam và trại tạm giam ở phía Tây Ucraina và Tây Belaruxia hiện đang giam giữ một số lượng lớn các sĩ quan cũ của quân đội Ba Lan, cảnh sát Ba Lan, các nhân viên tình báo, thành viên các tổ chức phản cách mạng, người tị nạn, lực lượng nổi dậy và một số người khác (…) tất cả bọn họ đều là kẻ thù truyền kiếp, chứa đầy thù hận với chính quyền Xô viết”[31]. L.Beria khẳng định: “Những tù binh này dù đang bị giam giữ song vẫn cố gắng, nỗ lực tiếp tục tuyên truyền chống Liên Xô và chỉ chờ được phóng thích là sẵn sàng tích cực tham gia vào cuộc chiến chống lại chế độ Xô viết”[32]. L.Beria thống kê: “Trong các trại giam tù binh chiến tranh hiện giam giữ tổng cộng (không tính các binh sĩ và hạ sĩ quan) 14.700[33] tù binh người Ba Lan gồm các quan chức của bộ máy chính phủ, các chủ đất, cảnh sát, điệp viên, hiến binh, cai ngục; trong số đó, 97% mang quốc tịch Ba Lan (…). Ở trại giam ở vùng miền Tây Ukraina và Belorusia có tổng cộng 18.632[34] người bị bắt giữ (trong đó có 10.685 người Ba Lan”[35]. Sau khi kết luận rằng, “xuất phát từ thực tế bọn họ đều là những kẻ thù sắt đá không đội trời chung với chính quyền Xô-viết, không có khả năng cải hóa”, L.Beria đề nghị “giao cho NKVD xem xét, giải quyết, xử lý toàn bộ 14,700 trường hợp tù binh Ba Lan và 11.000 trường hợp tù binh tại các nhà tù phía Tây Ukraine và Tây Belorussia bằng các thể thức đặc biệt với hình thức trừng phạt cao nhất (…), không cần bất kỳ một cuộc hỏi cung, xét xử, luận tội và kết án chính thức”[36]. L.Beria đề cử giao cho L.Beria, V.Merkulov và L.Bashtakov thực hiện quyết định nêu trên[37].

Xem xét đề nghị của L.Beria, ngày 5-3-1940, một số thành viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (b) biểu quyết thông qua Quyết định No.13/144(gồm I.V.Stalin, K.Voroshilov, V. Molotov và A.Mikoyan[38], kèm ghi chú: M.Kalinin – đồng ý; L.Kaganovich – đồng ý)[39], chuẩn y đề nghị của L.Beria xử bắn toàn bộ số tù binh Ba Lan đang bị giam giữ; giao trách nhiệm hoàn tất công việc cho “bộ ba” V.Merkulov, B.Kobulov và L.Bashtako[40].

Ngày 22-03-1940, L. Beria ký Sắc lệnh No. 00350, “Về việc sơ tán các nhà tù của Cộng hòa XHCN Ukraina và Cộng hòa XHCN Belorusia”, chỉ đạo thực hiện một kế hoạch thảm sát lớn nhất và ghê rợn nhất lịch sử thế giới thế kỷ XX, mang mật danh “Chiến dịch giảm tải trại tù”[41].

Chưa đầy một tháng sau quyết định nói trên, các công việc chuẩn bị cho cuộc thủ tiêu tù bình Ba Lan được xúc tiến khẩn trương. NKVD lên kế hoạch vận chuyển tù nhân đến chỗ xử bắn: Các tù nhân đang bị giam giữ tại vùng phía Tây Ukraina được chuyển tới Kharkov, Kherson và Kiev, các tù nhân ở Belorusia được chuyển về Minsk, còn các tù nhân ở Ostashkov được chuyển tới Kalinin. Ở làng Mednoye, không xa Kalinin, các máy xúc bắt đầu đào những chiếc hố lớn.
Đầu tháng 4-1940, những chuyến xe chở tù nhân bắt đầu lăn bánh, mỗi đợt, vận chuyển khoảng từ 350-400 tù nhân. Các tù nhân không hay biết mình đang bị đem đến chỗ chết, thậm chí nhiều người còn vui mừng ngỡ rằng sẽ được trả tự do. Ghi chép của một tù nhân – Thiếu tá Solxki Adam (được chuyển đi từ trại Kozelski ngày 7-4-1940) về những giây phút thương tâm cuối cùng đã nói lên điều đó:

Ngày 20-4. 12 giờ, chúng tôi đang ở phía Tây Smolensk. Ngày 21-4. Chúng tôi bị đánh thức, được đưa lên những chiếc xe ôtô và được mang đi đâu đó. Ngay từ buổi sáng, mọi việc đã có vẻ bất thường (…). Chúng tôi được đưa tới một khu rừng giống như khu nghỉ dưỡng mùa hè, bị lục soát một cách kỹ lưỡng, bị tịch thu nhẫn cưới, thắt lưng, dao nhíp, đồng hồ – lúc đó đồng hồ đang chỉ 6h30 phút sáng…[42].

“Đồng hồ dừng lại ở 6h30 phút sáng” – những “bản án” được thực hiện một cách lạnh lùng. Các tù nhân ở Kharkov và Kalinin bị bắn ngay trong nhà tù. Tại Katyn, tù nhân bị dẫn đến trước những hố to đã đào sẵn và bị bắn vào đầu ở cự ly gần bằng những khẩu súng lục, chủ yếu là súng Đức – “Walter” và “Browning” (đó cũng là một trong những cơ sở để sau này Liên Xô đổ lỗi cho quân đội Đức là thủ phạm).

Vụ xử bắn tù nhân kéo dài đến giữa tháng 5-1940 và diễn một cách suôi sẻ: Tại khu rừng gần làng Katyn cũng như trong một số trại giam trên đất nước Liên Xô, chỉ trong vài tuần đã có gần 22.000 tù nhân – công dân Ba Lan bị giết chết theo lệnh của Ủy ban Nhân dân Nội vụ. Sau khi “Chiến dịch giảm tải trại tù” kết thúc, “đã xử bắn 21.857 người; trong đó: 4.421 bị bắn tại Katyn (vùng Smolensk), 3.820 người bị bắn tại trại Starobelsk gần Kharkov, 6.311 người bị bắn tại trại Ostashkov (vùng Kalinin), 7.305 người bị bắn chết trong các nhà tù phía Tây Ukraine và Tây Belorusia”[43].

Vụ thảm sát không chỉ diễn ra ở Katyn, nhưng thuật ngữ “Thảm sát Katyn” được gọi chung cho việc giết hại các tù nhân Ba Lan (đa phần là tầng lớp tinh hoa, sĩ quan từ cấp tá trở lên) vì vụ nổ súng tại làng Katyn xảy ra trước nhất. Sau đó, việc sát hại 7.000 người (trong số đó có 1.000 sĩ quan cao cấp Ba Lan) bị Liên Xô giam giữ trong các nhà tù ở miền Tây Ukraina và Belorusia cũng được gắn với cái tên “Thảm sát Katyn”.

4- Câu chuyện chưa kết thúc

Sau rất nhiều nỗ lực và biến động chính trị, cuối cùng, sự thật về một thảm kịch khủng khiếp trong lịch sử cũng đã dần phơi tỏ. Tại nước Nga, năm 1993, tư liệu Hồ sơ Katyn được đăng tải trên Tạp chí khoa học “Câu hỏi của lịch sử” (Вопросы истории); đồng thời, Nhà nước Nga tạo điều kiện cho các nhà khoa học nghiên cứu Hồ sơ[44]. Cũng từ thời điểm đó, các nhà khoa học Nga và Ba Lan nỗ lực điều tra, làm rõ nhiều vấn đề xung quanh vụ thảm sát Katyn. Tháng 8-1993, những kết quả điều tra ban đầu được công bố trong công trình “Nước Nga và Katyn” (Nxb. Karta, Ủy ban Khoa học toàn Ba Lan tài trợ)[45]. Năm 1995, các nhà khoa học Liên bang Nga và Ba Lan xuất bản ấn phẩm “Katyn: Tư liệu tội ác”[46]. Năm 1999, toàn bộ những tư liệu quan trọng tiếp tục được công bố trong cuốn “Katyn: Những tù binh của cuộc chiến không tuyên bố. Hồ sơ và tư liệu”[47].

Những năm 1990-2004, Viện Kiểm sát quân sự tối cao Liên Xô (từ năm 1992 là Viện Kiểm sát quân sự tối cao Liên bang Nga) thực hiện nhiệm vụ điều tra thảm họaKatyn; trong quá trình đó, Viện Công tố đã tiến hành 18 cuộc khảo sát, nghiên cứu hơn 1.000 đối tượng, khai quật 200 thi thể và phỏng vấn hơn 9.000 nhân chứng[48]. Kết quả điều tra được lưu giữ trong 183 tập hồ sơ, song chỉ có 116 tập được công bố đầy đủ. Ngày 11-3-2005, Viện Kiểm sát Quân sự tối cao Liên bang Nga chính thức tuyên bố chấm dứt điều tra, xem vụ Katyn là tội phạm thông thường, “không đủ cơ sở để coi vụ thảm sát ở Katyn là diệt chủng” vì tính chất của nó không nhằm vào sự phân biệt đối xử với người dân Ba Lan và đã quá thời hạn hiệu lực hồi tố[49]. Ngày 10-4-2010, nguyên Tổng thống Ba Lan Lech Kaczynski cùng phu nhân và 94 quan chức đã tử nạn bởi một tai nạn máy bay ở Smolensk, khi thực hiện chuyến công du dự lễ tưởng niệm Katyn. Trong một động thái chia sẻ nỗi đau vì cái chết của Tổng thống Ba Lan và Đoàn quan chức tháp tùng, ngày 8-5-2010, Tổng thống Nga D.Medvedev trao cho người đồng cấp Ba Lan B. Komorowski 67 tập tài liệu mật về vụ thảm sát Katyn, hứa sẽ trao tiếp tài liệu và những thông tin liên quan. Năm 2010, trong Lễ kỷ niệm 65 năm chiến thắng phát-xít, Tổng thống Nga D.Medvedev đã nhắc đến “tội ác Katyn”, gọi đây là một “trang đen tối của lịch sử”.
Ngày 25-11-2010, với tỉ lệ ủng hộ là 342/450, Quốc hội Liên bang Nga bỏ phiếu thừa nhận vụ thảm sát hàng chục ngàn công dân và sĩ quan Ba Lan là do lực lượng công an Liên Xô thi hành[50]. Quyết định của Quốc hội Nga được người dân Ba Lan đánh giá cao, coi “Nghị quyết lịch sử” này không chỉ quan trọng đối với người Ba Lan, mà còn đối với quan hệ Nga – Ba Lan, cũng như với bản thân người Nga.

Ngày 21-10-2013, tương tự như trong phán quyết cấp sơ thẩm năm 2012, trong một phán quyết chung cuộc về vụ thảm sát Katyn, Tòa án Nhân quyền châu Âu (trụ sở tại Strasbourg) tuyên bố không có thẩm quyền phán quyết về các trường hợp giết người “xảy ra 58 năm trước khi Công ước Châu Âu về nhân quyền có hiệu lực tại Nga từ năm 1998”[51]. Tuy nhiên, 17 thẩm phán của thuộc Đoàn thẩm phán tối cao Tòa án Nhân quyền châu Âu đã phê phán Nga về tội “thiếu tường trình tích cực” đối với số phận các tù nhân Ba Lan tại Katyn bị Liên Xô tử hình vào năm 1940; nhất trí lên án: “Nga thiếu sót trong nghĩa vụ hợp tác với Toà án Châu Âu, miễn cưỡng trong việc cung cấp đầy đủ các chứng cứ cho việc xem xét vụ án”[52].

Nhìn chung, người dân Ba Lan không hài lòng và không thỏa mãn với những tuyên bố của Viện Kiểm sát quân sự tối cao Liên Xô cũng như Tòa án Nhân quyền châu Âu. Phía Ba Lan trước sau nhất quán quan điểm: Vì tính chất giết người hàng loạt, những cuộc thảm sát này thích hợp để quy vào tội ác chống nhân loại; mong muốn nước Nga “có những cử chỉ thiện chí và chân thành hơn”, chính thức xin lỗi và bồi thường cho gia đình các nạn nhân.

Có thể thấy rằng, Nhà nước Liên bang Nga chỉ dừng lại ở mức độ công nhận vụ thảm sát Katyn là lỗi của “chế độ toàn trị Stalin”, không muốn đi xa hơn điều đó. Mặc dù thừa nhận “đây là tội ác không có lời bào chữa”, song Nhà nước Liên bang Nga tìm cách lý giải làm nhẹ bớt vấn đề[53], chỉ dừng lại ở những việc như giải mật hồ sơ, công bố sự thật, thừa nhận là tội ác của “chế độ toàn trị Stalin”…, coi đó như là những hành động mang tính thực tế (đã thừa nhận).

Vẫn chưa có một kết cục cuối cùng cho “vấn đề Katyn” – một kết cục vừa có thể xoa dịu nỗi đau, chữa lành nỗi ám ảnh của thân nhân những người bị thảm sát, lại vừa có thể thỏa mãn được nước Nga hiện đại đang có những tranh luận khác nhau về quá khứ, nhằm cổ vũ cho những giá trị trường tồn, khơi dạy lòng tự hào dân tộc, phục vụ mục tiêu chấn hưng đất nước, khôi phục vị thế cường quốc[54].

Tổng hợp!

#Ad69

Thứ Ba, 1 tháng 3, 2016

Nguyễn Tấn Dũng thật sự là một tên bất tài và đã "chết"!

Nguyễn Tấn Dũng thật sự là một tên bất tài và đã "chết"!

noreply@blogger.com (Danlambao 2012)Mon 12:53 AM


Nguyên Thạch (Danlambao) - Những tưởng rằng với hố sâu tội lỗi, Nguyễn Tấn Dũng có thể hối cải để đổi công chuộc tội. Nhưng không, ông không làm gì cả, ngay cả với việc tự cứu ông. Ông không thể làm được những việc rất cần thiết này vì ông hoàn toàn không có bản lãnh hay Trời đã định phận ông phải là như vậy?. Câu hỏi này còn chưa ngã ngũ nhưng chuyện: Có vay có trả là định luật. Ông đã mắc nợ quá nhiều thì tới ngày ông phải trả, đó là lẽ đương nhiên. Sẽ không ai thương tiếc, không ai đoái hoài cho cái chết vô tích sự của những tên bất tài vô tâm, mà hôm nay tôi có thể khẳng định rằng ngày bài viết này được tung ra công chúng cũng là ngày để đánh dấu khoảng thời gian mà Nguyễn Tấn Dũng đã chết lâm sàng.
 
*
 
Một số đông người Việt đã có căn cứ (cơ sở) để mong đợi những sự đổi mới cho Việt Nam trong bối cảnh mà một người ở trong vị thế như ông Nguyễn Tấn Dũng có thể vận hành sự ủng hộ chung quanh cùng quyền thế của đã có của ông để xoay chiều vận nước theo hướng thuận lợi mà hầu hết dân chúng mong đợi.
 
Sự ủng hộ (cho dẫu rất miễn cưỡng), vì hiện tại ở Việt Nam dưới một cơ chế độc tài độc đảng, tụ tập cả một bầy đàn u mê và bảo thủ, xét ra không còn ai khá hơn cũng như không còn bất cứ lựa chọn nào khác để các định chế quốc tế, các chính quyền liên hệ cùng một số người Việt ở nước ngoài lẫn số đông người Việt ở trong nước trông cậy, đặt niềm tin với hy vọng ông sẽ là một trong những nhân tố để có thể thay đổi cục diện đã và đang rất là bế tắc và nguy ngập về nhiều phương diện mang tầm cỡ quốc gia và quốc tế.
 
1- Bình diện quốc gia: Con đường chính trị mà đất nước này đã và đang theo đuổi cho dẫu biết rằng đây là một con đường đầy hoang tưởng mà điểm đến của con đường sẽ không bao giờ có đích nhưng vì quyền lợi của nhiều cá nhân lãnh đạo và sự tồn vong của đảng CSVN nên nhóm lợi ích này chẳng những khẳng định lập trường Chù Nghĩa Xã Hội và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam, mà họ còn cương quyết giữ vững chủ thuyết Mác-Lê trong tương lai cho dẫu vẫn biết rằng tương lai sẽ không bao giờ đến như lời nhận định của ông đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng đã nói rằng: "Đến hết thế kỷ này cũng không biết Việt Nam đã có CNXH hoàn chỉnh hay chưa?".
 
Hãy lấy mốc thời gian là năm đáng ghi nhớ 1975, một nửa của đất nước này vào lúc ấy đã có thể ở vị thế ngang hàng với Singapore, Nam Hàn (Hàn quốc), Đài Loan, Mã Lai và vượt hẳn cả Thái Lan, Philippine, Miên, Lào, Indonesia (Nam Dương) và ngay cả Trung cộng. Sau 40 năm dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng CSVN mà đảng này luôn ca ngợi là sáng suốt và siêu việt đã đưa đất nước đến nghèo nàn, tụt hậu mà giờ đây Việt Nam không thể so sánh với bất cứ quốc gia nào ở Đông Nam Á và Á châu. Việt Nam hôm nay đã được liệt kê ở cuối bảng xếp hạng các quốc gia của khu vực này và các định chế kinh tế thế giới cho rằng "Việt Nam là một quốc gia không chịu phát triển!".
 
Hệ quả của sự tụt hậu đó có nguyên nhân từ đâu?. Không cần phải thông minh cho lắm thì người ta vẫn trả lời câu hỏi đó một cách dễ dàng và khá chính xác rằng là vì Cộng Sản. Với một guồng máy cồng kềnh tắc trách vô trách nhiệm từ số đông của cán bộ công nhân viên nhà nước, kèm theo với sự lãng phí, trình độ kém và đứng đầu là nạn ăn cắp của công và ngân quỹ quốc gia, nạn tham nhũng và bao che tham nhũng đã làm kiệt quệ ngân sách. Bên cạnh nguyên nhân gây nên sự kiệt quệ từ phía nhà nước là sự chi tiêu vô lý, không cần thiết cho hệ thống đảng phái chính trị. Đảng CSVN đã ưu tiên cho việc chi phí riêng của đảng như xây dựng các cơ sở làm việc của đảng ủy các cấp các nơi một cách vô cùng "hoành tráng", có những dinh thự vốn đã đủ tiện ích nhưng đảng đã cho phép đập phá để xây dựng lại uy nghi hơn, để có dịp ăn phần trăm hơn!. Thêm nữa, đảng đã lạm dụng tiền thuế của quốc gia để chi trả cho những chuyện đáng ra chỉ là việc riêng của đảng như chi phí hội họp, hội nghị... trả tiền lương, tiền trợ cấp cho hơn 4 triệu đảng viên, một con số khổng lồ và gây thất thiệt không ít từ ngân sách.
 
Thứ đến là chi phí khổng lồ cho Côn an, một tổ chức được xem là "lá chắn" để bảo vệ chế độ mà sự nghịch lý trắng trợn của tổ chức này là không nhằm mục đích bảo vệ dân hay nói một cách khác là dân trả số lượng tiền lớn để côn an ĐÀN ÁP CHÍNH MÌNH.
 
Chi phí cho Quân đội và An ninh quốc gia được xem là chi phí cần thiết cho bất cứ nước nào nhưng riêng Việt Nam thì người dân cảm thấy vô cùng bất bình khi lượng tiền lớn của quốc dân chi phí cho việc mua sắn vũ khí hiện đại như tàu ngầm, máy bay, hỏa tiễn... ưu tiên sử dụng những khu vực "đất vàng" cho quân đội nhưng khi giặc ngoại bang xâm chiếm biển đảo, đất liền, di dời cột mốc biên giới thì quân đội lại cúi đầu, im hơi lặng tiếng để giặc cướp tự tung tự tác và thậm chí còn cấm cản không cho phép quân đội chiến đấu để bảo vệ Tổ Quốc!

Đá Chữ Thập có diện tích 960.000 m2, tính đến ngày 21/10/2014. Ngoài đường băng, trên hòn đảo nhân tạo này còn có cảng biển đủ lớn để đón tàu tiếp tế, tàu chiến đấu cỡ lớn, nhiều nhà máy xi măng, cơ sở hỗ trợ, cầu cảng, súng phòng không, hệ thống chống người nhái, trang thiết bị liên lạc, nhà kính, bãi đáp trực thăng. Ảnh: CSIS/AMTI.

Phần đất cải tạo trên đảo được mở rộng đáng kể từ tháng 7/2014. Nơi này hiện có kênh tiếp cận, cầu cảng, các thiết bị thông tin liên lạc, radar, đê chắn sóng gia cố, bãi đáp trực thăng, cơ sở quận sự và có thể xây một đường băng dài 3.000 m. Ảnh: AMTI/Digital Globe.Chú thích của vnexpress

Trung Quốc đặt các dàn phóng Tên lửa phòng không tại đảo Phú Lâm trên quần đảo Hoàng Sa


2- Bình diện quốc tế: Biển Đông, nếu dựa vào chứng tích của lịch sử và căn cứ vào CÔNG ƯỚC LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN NĂM 1982 VÀ PHÂN ĐỊNH CÁC VÙNG BIỂN TRÊN BIỂN ĐÔNG (UNCLOS) (1) thì phần lớn Biển Đông và các đảo của nó nằm trong 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trực thuộc chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam. Thế nhưng Trung cộng đã ngang ngược tự mình hoạch định và tuyên bố Đường phân khúc 9 đoạn tức "Đường lưỡi bò" tung ra thế giới và hung hăng chiếm cướp 7 đảo của Việt Nam: Châu Viên, Đá Chữ Thập (với đường bay dài hơn 3km), Đá Gaven, Đá Tư Nghĩa, Đá Gạc Ma, Đá Vành Khăn và Đá Subi (2) trước sự cúi đầu im lặng của Việt Nam, không phản kháng thỏa đáng bằng hành động quân sự cụ thể và cũng không dám ngay cả việc đưa Trung cộng vi phạm Công ước quốc tế ra trước tòa án quốc tế như quốc gia lân bang đã làm là Philippine, cũng như không dám chính thức nhờ vả Hoa Kỳ cùng các quốc gia đồng minh ủng hộ, giúp đỡ cũng như không mở rộng Dân Chủ Nhân Quyền để toàn dân có tiếng nói nhằm lên tiếng bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ lãnh hải cho Việt Nam. Sự thể này đã gây nên sự tức giận của dân chúng trong ngoài nước, cũng như sự ngao ngán của quốc tế khiến những cái nhìn đầy khinh bỉ đến những tên cầm quyền của đảng và nhà nước Việt Nam đã có thái độ rất hèn mạt và ngu muội vì đã bị Tàu cộng dụ dỗ và điều khiển.
 
Trung cộng đã ngông cuồng thách thức Việt Nam, Philippine, Brunei, Malaysia, Đài Loan và ngay cả cộng đồng thế giới bằng hành động xây dựng các căn cứ quân sự kiên cố và các sân bay hiện đại cũng như lắp đặt các hệ thống chứa hỏa tiễn tầm ngắn, tầm xa có mang đầu đạn nguyên tử và dần dần tuyên bố chủ quyền bất khả xâm phạm Biển Đông của Trung cộng và ngăn cấm lưu thông hàng hải trên khu vực này.
 
Trở lại vấn đề Nguyễn Tấn Dũng, dưới một cơ chế độc tài toàn trị không có đảng đối lập, không có tự do báo chí, mọi tiếng nói, mọi phản kháng của người dân đều bị dập tắt từ trong trứng nước thì không có bất cứ tổ chức nào có thể đứng ra hành động ngoại trừ những người đang nắm quyền lực trong thể chế ấy. Trong hoàn cảnh không có lựa chọn như vậy, nhiều người đã có lý do khi đặt sự trông vọng vào cá nhân quyền lực như Nguyễn Tấn Dũng cùng phe nhóm của ông muốn có những sự thay đổi hoặc tiệm tiến, hoặc nhanh chóng tùy theo điều kiện và hoàn cảnh cho phép. Ông Dũng đã có nhiều thời cơ khả thi cũng như có được nhiều cơ hội thuận lợi khi ông đang còn sở hữu nhiều quyền hành cũng như cầm nắm được lợi thế từ sự ủng hộ của dân chúng cũng như các chính quyền trên thế giới có khả năng giúp để thay đổi tình thế của Việt Nam mà cụ thể là Hoa Kỳ về mặt nổi và Nhật, Úc về mặt ngấm ngầm nhưng ông đã không thức thời, không đủ trình độ để nhận thức và can đảm hành động. Ngoài trình độ học thức hạn hữu của một y tá lớp ba trường làng, ông Dũng cũng không có được cái gan của người hùng dám tận dụng thời cơ để tạo nên thời thế mà nhiều người mong đợi. Nguyễn Tấn Dũng không hề mang cái hùng của Trí Nhân mà ông chỉ là một tên gian hùng bá láp.

 
Đáng lẽ bài này sẽ được viết ngay sau kết quả đại hội đảng toàn quốc XII với sự thất bại của Nguyễn Tấn Dũng cùng sự nhục nhã mà ông đã gánh lấy nhưng người viết lại "phạm thêm lỗi lầm" nữa là hy vọng sự biến đổi nào đó ở Hội Nghị Thượng Đỉnh Hoa Kỳ - ASEAN tại Sunnlands ngày 15/ 2/ 2016. Cuối cùng cho thấy sự mong chờ ấy là một con số không to tướng sau khi hội nghị Hoa Kỳ-ASEAN kết thúc.
 
Quả vậy, tác giả cũng như những người có đặt chút hy vọng để viết lời giới thiệu "Hãy chọn lựa cái ít tệ hại nhất" cho bài viết "Mũi thuyền xé sóng – Mũi Cà Mau" của tác giả Trần Hồng Tâm đăng tải trên trang mạng Đàn Chim Việt và được trích đăng lại trên Quan Làm Báo cũng như bài "Nếu phải chọn thì chọn mất tiền hay mất nước?" đã được đăng trên Quan Làm Báo và Dân Làm Báo của Nguyên Thạch là những sai lầm mang tính khách quan. Đồng thời người viết bài này cũng không ngần ngại để công nhận rằng những người với chủ trương dứt khoát "Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm" là đúng đắn. Bài học ĐỪNG BAO GIỜ TIN CỘNG SẢN càng nên phải được thuộc lòng, Tác giả thành thật xin lỗi bạn đọc cho dẫu cái lỗi là kỳ vọng cho sự thay đổi của thể chế hầu đất nước sớm thoát khỏi lầm than, độc tài toàn trị... cái lỗi ấy xét ra cũng rất đáng thương.
 
Trong một cơ chế mà mọi quyền hành, mọi chủ trương, chính sách đều giao cho đảng, không đối lập, không Tam quyền phạn lập, Đệ tứ quyền Tự do ngôn luận hoàn toàn vắng bóng thì chuyện lạm quyền để tự tạo uy thế, tiền bạc, độc tài độc đoán để đưa ra những quyết định (dẫu quyết định sai lầm) thì không phải là khó mấy. Cho nên dưới thể chế độc tài này, động thái cửa quyền, hối lộ, tham nhũng... không phải là chuyện khó thực hiện, bằng chứng là tham nhũng ở Việt Nam đã trở nên bất trị do nguyên nhân là vì CƠ CHẾ. Bởi vậy, trong suốt thời gian cầm nắm quyền hạn, giới lãnh đạo đã được cơ chế tạo cơ hội để được cung kính, tâng bốc và làm giàu, cho dẫu là làm giàu một cách phi pháp, bởi một lẽ dễ hiểu là cơ chế đã cho phép đảng nằm trên và ngoài vòng pháp luật.
 
Cơ chế đã ưu ái cho những người bất tài và thất học nhưng có "bề dày" về tham gia "Cách mạng" như Nguyễn Tấn Dũng, từ những sự ưu ái này cộng thêm đầu óc tánh và tình ma mãnh của đương sự, Nguyễn Tấn Dũng đã chóng vánh tiến thân và lợi dụng quyền thế của hắn để làm giàu một cách cực kỳ nhanh chóng. Với chức vụ Thủ tướng của một quốc gia có 90 triệu công dân quốc nội lẫn trên 4 triệu rưỡi người Việt ở hải ngoại cùng lượng kiều hối được gởi về nước trung bình 12-14.000.000.000 USD mỗi năm. Những tố giác về tham nhũng như Vinashin, Vinalines, Ngân hàng... mà bản thân ông được danh xưng là TRÙM cùng biết bao nhiêu phi vụ tham nhũng khủng khác chưa được liệt kê cũng như những chung chi khủng dưới dạng cá nhân một cách cực kỳ tinh vi thì sẽ đoán được Nguyễn Tấn Dũng là trùm tham nhũng cỡ nào.
 
Như đã trình bày ở trên, cơ chế đã khẳng định sự độc tài ở điều 4 Hiếp Pháp: "Đảng CSVN là cơ quan duy nhất lãnh đạo toàn diện và triệt để", điều này đã cho phép đảng trên pháp luật và ngoài vòng pháp luật mà ai cũng hiểu rất rõ rằng "chẳng lẽ đảng xử phạt đảng và bỏ tù đảng?" cho nên mọi vi phạm rồi sẽ được "cứt trâu để lâu hóa bùn" và chìm xuồng. Dưới một định chế bao che và đồng lõa như vậy thì bất cứ người đảng viên lãnh đạo nào cũng có thể tư tung tự tác và làm giàu một cách dễ dàng mà ví dụ điển hình nhất là sĩ quan CSGT. Sự giàu có mà không cần phải thông minh, phải học hành, phải vất vả, miễn có lý lịch theo tiêu chuẩn của đảng cùng bề dày, phải biết chối bỏ đạo đức, quên đi tinh thần trách nhiệm, dồn tâm trí về việc đếm tiền là được. Người nào càng có cá tánh gian xảo, ba xạo như Ba Dũng thì sự giàu có càng nhanh chóng hơn.
 
Những tưởng rằng với hố sâu tội lỗi, Nguyễn Tấn Dũng có thể hối cải để đổi công chuộc tội. Nhưng không, ông không làm gì cả, ngay cả với việc tự cứu ông. Ông không thể làm được những việc rất cần thiết này vì ông hoàn toàn không có bản lãnh hay Trời đã định phận ông phải là như vậy?. Câu hỏi này còn chưa ngã ngũ nhưng chuyện: Có vay có trả là định luật. Ông đã mắc nợ quá nhiều thì tới ngày ông phải trả đó là lẽ đương nhiên. Sẽ không ai thương tiếc, không ai đoái hoài cho cái chết vô tích sự của những tên bất tài vô tâm, mà hôm nay tôi có thể khẳng định rằng ngày bài viết này được tung ra công chúng cũng là ngày để đánh dấu khoảng thời gian mà Nguyễn Tấn Dũng đã chết lâm sàng.

Bản thân ông Dũng đã bị giới hạn về trình độ và nhận thức, đã thế những cố vấn cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng không đủ thông minh và cảm nhận cũng như dự đoán những gì sẽ xảy ra xung quanh. Ông không dám đứng mũi chịu sào thì cũng sẽ có người cùng toàn dân hợp sức lại thể hiện tinh thần và hành động cứu nước khi cơ hội đến. Tàu cộng sẽ bị Hoa Kỳ và nhiều nước tiên tiến trên thế giới bao vây về nhiều mặt mà trong đó kinh tế và sức mạnh của quân sự sẽ xé nát Trung cộng ra thành nhiều mảnh. Khi cái nôi thứ hai và ông chủ của Việt cộng sụp đổ thì thử hỏi đảng CSVN còn lý do gì để tồn tại?. Hỏi tức trả lời. Cho nên những đảng viên và lực lượng Quân đội nên nhanh chóng thức tỉnh trước khi quá muộn.
 
Điều bất hạnh nhất đối với một con người là sống nhưng đã đánh mất niềm tin từ những người chung quanh. Sự bất hạnh đó sẽ là nỗi nhục cho Nguyễn Tấn Dũng vì dẫu sao ông cũng đã từng là vị Thủ tướng của một quốc gia. Chuỗi ngày sắp đến, ông có thể còn nhiều tiền, ông có thể bị những kẻ khác giựt lấy nhưng điều chắc chắn là ông sẽ không còn tư cách. Chuỗi ngày còn lại có thể ông sẽ giữ được mạng mà xin tỵ nạn ở Pháp, ở Thụy Sĩ hay bất cứ nơi đâu chịu dung túng ông, hoặc ông có thể bị mất mạng như thân phận của một con chó xà mâu mà người ta muốn trừ khử xa lánh. Bản thân ông, ông chết, ông sống?. Mặc ông, nhưng với công chúng Nguyễn Tấn Dũng thật sự đã chết.



__________________________________________

Chú thích:

Tám điểm chính cần lưu ý trong bầu cử 2016

Tám điểm chính cần lưu ý trong bầu cử 2016

bauxitevn2:47 PM


Vài quyền chính trong đợt bầu cử (theo quy định hiện hành chưa dân chủ và phải thay đổi trong tương lai):
1) Quyền ứng cử
2) Quyền đối với Hội nghị cử tri ở nơi cư trú và làm việc: Đòi thực hiện Hội nghị cử tri dân chủ công khai như người ta vẫn nói (tiến tới phải bãi bỏ quy định phi dân chủ này) với 3 việc chính:
2.1: yêu cầu công khai danh sách những người được mời đến dự Hội nghị (để tránh việc làm phi pháp mời dư luận viên, không phải cử tri nơi đó, đến đấu tố ứng cử viên như được cho là đã xảy ra trong quá khứ);
2.2: mời báo chí (cả trong và ngoài nước) đến chứng kiến Hội nghị cử tri;
2.3: công khai toàn bộ quá trình Hội nghị cử tri (phát trực tiếp trên mạng, hoặc ghi video lại để phát công khai trên mạng)
2.4: yêu cầu cấp bản sao của biên bản Hội nghị cử tri.

3) Hiệp thương. Đã là hiệp thương, thì các bên liên quan phải CÓ MẶT. Nói cách khác, những người ứng cử (được đề cử và tự ứng cử) hay đại diện của họ (tốt nhất là một luật sư) phải có mặt tại các cuộc Hiệp thương. Hiệp thương cũng phải công khai minh bạch và quyền có thể làm tương tự như với Hội nghị cử tri.
4) Vận động bầu cử: bằng mọi phương tiện và hình thức mà Luật hiện hành không cấm (Điều 68 Luật Bầu cử, LBC).
5) Bầu cử: Các tình nguyện viên, người dân nên động viên cử tri thực hiện đúng quy định của luật và phát hiện (ghi lại bằng chứng nhất là bằng video) mọi sự vi phạm pháp luật trong bầu cử (mà đã thường xảy ra trong các cuộc bầu cử trước như: bỏ phiếu thay cho người khác, việc này là phạm pháp theo điểm 2 Điều 69 LBC; hoặc việc nhân viên tổ BC gợi ý xóa tên người này ủng hộ người kia [người khác có thể làm vậy song tổ bầu cử và thành viên tổ bầu cử bị cấm theo điểm 3 Điều 63 LBC). Quyền phát hiện, ghi bằng chứng và tố cáo việc vi phạm pháp luật của người bỏ phiếu thay cho những người khác, cũng như của các tổ chức bầu cử và nhân viên của các tổ chức này là QUYỀN và NGHĨA VỤ của mỗi công dân (các tình nguyện viên có vai trò lớn trong việc này).
6) Kiểm phiếu: Theo Điều 73 của LBC, việc kiểm phiếu phải tiến hành ngay tại tổ bầu cử và các phóng viên báo chí và người ứng cử hoặc đại diện được ủy nhiệm có thể chứng kiến việc kiểm phiếu và khiếu nại về việc kiểm phiếu. Các ứng cử viên hãy ký giấy ủy nhiệm cho các tình nguyện viên để có một người tại mỗi tổ bầu cử. Như vậy nếu chúng ta thực thi QUYỀN của chúng ta, thì việc gian lận kiểm phiếu (việc được cho là đã thường xảy ra trong các cuộc bầu cử trước) sẽ bớt đi. Người được ủy nhiệm phải yêu cầu cho bản sao (hặc chụp ảnh) biên bản kiểm phiếu
7) Tổng hợp kết quả bầu cử: Khâu tổng hợp kết quả thường dẫn đến sai sót và gian lận, chính vì thế việc các tổ chức XHDS giám sát và phát hiện sai sót hay gian lận là rất quan trọng (nếu các tình nguyện viên có bản sao hay thông tin về biên bản kiểm phiếu ở các tổ bầu cử, thì việc tổ chức tổng hợp kết quả có thể được tiến hành song song để đối chiếu với Hội đồng Bầu cử và có thể giúp HĐBC loại bỏ sai sót; các tổ chức XHDS Indonesia đã làm rất tốt việc này trong cuộc bầu cử Tổng thống vừa qua và các tổ chức XHDS Việt Nam nên làm vậy).
8) Làm rõ các sai sót và kiến nghị sửa LBC: kinh nghiệm của cuộc bầu cử này có thể là bằng chứng thuyết phục để đòi thay đổi Luật bầu cử.
Trên đây là một số việc chính mà các ứng cử viên, các tình nguyện viên, và cử tri có thể làm để cho cuộc bầu cử tháng Năm 2016 tốt hơn các cuộc trước.
Tiến sĩ Nguyễn Quang A - một ứng cử viên tự do.
Hãy ủng hộ TS trở thành một ĐBQH khóa XIV
clip_image001

Nghĩ lan man chuyện giám đốc trẻ mất… chim

Nghĩ lan man chuyện giám đốc trẻ mất… chim

bauxitevn2:43 PM


Nguyễn Duy Xuân
Từ câu chuyện này, bỗng liên tưởng đến những lời dạy của các cụ xưa: “Quân pháp vô thân” và “Nhà giàu đứt tay bằng ăn mày thủng ruột”. 
clip_image001
Minh họa: Ngọc Diệp
Hai ba hôm nay, dư luận và báo chí bị cuốn vào câu chuyện ông giám đốc sở 30 tuổi mất chim.
Cái chuyện mất chim thực ra chả là gì cả đối với một người bình thường nhưng đằng này nó lại gắn với ông giám đốc trẻ, thế cho nên dư luận mới ồn ào.
Cách đây nửa năm, dư luận cũng đã từng “dậy sóng”, khi vào ngày 23-9-2015, UBND tỉnh công bố quyết định bổ nhiệm ông làm Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư. Lúc đó ông vừa tròn 30 tuổi, trở thành Giám đốc Sở trẻ nhất nước. Nhưng xét ở cái sự trẻ thì cũng chưa đáng phải ồn ào cho lắm, vì so với các bậc tiền bối, ông chưa phải là lãnh đạo trẻ nhất. Người ta bàn tán vì ông là con bí thư tỉnh ủy, người vừa mới quyết tâm làm đơn xin nghỉ trước mấy tháng vì tuổi cao để nhường ghế cho người ít hơn mình hai tuổi. Trước sự ồn ào của dư luận và báo chí về chuyện con mình được sắp xếp ngồi vào ghế nóng, ông bố đã phải lên tiếng khẳng định: Con tôi xứng đáng làm giám đốc sở! Thì không xứng đáng làm sao mà người ta dám bổ nhiệm một người trẻ tài cao đến như vậy?
Bởi cái sự nổi tiếng đã thành truyền thống ấy của gia đình mà bây giờ chuyện mất chim của ông dù “nhỏ như con thỏ” cũng khiến dư luận sốt sắng.
Nhưng điều mà mọi người khâm phục nhất chính là ở thái độ và cách hành sự của các cơ quan chức năng của tỉnh. Giám đốc sở 30 tuổi mất chim! Ổng lại là con của nguyên bí thư tỉnh. Chuyện không thể đùa, không thể bình chân như vại được! Thế là ngay lập tức, một cuộc ra quân hùng hậu, thám thính, điều nghiên, khám xét đặng mau mau đưa ra trước ánh sáng công lí những kẻ đã dám to gan sờ… dái ngựa!
Quyết liệt và nhanh gọn, cho nên chỉ 4 ngày sau, hai kẻ đạo chích là hai thanh niên đã bị tóm. Cơ quan Cảnh sát điều tra lập tức ra quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam 2 đối tượng. Viện Kiểm sát thì khẩn trương hoàn tất cáo trạng truy tố. Tòa án thì lo chọn ngày lành tháng tốt xét xử trong nay mai. Công lí đã được thực thi một cách nghiêm minh. An ninh khu vực nhà giám đốc trẻ đã được vãn hồi. Dân chúng trong vùng không giấu nổi niềm vui hồ hởi trước thành công rực rỡ của chuyên án.
Cuộc phá án đáng được ghi vào kỉ lục quốc gia bởi chưa bao giờ công dân mất trộm chim lại được cơ quan công quyền quan tâm và giải quyết nhanh gọn đến vậy. Giá như các vụ án tham nhũng lớn người ta cũng vào cuộc quyết liệt như thế thì chắc chắn bọn tham nhũng sẽ sợ… thon dái. Chúng sẽ chẳng còn chốn dung thân, sẽ không còn cơ hội để mà phát triển “ngày càng tinh vi” như hiện nay. Giá như các vụ án khác người ta cũng vào cuộc một cách vô tư, trong sáng như thế thì chắc chắn những công dân vô tội như Nguyễn Thanh Chấn, Huỳnh Văn Nén không phải chịu án oan cả chục năm trời.
Giá như…
Từ câu chuyện này, bỗng liên tưởng đến những lời dạy của các cụ xưa: “Quân pháp vô thân” và “Nhà giàu đứt tay bằng ăn mày thủng ruột”. Lời tiền nhân, quả có bao giờ sai!
N. D. X.

Sự thật bị bóp méo, công lý bao giờ mới được thực thi?

Sự thật bị bóp méo, công lý bao giờ mới được thực thi?

bauxitevn2:46 PM


Diệu Linh
(GDVN) - Đừng nuốt chửng cả lương tâm của mình, để lại tiếng xấu muôn đời!
Tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sáng ngày 25/2, bà Tòng Thị Phóng - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc hội đã nói những lời “gan ruột” làm nức lòng người dân rằng: “Phải phân loại án ngay từ khâu điều tra ban đầu cho tới kiểm soát hoạt động điều tra của viện kiểm sát, cố gắng tránh gia hạn tạm giam. Bây giờ gia hạn lần thứ 1, lần thứ 2, rồi lại xin đặc biệt, theo tôi những việc đó phải cố gắng không làm.
Một người bị giam thì chẳng những họ khổ mà cả gia đình họ khổ. Họ đi đi lại lại, thăm nuôi, khổ lắm. Phải công khai, minh bạch để người dân yên tâm”.
Dẫn ra chia sẻ của Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng để trở lại với vụ việc bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết đã bị tạm giam tới 800 ngày, nhưng cho tới giờ Viện Kiểm sát Nhân dân TP.Hồ Chí Minh không tìm được chứng cứ buộc tội.
Chẳng nhớ nổi đã mấy lần tòa án đã trả lại hồ sơ yêu cầu làm rõ căn cứ truy tố. Báo chí cũng đã lên tiếng nhiều tháng qua, nhưng Viện Kiểm sát Nhân dân TP.Hồ Chí Minh không làm rõ được và cũng không đình chỉ vụ án.

Vì sao vậy?
Có phải vì bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết chỉ là một người dân bình thường thấp cổ bé họng cho nên bị chà đạp đến như vậy không?
clip_image001
Ông Dương Ngọc Hải - Phó Viện trưởng Viện KSND TP.Hồ Chí Minh là một trong những người chịu trách nhiệm chính trong việc tạm giam bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết 800 ngày. Ảnh của VKSND.TPHCM.
Một người dân bị tạm giam tới 800 ngày mà lại không có đủ căn cứ kết tội, nhưng cũng không đình chỉ vụ án, vậy thì xin hỏi ông Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao: Công lý ở đâu? Quyền con người và quyền của công dân ở chỗ nào?
Trong buổi báo cáo trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội sáng ngày 25/2, Viện trưởng Viện Kiểm sát đã nêu ra nhiều nỗ lực để chống oan sai, trong đó có nhắc đến chuyện đào tạo và nâng cao đạo đức công vụ cho cán bộ ngành kiểm sát.
Nhưng báo cáo của ông Viện trưởng liệu có mang lại được niềm tin cho nhân dân hay không, khi mà bà Tuyết bị tạm giam tới 800 ngày vẫn không có đủ căn cứ để xét xử, tuyên án?
Vài tháng trước, Viện kiểm sát Nhân dân tối cao đã yêu cầu Viện Kiểm sát Nhân dân TP. Hồ Chí Minh báo cáo vụ việc này và đã chỉ ra hàng loạt những mâu thuẫn, những nội dung "chưa được làm rõ".
Văn phòng Chính phủ cũng đã yêu cầu báo cáo.
Nhưng cho tới giờ, mọi chuyện dường như vẫn đang dậm chân tại chỗ, và mặc nhiên bà Tuyết vẫn bị giam cầm.
Dư luận đặt ra câu hỏi: Nhiều tháng đã trôi qua, Viện Kiểm sát Nhân dân TP.Hồ Chí Minh, mà trực tiếp là ông Dương Ngọc Hải – Phó Viện trưởng đã làm gì, có làm đúng chức trách, bổn phận của một cán bộ kiểm sát không?
Ông Viện trưởng VKSND tối cao đúng là đã quan tâm xem xét, đã làm việc với cấp dưới và đã có những chỉ đạo, yêu cầu rất cụ thể đến từng chi tiết, từng mâu thuẫn nhưng có vẻ là ông đã chỉ làm được đến đó.
Ông Hải vẫn truy tố bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết với những tài liệu, lập luận đã bị chính cấp trên chỉ ra là mâu thuẫn và người dân thì vẫn bị tạm giam.
Bởi, kết luận mới đây nhất của vụ án "nguyễn y vân" mà người chịu trách nhiệm - ông Phó Viện trưởng Dương Ngọc Hải vẫn chẳng bị làm sao?
Thế có nghĩa là ông Dương Ngọc Hải chẳng cần quan tâm đến chỉ đạo của cấp trên và cấp trên cũng chẳng làm gì được ông? Trong vụ này thì có lẽ đến giờ chỉ có người dân là chịu trận.
Cũng trong buổi làm việc của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã nhắc nhở rằng, một người được coi là có tội chỉ khi họ bị đưa ra xét xử theo đúng trình tự pháp luật và tòa tuyên có tội. Viện kiểm sát phải đảm bảo việc ấy.
Phải xem chức năng điều tra làm thế đúng chưa, vai trò của kiểm sát thế nào? Chức năng xử án đã làm tốt chưa, vai trò kiểm sát thế nào?
Tức là kiểm sát phải đảm bảo được công bằng, tránh bỏ lọt tội phạm, nhưng đồng thời không được để xảy ra oan sai với bất kỳ người dân nào.
Chủ tịch Quốc hội đã nói thẳng rằng, hết nhiệm kỳ đồng chí Viện trưởng có thể nghỉ, nhưng toàn bộ cái viện kiểm sát có nghỉ đâu, ngành kiểm sát có  nghỉ đâu.
Viện trưởng có thể về hưu, viện phó có thể về hưu, nhưng cái Viện kiểm sát có về hưu đâu. Vì vậy phải làm sao lớp sau tiếp nối lớp trước, phải làm thế nào cho nhân dân được nhờ.
Các đồng chí là công cụ phục vụ nhân dân, tức là bảo vệ quyền con người, lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ công lý, vậy thì làm sao để nhân dân tin tưởng.
Đúng vậy! Muốn dân tin chẳng khó khăn gì, đơn giản là cán bộ phải nói thật và làm thật, đừng chà đạp lên danh dự, nhân phẩm của bất cứ ai, và cũng đừng tự cho mình cái quyền quyết định sự sống, sinh mạng của người khác.
Vậy chẳng lẽ ông Viện trưởng Nguyễn Hòa Bình tiếp tục im lặng để cho cấp dưới mặc sức hoành hành?
Hay ông còn trông đợi vào sự trung thực, tự nhìn nhận cái sai của ông Dương Ngọc Hải, điều mà chắc sẽ chẳng bao giờ có?
Bằng không, ông nên nhanh chóng cho rút vụ án lên cấp cao hơn để xử lý, như thế mới mong có hy vọng ở lẽ công bằng, sự thật vụ án được tôn trọng, không hàm oan người dân, không bỏ lọt tội phạm.
Bác Hồ đã dạy rằng, cán bộ là công bộc của dân. Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh.
Có nhân dân thì mới có cán bộ.
Nhưng nhiều cán bộ lại lầm tưởng khi họ có chức quyền thì muốn làm gì cũng được, bởi vậy mới có những hành xử theo kiểu ban phát ân huệ cho người dân, thậm chí coi thường sự sống của dân.
Cái chức vụ Phó Viện trưởng Viện kiểm sát của ông Dương Ngọc Hải thực chất là để phục vụ cho cuộc sống của dân, làm những việc tốt cho dân.
Ông được ăn lương, hưởng bổng lộc từ tiền thuế của dân, vậy thì hãy làm những việc xứng đáng với những gì đã nhận.
Trong một buổi làm việc với Bộ Công thương các đây ít lâu, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói một ý rất sâu sắc rằng, lãnh đạo ngành công thương hãy thử làm doanh nghiệp, kinh doanh đi thì sẽ thấy được nỗi khổ của dân.
Trộm nghĩ, liệu ông Dương Ngọc Hải có thử một lần vào ngồi nhà tạm giam để cảm nhận được nỗi cơ cực của người dân, có lẽ cách hàng xử của ông sẽ khác đi rất nhiều.
Người xưa đã nói rằng “giấy không bọc được lửa”, những gì không phải là sự thật, những gian dối, lừa lọc, rốt cuộc cũng sẽ lộ ra hết.
Thế nên đừng nuốt chửng cả lương tâm của mình, để lại tiếng xấu muôn đời!
D.L.