Bài đăng nổi bật

Việc Cuba thả tù nhân không bao gồm những người chỉ trích

  Việc Cuba thả tù nhân không bao gồm những người chỉ trích. Chính phủ nên trả tự do vô điều kiện cho những người bị giam giữ vì bất đồng ch...

Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2015

Vì sao Quốc hội chưa ra Nghị quyết về biển Đông?

Vì sao Quốc hội chưa ra Nghị quyết về biển Đông?

bauxitevnThu 6:23 AM


LÊ PHI (lược ghi)

Lời bình của GS Nguyễn Tuấn:
“Ta như thế này thì bà con thấy ta ăn thua với họ được không?”
Tôi đọc trên một website lề dân thấy tác giả trích câu nói của ông Phó chủ tịch Quốc hội làm tôi kinh ngạc. Đại khái ông nói rằng VN mình coi như bó tay, không thể đòi hay lấy lại Hoàng Sa & Trường Sa đã mất vào tay giặc. Ông còn nói như thách thức: “ai có giỏi thì thử chỉ huy ra đó coi có thắng không”. Tôi không tin vào mắt mình và không tin tác giả trích dẫn đúng, nên tôi thử google thì quả thật câu nói này trong báo phapluat.vn! Nhưng vào trang web thì thấy người ta đã xoá câu nói này.
Báo phapluat.vn có đi bài “Vì sao Quốc hội chưa ra Nghị quyết về biển Đông” (1) mà trong đó ông Phó chủ tịch QH Huỳnh Ngọc Sơn giải thích tại sao không cần ra nghị quyết về Biển Đông. Theo bản tin lề dân thì nguyên văn câu ông nói là:
“Không lẽ bây giờ bà con bảo là đánh nhau… Nhiều lần ta cũng nghĩ tới việc lấy lại nhưng trong lúc này chưa thể lấy lại được. Để đời con đời cháu chúng ta lấy lại. Trung Quốc bây giờ họ củng cố gần như là bất khả xâm phạm rồi”.
Nhưng càng ngạc nhiên hơn, tác giả cũng trích một câu khác của ông: “Ta như thế này thì bà con thấy ta ăn thua với họ được không? Ai tài giỏi thì thử chỉ huy ra đó coi có thắng không? Đánh được rồi nhưng có giữ được không?”
Vào trang phapluat.vn thì thấy người ta đã lược bỏ hai câu “tế nhị” trên. Nhưng trong cache thì hai câu vẫn còn đó (xem hình). Như vậy, rõ ràng là ông thượng tướng có nói câu đó, và báo lề dân trích dẫn đúng.
Phải nói rằng khó có một đại biểu QH nào mà nói thẳng như thế. Phong cách rất Nam bộ (và tôi đoán ông này chắc là dân miền Nam). Nhưng cũng chính cách nói “ta như thế này …” giúp chúng ta hiểu rõ hơn thái độ của chính quyền trước sự hung hãn của Tàu. Càng ngạc nhiên hơn khi biết rằng người phát ngôn câu này là một thượng tướng trong quân đội! Không biết các vị khác nghĩ gì về hai câu nói bất hủ này.
Nguyễn Tuấn







(PLO) – Sáng 29-6, các cử tri đã chất vấn nảy lửa về động thái của Quốc hội, Chính phủ về tình hình trên trong cuộc tiếp xúc với đoàn ĐBQH TP Đà Nẵng. 
Phó Chủ tịch QH-Thượng tướng Huỳnh Ngọc Sơn mổ xẻ về vấn đề biển Đông. Ảnh: LÊ PHI
Sáng 29-6, hầu hết các cử tri TP Đà Nẵng đều vô cùng bức xúc trước các động thái ngày càng leo thang của Trung Quốc ở biển Đông. Đặc biệt là hành động của Trung Quốc ra sức xây dựng trái phép đảo nhân tạo trên các đảo đã cưỡng chiếm của Việt Nam cũng như hành động cướp bóc ngư dân và gần đây nhất là tiếp tục kéo giàn khoan Hải Dương 981 vào biển Đông (vùng chồng lấn ở cửa vịnh Bắc Bộ mà hai nước đang đàm phán phân chia ranh giới-PV).
Các cử tri đã chất vấn nảy lửa về động thái của Quốc hội, Chính phủ về tình hình trên trong cuộc tiếp xúc với đoàn ĐBQH TP Đà Nẵng.
Trước các chất vấn cực nóng của cử tri, Phó Chủ tịch QH – Thượng tướng Huỳnh Ngọc Sơn đã đăng đàn trả lời một cách thẳng thắn về các vấn đề liên quan đến biển Đông.
PLO lược ghi phần trả lời của Phó Chủ tịch QH – Thượng tướng Huỳnh Ngọc Sơn tại buổi tiếp xúc cử tri nóng bỏng này.
Phó Chủ tịch QH -Thượng tướng Huỳnh Ngọc Sơn cho hay: Xung quanh vấn đề biển Đông, ý kiến của bà con là rất tâm huyết thể hiện tinh thần yêu nước, đóng góp cho QH nhiều ý kiến.
“Tôi hoan nghênh và thấy rằng ý kiến của bà con là rất xác đáng. Nhưng có những việc cần nói lại để bà con chúng ta cùng hiểu, thông tin phải là hai chiều còn nếu chúng ta giữ nguyên một chiều thì có khi nặng bên này mà nhẹ bên khác”, Phó Chủ tịch QH Huỳnh Ngọc Sơn nói.
Phó Chủ tịch QH Huỳnh Ngọc Sơn lý giải: “Tại sao QH vừa rồi không ra nghị quyết về biển Đông. Các đồng chí và bà con đã biết rồi, là khi ĐBQH có ý kiến thì lãnh đạo QH đã làm việc với Chính phủ, QH dành thời gian hơn một tiếng đồng hồ họp riêng về vấn đề này chứ không phải là họp kín, phải nói cho đúng là như thế. Trong luật hoạt động của QH quy định khi cần thiết thì QH họp riêng. Khi họp riêng là để nói tất cả những việc gì để QH biết được, có những thông tin nói ra ngoài không có lợi nên họp riêng chứ không phải có gì sợ mà giấu diếm cả”.
Cũng theo Phó Chủ tịch QH, ông là người được QH phân công theo dõi mảng quốc phòng an ninh nên thấy việc họp riêng là cần thiết. Và ĐBQH nghe xong, đi vào nhận thức của mình để rồi phát biểu đóng góp trong phiên thảo luận về tình hình kinh tế- xã hội, trong đó có đặt vấn đề về biển Đông.
“Không ai trong người Việt Nam lại không quan tâm tới vấn đề biển Đông cả. Không phải chỉ mỗi cử tri đâu. Chúng tôi cũng hết sức bức xúc. QH cũng có bàn là có nên ra nghị quyết hay không? Lúc này đã cần thiết phải ra nghị quyết hay chưa? Nghị quyết có hiệu lực hay không? QH còn được cả quyền biểu quyết là chiến tranh hay hòa bình cơ mà. Được tuyên bố chiến tranh, nhưng lúc này có cần thiết chưa hay là lại ra nghị quyết lặp lại là giữ nguyên hiện trạng, đừng làm tình hình phức tạp v.v., như thế thì hiệu lực của QH sẽ như thế nào?”, Phó Chủ tịch QH Huỳnh Ngọc Sơn phân tích.
Cũng theo ông Huỳnh Ngọc Sơn, chúng ta vẫn cứ nói QH nên ra nghị quyết, vậy chúng ta nên thảo nghị quyết như thế nào, hiệu lực ra sao? “Chủ trương của chúng ta là giữ vững hòa bình để phát triển kinh tế, kiên trì giải quyết các tranh chấp ở biển Đông bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật biển năm 1982 và duy trì thực hiện Tuyên bố DOC, tiến tới ra quy tắc ứng xử COC sẽ cụ thể hơn”- ông Sơn nói.
Phó Chủ tịch QH Huỳnh Ngọc Sơn cũng bày tỏ: “Ta phải hiểu như thế, để bà con cũng hiểu cho các đồng chí lãnh đạo. Chứ không phải lúc này chúng ta hô hào đánh nhau. Đánh nhau thì làm sao ổn định làm ăn mà có khi chúng ta đánh thắng rồi lại bị phủ đầu. Khi xảy ra chiến tranh thì bên nào mạnh hơn bên ấy thắng. Đó đâu phải trên bờ đâu mà chiến tranh thiết giáp, du kích, bắn tỉa… Ra ngoài biển là phải có tàu chiến, phải có tên lửa, phải có không quân. Làm sao chiến tranh nhân dân được. Ở trên biển khó lắm. Cho nên chủ trương của chúng ta là như thế”.
Khi cần thiết sẽ khởi kiện, ra nghị quyếtVề câu hỏi vì sao chúng ta không khởi kiện Trung Quốc, ông Huỳnh Ngọc Sơn cho biết: “Tôi đã nói với bà con rồi, tất cả những việc này chúng ta đều đã chuẩn bị. Lãnh đạo Đảng, Nhà nước đều đã chuẩn bị các phương án. Bây giờ kiện cái gì trước, cái gì sau… đều có bước đi hết. Chứ không phải là để cho Trung Quốc họ muốn làm gì thì làm. Nhưng mà trước mắt thì để ổn định tình hình đã. Bà con phải hết sức thông cảm. Tôi nói thẳng là ta đã có chuẩn bị. Khi thật cần thiết có chuyện xảy ra thì chúng ta sẽ ra nghị quyết và nghị quyết đó phải có hiệu lực”.
L.P. 
Nguồn:

10 CHI TIẾT CHUYẾN VIẾNG THĂM CỦA TỔNG BÍ THƯ CSVN NGUYỄN PHÚ TRỌNG LẦN ĐẦU ĐẾN HOA KỲ

10 CHI TIẾT CHUYẾN VIẾNG THĂM CỦA TỔNG BÍ THƯ CSVN NGUYỄN PHÚ TRỌNG LẦN ĐẦU ĐẾN HOA KỲ


VietPress USA xin thông báo một số chi tiết cập nhật về Phái đoàn Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Hoa Kỳ lần đầu xin gặp TT Barack Obama như sau:
1- Sau vụ Đại tướng Phùng Quang Thanh bị ám sát trọng thương tại Paris, Hà Nội đã vừa gởi thêm 2 toán an ninh đặc biệt chống ám sát đến Hoa Kỳ trong ngày hôm qua để tăng cường lo an ninh cho Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và phái đoàn.
Một toán 12 người đến Thủ đô Hoa Thịnh Đốn (Washington DC) và một toán tương tự đến thẳng New York để cùng phối hợp với các toán an ninh tiền trạm đã đến Hoa Kỳ lối 1 tháng nay.
Ngày 02-7-2015, cựu TT Bill Clinton sẽ đến Hà Nội để cùng với Đại sứ Hoa Kỳ Ted Osius tổ chức mừng Lễ Độc Lập "July 4" (ngày 4 tháng Bảy) tại Hà Nội và kỷ niệm 20 năm ngày TT Bill Clinton bỏ lệnh cấm vận và ký bang giao Việt-Mỹ.
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và các Ủy viên Trung ương đảng csVN, Bộ Chính trị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các Bộ trưởng, các Đại biểu Quốc hội đều được Đại sứ Hoa Kỳ Ted Osius mời dự lễ kỷ niệm 20 năm bang giao Việt-Mỹ. Sau đó, cựu TT Bill Clinton và Đại sứ Hoa Kỳ Ted Osius sẽ theo chuyến máy bay Vietnam Airlines của phái đoàn Tbt Nguyễn Phú Trọng rời Hà Nội bay đến Hoa Kỳ đáp vào tối 05-7-2015 tại phi trường quân sự Mỹ Andrew Airforces Base gần Thủ đô Hoa thịnh Đốn (Washington D.C.).
2- Hà Nội đã yêu cầu Hoa Kỳ hỗ trợ biện pháp an ninh tối đa cho Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng; nhưng phía an ninh Hoa Kỳ và An Ninh Tòa Bạch Ốc trả lời rằng ông Nguyễn Phú Trọng cũng như các khách quốc tế khác đến thăm Hoa Kỳ đều được bảo vệ như nhau. Trường hợp ông Nguyễn Phú Trọng không phải là “Quốc khách” nên không có xe an ninh hộ tống trưóc sau, không có các toán an ninh đặc biệt canh gác mọi nơi mọi lúc
3- Các loại vũ khí do các nhân viên an ninh csVN đến Hoa Kỳ để lo bảo vệ cho Tbt Nguyễn Phú Trọng đều phải khai báo và có sự chấp thuận, giám sát của an ninh Hoa Kỳ. Khi Phái đoàn của ông Nguyễn Phú Trọng vào Tòa Bạch Ốc thì mọi vấn đề an ninh sẽ do an ninh Tòa Bạch Ốc trách nhiệm. Tất cả an ninh của csVN đi theo bảo vệ sẽ ngồi trên xe của phái doàn đậu ngoài sân cỏ Tòa Bạch Ốc chứ không được đi lại.
4- Phái đoàn Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng không đi vào cỗng chính của Tòa Bạch Ốc, mà sẽ đi cỗng phụ phía bên hông ở đại lộ Pensylvania và đường số 17. Xe của phái đoàn ông Nguyễn Phú Trọng sẽ chạy vòng ra phía sân cỏ trước Tòa Bạch Ốc để phái đoàn sẽ đi bộ vào phòng họp Roosewelt là nơi mà mới đây TT Barack Obama đã đón tiếp ông Blogger Điếu Cày bị csVN bắt giam tù và được Hoa Kỳ can thiệp nên csVN phải trả tự do.
5- Phòng Roosewelt có một bàn dài cho lối 15 người ngồi, và các ghế đặt sát hai bên tường cho lối 20 người nữa nên phái đoàn ông Nguyễn Phú Trọng khi vào gặp TT Barack Obama chỉ có lối 35 đến 40 người tham dự là tối đa.
6- Trong ngày Thứ Tư 01-7-2015, lệnh “Cấm Chụp Hình” (No Photos) trong Tòa Bạch Ốc áp dụng nghiêm ngặt suốt 40 năm qua, nay đã được hủy bỏ. Du khách hay các phái đoàn đi vào Tòa Bạch Ốc sau khi cho máy hình vào kiểm soát an ninh xong, sẽ được chụp hình bất cứ nơi nào mà khách muốn. Đệ I Phu Nhân Michelle Obama đã chính thức xé bỏ bảng treo “Cấm Chụp Hình” trong Tòa Bạch Ốc (http://www.today.com/news/michelle-obama-announces-white-house-tour-change-photos-now-allowed-t29541?cid=sm_fbn)
7- Phái đoàn của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ dùng một chiếc phản lực thương mại của Vietnam Airlines, đáp xuống phi trường quân sự Andrew Air Forces Base gần Washington D.C. vào tối 05-7-2015 và máy bay sẽ đậu tại đó trong thời gian ông Nguyễn Phú Trọng thăm và làm việc tại Hoa Thịnh Đốn. Phái đoàn tháp tùng đến nay đã có 145 người và có thể lên đến 150 người, trong đó có một số Bộ Trưởng. Trong danh sách đệ trình Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ trước đây đã có tên Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng csVN nhưng nay đã được Hà Nội thông báo rút tên.
VietPress USA loan tin Đại tướng Phùng Quang Thanh bị ám sát tại Paris ngày Thứ Sáu 26-6-2015 và phút chót cô Thùy Trang Nguyễn luôn đưa tin khá chính xác về nội bộ csVN đã cho hay Đại tướng Phùng Quang Thanh bị ám sát bắn trúng 1 viên đạn vào bụng, hiện đang điều trị tại bệnh viên Quốc phòng của Pháp ở Paris. Báo Tuổi Trẻ Online của Việt Nam hôm nay 01-7-2015 đã loan tin rằng Đại tướng Phùng Quang Thanh đi Pháp là để giải phẩu khối U trong phổi; nhưng chẳng hiểu ông đi xẻo khối u sao lại phải họp với Bộ trưởng Quốc Phòng Pháp ngày 19-6-2015 làm gì như tin csVN đã loan ?!
8- Vì Hoa Kỳ mừng Lễ Độc Lập ngày Thứ Bảy 04-7 nên sẽ được nghỉ bù vào ngày Thứ Hai 06-7. Thời gian nầy TT Obama và gia đình đi nghỉ lễ tại Trại David gần trại lính ở Maryland cách 62 dặm phía bắc-tây bắc Washington D.C. Do đó TT Obama trở về Tòa Bạch Ốc chiều tối Thứ Hai 06-7 và sẽ đón Tbt Nguyễn Phú Trọng sáng Thứ Ba 07-7-2015 vào lúc 10:30AM và dự trù kéo dài từ 30 phút đến 45 phút. 
Trong tuần vừa qua, Quốc Hội Hoa Kỳ đã thông qua Luật cho phép Tổng Thống Hoa Kỳ được đàm phán và ký kết nhanh các Hiệp ước Kinh tế với nước ngoài trong chương trình TPP (đối tác xuyên Thái bình dương) nhằm đối đầu với Trung quốc. Vì vậy, Tbt Nguyễn Phú là đại diện nước Á châu đầu tiên sẽ gặp trực tiếp TT Obama về vấn đề gia nhập TPP.
csVN đề nghị Hoa Kỳ gỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận các loại vũ khí chiến lược và công nghệ kỹ thuật cao để Hà Nội mua được các loại Tàu chiến và các chiến đấu cơ tàng hình, các loại vũ khí chiến lược hiện đại. Bộ trưởng Ngoại giao csVN Phạm Bình Minh và Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ John Kerry sẽ có những thảo luận cụ thể các điều kiện nhân quyền liên quan đến vấn đề nầy. 
TT Barack Obama sẽ đặt ra các vấn đề tầm chiến lược mà csVN cần thành thật để được gia nhập TPP mà trong đó điều bắt buộc là csVN hoàn toàn phải chấm dứt việc cho Nga sử dụng căn cứ Cam Ranh để neo đậu chiến hạm cũng như dùng để tiếp tế xăng cho loại máy bay chiến lược tầm xa TU-95 có thể mang đầu đạn nguyên tử đe dọa quyền lợi của Hoa Kỳ ở Biển Đông và các nước khu vực ven bờ Thái Bình Dương.
Có thể TT Barack Obama sẽ cho các bộ liên quan của Hoa Kỳ ký kết một số vấn đề với các Bộ Trưởng của csVN tháp tùng theo Tbt Nguyễn Phú Trọng. 
Trong ngày 29-6-2015, Trung Quốc công khai hoạt động Ngân Hàng Phát triển Cơ sở Hạ tầng Á Châu gọi tắt là AIIB (Asian Infrastructure Investment Bank) để nhằm thành lập một khối tài chánh ngân hàng tách rời hay đối thủ của Ngân Hàng Thế giới và ADB (Asian Development Bank) do Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF và Hoa Kỳ lãnh đạo. Mỹ, Nhật và Canada không tham gia. csVN đã tham gia AIIB của Trung quốc và Hoa Kỳ hoan nghênh vì muốn Trung Quốc tung hết khả năng tài chính ra càng nhiều càng tốt trong lúc nầy vì thực sự TQ đến giai đoạn kiệt quệ cũng như nước Nga hiện nay.
Ngũ Giác Đài (Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ) cũng sẽ có các cuộc họp riêng với đại diện Bộ Quốc phòng csVN đi theo phái đoàn. Bộ trưởng Phùng Quang Thanh vắng mặt sau vụ bị ám sát tại Paris nên một vị Thứ trưởng Quốc phòng sẽ thay thế nhưng chưa rõ tên.
9- Sau phiên họp với TT Obama, phái đoàn Tbt Nguyễn Phú Trọng sẽ có phiên họp với Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ John Kerry và dự buổi tiệc trưa do Bộ Ngoại giao khoản đãi vào trưa Thứ Ba 07-7-2015. Buổi chiều cùng ngày phái đoàn Tbt Nguyễn Phú Trọng sẽ đến Thượng Viện Hoa Kỳ thăm TNS Cộng Hòa John McCain. Phái đoàn sẽ gặp một số Dân Biểu, Nghị sĩ của hai đảng Dân chủ và Cộng hòa Hoa Kỳ
10- Ngày 08-7-2015, phái đoàn Tbt Nguyễn Phú Trọng bay về New York để tiếp tục chương trình hội kiến với Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moonở New York và làm việc với Đại sứ csVN tại LHQ. Tbt Nguyễn Phú Trọng sẽ thăm một hoặc hai tổ chức giáo dục hay Viện Đại học Hoa Kỳ
Phái đoàn sẽ rời Hoa Kỳ trở lại Hà Nội vào sáng ngày 11-7-2015 theo dự trù. Thu xếp cho phái đoàn ăn ở, đi lại, chiêu đãi là do Bà Virginia Foote, Giám đốc một Công ty Tư vấn chuyên móc nối, lobby cho các giao dịch của csVN vào chính trường và thị trường Hoa Kỳ.
Tin nầy có thể có một ít chi tiết thay đổi vào phút chót.
Hạnh Dương.
www.vietpressusa.com

“Cơ may này không đợi dân tộc mình lâu!”

“Cơ may này không đợi dân tộc mình lâu!”

bauxitevnThu 6:19 AM


Có vẻ như áp lực bên ngoài đang đặt VN trước sức ép cải cách. Nhưng cơ may này cũng sẽ không đợi dân tộc mình lâu. Nếu không xuất hiện những lực lượng cải cách, nếu thiếu những nhà lãnh đạo có kỹ năng, thiếu một xã hội có nền văn hóa đón nhận cải cách thì cơ hội cũng sẽ biến mất – PGS.TS Phạm Duy Nghĩa trăn trở.
VietNamNet giới thiệu Phần 2 bàn tròn về cải cách thể chế với PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, TS Huỳnh Thế Du và Giám đốc Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Nguyễn Xuân Thành. Đây là nhóm tác giả chính của báo cáo tư vấn chính sách mới đây cho Chính phủ VN về cải cách thể chế, được thực hiện trong khuôn khổ hợp tác giữa ĐH Harvard, Chương trình Phát triển Liên hiệp Quốc và Chính phủ VN. 

Có hay không lực lượng cải cách ở VN?
Nhà báo Việt Lâm: Ông Nguyễn Xuân Thành có nhắc đến một cụm từ rất hay là “lực lượng cải cách”. Trong một bàn tròn mới đây với VietNamNet, TS Nguyễn Đình Cung (Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương) có chia sẻ rằng ông cảm thấy những tiếng nói cải cách còn đơn độc quá, chưa được bắt lời một cách rộng rãi. Vậy thì nhận định về lực lượng cải cách có phải quá lạc quan hay không?
PGS.TS Phạm Duy Nghĩa: Một câu hỏi mà báo cáo đặt ra và cũng được nhiều người bàn luận trong hội thảo sang nay là liệu đã tới thời khắc cải cách hay chưa? Nói cách khác, bối cảnh hiện nay đã ép các nhà hoạch định chính sách ở VN phải cải cách hay chưa?
Nếu cảm thấy sức ép và đánh giá sức ép đó nguy hại, đe dọa đến tính chính danh của chính quyền, của đảng cầm quyền thì người ta bắt đầu đánh giá những lựa chọn để tiến hành cải cách. Cách đánh giá và lựa chọn lại tuỳ thuộc vào hệ nhận thức về gía trị của từng người khác nhau. Để bảo vệ tính chính danh của chính quyền, có nhóm thì muốn VN cởi mở hơn, chấp nhận ngày càng rõ rệt hơn những chuẩn mực quốc tế. Ngược lại, có những nhóm đề cao những giá trị, ý thức hệ cũ của họ và theo nghĩa như vậy chống lại những sức ép cải cách mang tính hội nhập. Chúng tôi hiểu rằng có thể xuất hiện những lực lượng thúc đẩy cải cách, cũng có thể có những lực lượng chưa muốn cải cách diễn ra, hoặc diễn ra theo những cách khác nhau.
Ngoài ra, lựa chọn cải cách cũng rất khác nhau. Tôi nhớ anh Lê Minh Thông, Phó Ban thư ký Ban biên tập Hiến pháp 2013 cho biết trong khoảng 6-7 tháng thảo luận về dự thảo Hiến pháp 2013, VN đã tổ chức 28.000 cuộc hội thảo với khoảng 26 triệu ý kiến cử tri. Điều này cho thấy rằng đất nước đứng trước một vấn đề nhưng các lời giải rất đa dạng.
Vậy thì chọn lời giải nào thuyết phục người khác đây? Bản chất đó là cuộc thương lượng. Trong cuộc thảo luận về Hiến pháp, chúng ta chứng kiến sự giằng xé của nhiều ý kiến khác nhau, từ vấn đề kinh tế nhà nước có chủ đạo hay không, nhà nước nên đóng vai trò gì trong nền kinh tế… Hay kỳ Đại hội Đảng XI, chúng ta được chứng kiến cuộc thảo luận giữa ông Võ Hồng Phúc – Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư lúc bây giờ với ông Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh về vai trò chủ đạo của sở hữu công cộng. Những cuộc thảo luận như thế từ trong Đảng, lan ra xã hội, rơi vào nghị trường, phản ánh những lựa chọn khác nhau của các nhóm khác nhau.
Bản chất của cải cách thể chế là cho người dân có thêm tiếng nói, để họ được biết, được tham gia nhiều hay ít vào những cuộc thảo luận như thế. Một số sự vụ xảy ra thời gian qua cho thấy sự đã rồi dân mới được biết. Nói cách khác, nguy cơ có những chính sách tồi tệ sẽ ngày càng tăng khi tiếng nói của dân giảm đi.
Nói như thế không có nghĩa là tăng minh bạch và dân chủ thì những sai lầm sẽ ít đi bởi đã là con người thì đều có khiếm khuyết. Nhưng càng minh bạch, càng thảo luận công khai, quá trình thương lượng càng khó khăn, buộc anh phải thuyết phục bằng lý lẽ thì quá trình đó sẽ lọc dần đi những quyết định nóng vội, hoặc che dấu lợi ích đằng sau hoặc chưa có căn cứ. Toàn bộ quy trình tham gia của người dân không dễ dàng, thậm chí rắc rối nhưng nó giúp giảm bớt nguy cơ đưa ra những quyết định thiên lệch.
PGS.TS Phạm Duy Nghĩa
Lựa chọn tồn tại hay không tồn tại
TS Huỳnh Thế Du: Tôi muốn tiếp ý của anh Phạm Duy Nghĩa về thời khắc cải cách. Thực ra, các cải cách, thay đổi về cách tiếp cận, về ý thức hệ… chỉ xảy ra với một chế độ, một nhà nước nào đó khi đứng trước lựa chọn sống hay chết, tồn tại hay không tồn tại.
Trở lại câu chuyện cải cách năm 1986. Sự sụp đổ của một loạt chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu và khủng hoảng toàn diện trong nước đặt Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trước nguy cơ sống còn. Khi đó, Đổi Mới 1 đã xảy ra.
Hiện nay, nếu nhìn ở khía cạnh kinh tế, chúng ta có thể nghĩ rằng tuy tốc độ tăng trưởng 5-6% thấp hơn kỳ vọng 7-8% giai đoạn trước nhưng vẫn ổn. Nếu chỉ nhìn từ khía cạnh đơn giản này thì áp lực không có. Nhưng với sự trỗi dậy của Trung Quốc, với sự kiện Giàn khoan 981 mà tôi cho rằng có ý nghĩa quyết định, áp lực đó đã hiển hiện. Nhìn lại lịch sử, chúng ta thấy khi cảm quan về sự tồn vong của dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia được đánh thức thì lúc đó người dân tự động có yêu cầu chính đáng làm sao phải có cải cách, có chính sách sáng suốt bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Nếu nhìn từ góc độ này thì Đảng và Nhà nước đang đứng trước một thách thức lớn là làm sao để người dân thấy rõ đường lối phát triển, bảo vệ chủ quyền của mình. Quan điểm cá nhân tôi cho rằng, bây giờ là thời điểm nước sôi lửa bỏng rồi.
Trở lại câu hỏi về lực lượng cải cách, chúng ta thấy đã có nhiều tiếng nói cải cách ở cả ba khu vực: khu vực công, khu vực doanh nghiệp và khu vực dân sự. Trong rất nhiều cuộc hội thảo không mở rộng, chúng tôi đã được nghe những tiếng nói cải cách từ khu vực công, tức là những mầm ấy, lực lượng ấy bắt đầu lớn lên rồi. Trong khu vực dân sự, qua câu chuyện về chặt cây xanh ở Hà Nội, xây Văn Miếu ở Vĩnh Phúc hay dự án lấp sông ở Đồng Nai cho thấy tiếng nói của người dân ngày càng mạnh mẽ hơn. Người ta biết cách tổ chức như thế nào để tạo áp lực buộc chính quyền phải điều chỉnh hành vi. Trong khu vực doanh nghiệp, rất nhiều DN chỉ mong mỏi có môi trường kinh doanh thực sự tốt để người ta tạo ra giá trị, chứ không phải chỉ để trục lợi.
Bởi vậy, tôi tin rằng, nếu có một quyết sách đúng đắn thì những mầm cải cách sẽ gắn kết với nhau.
 TS Huỳnh Thế Du và nhà báo Việt Lâm
TS Huỳnh Thế Du và nhà báo Việt Lâm
Nguy cơ quyền lực rơi vào tay thiểu số
Việt Lâm: Kể từ khi Đổi mới đến nay, những thời cơ cải cách đúng là đã xuất hiện. Vấn đề là ngay thời điểm đó, quyết tâm cải cách là có, thậm chí không kém phần mạnh mẽ nhưng sau đó không hiểu vì lý do gì mà nó nguội dần đi, không biến được thành hành động, kết quả thực tế. Có những ý kiến cho rằng giá như trong 30 năm đổi mới vừa qua, những cơ hội đó được tận dụng thì có lẽ vị thế phát triển của VN giờ đã khác. Có thể rút ra được bài học nào từ những thời cơ bị bỏ lỡ như thế không?
PGS.TS Phạm Duy Nghĩa: Xét trên lý thuyết, khi anh không phát triển được thì quyền lực sẽ rơi vào tay thiểu số, nhóm đầu sỏ hay giai tầng nhỏ bé trong xã hội nhưng khống chế toàn bộ tài nguyên, làm méo mó phân bổ lợi ích quốc gia. Những thể chế đó được gọi là thể chế khai thác, tức là mang tính khai thác bóc lột. Những thế chế như vậy tồn tại rất nhiều ở các nhà nước độc tài chuyên chế, bóc lột. Sau khi đã tạo ra một giai tầng nhà nước có tính bóc lột thì nó sẽ có sức kháng cự lâu dài, theo một nghĩa tạo ra những thể chế ép dần lập pháp, tư pháp, báo chí tuân theo những lợi ích của nó.
Mới đây, ông Vũ Ngọc Hoàng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo TƯ cũng có viết nhiều bài về nhóm lợi ích, cảnh báo nếu VN bị rơi vào bẫy của thể chế khai thác thì thể chế khai thác sẽ ngày càng bền chặt, ngày càng kéo quốc gia đi xuống. Khi đó khó lòng Việt Nam vượt lên được ngưỡng như Hàn Quốc và Đài Loan đã đạt được.
Khó mà định nghĩa được sức ép đó thể hiện như thế nào nhưng cơ may để cải cách cũng không đợi dân tộc lâu. Nếu mình không tận dụng được, nếu không xuất hiện những lực lượng cải cách trong xã hội, thiếu những nhà lãnh đạo có kỹ năng, thiếu một xã hội có nền văn hóa đón nhận cải cách như vậy thì cơ hội cũng sẽ biến mất.
Liệu Việt Nam có đón được thời cơ cải cách này hay không cũng rất khó nói, không thể chỉ dựa vào cảm tính được mà phải phân tích kỹ hơn bối cảnh lịch sử, văn hoá và thể chế. Lấy ví dụ nhiều người vẫn ca ngợi Nguyễn Trường Tộ là nhà cải cách sớm, thậm chí sớm hơn nhiều nhà cải cách bên Nhật Bản và vẫn tiếc cho Nhà Nguyễn thiếu những nhà lãnh đạo đón nhận cải cách đó. Nhưng ở góc nhìn lớn hơn nữa, liệu xã hội Việt Nam thời đó đã đủ trưởng thành để đón cải cách như vậy chưa.
Hiện tại, có vẻ như áp lực bên ngoài đang đặt Việt Nam dưới một sức ép cải cách nhưng liệu dân tộc Việt Nam đã đủ trưởng thành để đón những cuộc cải cách rộng lớn hơn chưa? Điều đó cần nghiên cứu kỹ mới trả lời được.
Việt Nam rất giỏi trong việc làm vừa đủ
Chuyên gia Nguyễn Xuân Thành: Nếu nhìn về mặt lịch sử, Việt Nam rất thành công trong việc đối phó với thách thức trước mắt và cũng rất giỏi trong việc làm vừa đủ để vượt qua thách thức trước mắt và dừng lại ở đó, vẫn duy trì được những thể chế giúp mình tồn tại đến nay và thay đổi một chút để đối phó thách thức.
Đáng lẽ ra trong quán tính của việc vượt qua khủng hoảng, thách thức trước mắt, anh có thể nhân cơ hội đó mà tiến thêm một bước nữa. Bởi vì trong bối cảnh ấy, anh có thể huy động sự ủng hộ rộng rãi trong xã hội mà bình thường anh không làm được. Nó đòi hỏi anh thực hiện thêm một bước nữa để tạo ra những thay đổi và sau đó tạo thêm động lực để tiếp tục chuyển đổi lên nấc cao hơn nữa.
Về mặt lịch sử, đây là một điều đáng tiếc của Việt Nam. Thông thường khi vượt qua được khủng hoảng, thách thức trước mắt, chúng ta đã coi là thành công và muốn dừng lại một chút, chứ không muốn thay đổi mạnh mẽ. Câu cửa miệng chúng ta hay nói với nhau là phải có sự kế thừa, duy trì những gì đã có. Một thời gian sau, bức xúc lại xuất hiện và chúng ta lại quay lại quy trình ấy.
Thực ra, trong lịch sử chỉ có một số ít quốc gia thực hiện chuyển đổi thành công. Có nhiều nước còn không huy động được tài năng, sức mạnh của dân tộc để vượt qua thách thức trước mắt và bị sụp đổ. Xét theo khía cạnh này, Việt Nam đã làm vừa đủ để vượt qua được thách thức.
Chúng tôi đánh giá đây là thời khắc để Việt Nam cải cách thể chế. Nhưng cũng như những thời khắc trong quá khứ, tôi tin là Việt Nam sẽ vẫn vượt qua được khó khan trước mắt. Nhưng liệu có những chuyển đổi sâu rộng để trở thành một quốc gia phát triển trong vòng 20-30 năm nữa hay không thì tôi chưa dám nhận định.
 Giám đốc Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Nguyễn Xuân Thành
Giám đốc Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Nguyễn Xuân Thành
Việt Lâm: Như ông Thành vừa phân tích, có lẽ tâm thế thận trọng, đặc tính giỏi xoay sở với tình thế nhưng khó đi được đường dài của người Việt đã phần nào hạn chế tầm nhìn cải cách. Nó cũng quy định hai quỹ đạo cải cách. Nếu như cải cách ở Trung Quốc là cải cách áp đặt từ trên xuống thì Đổi mới của Việt Nam lại bắt đầu từ những cuộc phá rào ở địa phương. Bài học thành công của Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore… là có một kiến trúc sư trưởng dẫn dắt cải cách thành công. Liệu lần này chúng ta có thể hi vọng quỹ đạo cải cách của VN sẽ thay đổi theo hướng đó hay không? Giấc mơ kiến trúc sư trưởng cải cách
PGS.TS Phạm Duy Nghĩa: Tôi e rằng hi vọng xuất hiện một kiến trúc sư trưởng đủ tầm dẫn dắt dân tộc là một mơ ước tương đối hoang tưởng. Bởi vì một nhân vật như thế chỉ có thể xuất hiện ở những dân tộc có nền học thuật, có những cuộc tranh luận giữa giới trí thức rất dữ dội, mới tóe ra những triết lý cải cách; chỉ có được trong những xã hội cónền học vấn, có văn hóa tranh luận dám chấp nhận cái lạ cái mới; chỉ xuất hiện trong những chế độ, xã hội có tính cai trị tập trung, nhất quán; trong những quốc gia mà quyền uy áp đặt từ trên xuống dưới trở thành một thói quen lịch sử.
Theo các nhà văn hoá Kim Định, Trần Ngọc Thêm… người Trung Hoa và những nước phương Bắc là dân du mục sống trên đồng cỏ, có tầm nhìn phóng khoáng, có kỷ cương. Họ dùng lưỡi gươm và quyền uy để thiết lập đế quốc của họ. Ngay từ 2000 năm trước, Tần Thuỷ Hoàng thiết lập nên đế chế Trung Hoa với bộ máy cai trị từ trên xuống dưới, với quận huyện được cấu thành như những mắt xích của TW. Thiết chế này đã là truyền thống của nước Trung Hoa, cứ thế nới rộng ra thôi.
Ngược lại, ở Việt Nam, cộng đồng làng xã hình thành từ những hàng vạn tiểu quốc con con, mỗi làng xã có luật lệ riêng. Người Trung Hoa có chữ Hán, thể hiện tư duy bằng chữ viết, còn chúng ta không có chữ viết riêng, truyền lại tư duy cho con cháu qua lối truyền khẩu là chính.
Điều đáng nói là với nền móng văn hoá của một xứ sở chưa từng có một chính quyền TƯ quyền uy, trấn áp một cách thống nhất, rạch ròi từ trên xuống dưới, rất khó để tạo ra những kiến trúc sư xuất chúng, có tầm nhìn, có sức mạnh phi thường tạo ra kỷ cương ép những tiểu vương kia phải tuân thủ. Về cơ bản, nước mình vẫn là nước phân quyền tương đối hài hòa giữa TW và địa phương. Trong lịch sử cũng vậy. Quyền uy của nhà vua thời phong kiến thực ra chỉ xuống đến ông quan huyện. Xã, lý trưởng, chánh tổng và tuần phủ sống bằng đóng góp của dân làng, trong dân làng đó họ tạo ra một chính quyền tự quản. Thậm chí mãi đến năm 90, cán bộ phường xã của mình mới trở thành công chức chứ trước đó công chức của mình không bao gồm cán bộ cấp xã.
Với đặc trưng phân tán và tự trị như vậy, nên hệ luỵ cho đến bây giờ là chúng ta có 500 trường đại học nhưng không thể có một trường đại học đẳng cấp quốc tế. Trong khi đó, Trung Quốc cũng khó khăn như ta nhưng chỉ trong vài chục năm, Đại học Thanh Hoa, Đại học Nhân dân của họ đã vươn lên đẳng cấp thế giới. Chúng ta đầu tư nhiều nhưng không có cái nào ra tấm ra món.
Các Mác có nói một câu rất hay rằng: Không có bánh mì, không có triết học. Khi một xã hội đói kém, tích lũy tư bản không được bao nhiêu. Nếu đời cha giàu đến đời thứ hai chia cho các con đã nhỏ đi rồi, các cháu tranh nhau nữa càng teo lại. Cứ như vậy các miếng đất Việt Nam không hình thành được điền thổ lớn, con cháu mỗi người một mẩu như thế, khiến cho tích lũy về trí tuệ, về tầm nhìn hơi vụn vặt. Nói cách khác, tầm nhìn của chúng ta bị giới hạn bởi thôi thúc về dạ dày của chúng ta.
Chắc nhiều người cũng mơ như chị, nhưng tôi hoài nghi rằng trong bối cảnh dân tộc như thế có thể xuất hiện những nhà cải cách đặt ra đường ray cho dân tộc tiến thẳng lên câu lạc bộ của 30 nước giàu có.
Đảng giữ vai trò trung tâm

 
Việt Lâm: Vậy thì thay vì đặt cược vào một giấc mơ ít khả thi như thế, liệu có cách nào bớt rủi ro, bớt ăn may hơn không?
TS Huỳnh Thế Du: Trước khi trả lời câu hỏi này, tôi muốn nói thêm một chút về đề tài kiến trúc sư trưởng cho cải cách. Mọi người hay lấy Park Chung-hee của Hàn Quốc, Đặng Tiểu Bình của Trung Quốc, Lý Quang Diệu của Singapore, hay Thiên Hoàng Minh Trị của Nhật Bản làm dẫn chứng thành công. Trong khi trên thực tế, cả khu vực Trung Đông, Châu Mỹ – La Tinh, Châu Phi đã có những thời điểm có những nhà lãnh đạo mấy chục năm dưới chế độ có quyền lực gần như tuyệt đối, nhưng hầu hết các nước này vẫn rơi vào tình trạng mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình hoặc là mãi không phát triển được. Nếu chúng ta đặt cược vào một cá nhân thì rủi ro sẽ nhiều hơn khả năng thành công. Lịch sử đã chứng minh như vậy.
Cách đây mấy tháng, ông Tony Blair, cựu Thủ tướng Anh có nói: “Nếu cải cách nào mà không có phản đối thì không phải là cải cách”. Sự thực cải cách là một quá trình cực kỳ đau đớn. Một số người sẽ mất đi quyền lợi, nhưng số đông phải được hưởng lợi. Anh Thành có nhắc đến cuốn “Vì sao các quốc gia thất bại?”. Ở đây, thể chế bao trùm hay dung hợp đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Khi chúng ta nhìn tất cả các nước đã phát triển thì vai trò của một cá nhân chỉ ở một mức độ nào đó, nhưng nghị trình phát triển phải có sự tham gia của đông đảo từ tầng lớp tinh hoa đến người dân thường.
Trở lại câu chuyện của Việt Nam hiện nay, vấn đề mấu chốt phải được đề cập đến là vai trò lãnh đạo của Đảng. Đảng phải đóng vai trò trung tâm, đứng ra tập hợp được tất cả các tầng lớp nhân dân tham gia vào tiến trình cải cách, giống như Đảng đã tập hợp được đông đảo lực lượng giành chính quyền năm 1945. Muốn thế, Đảng cần tạo ra một môi trường cởi mở để tất cả người dân có thể tham gia và làm sao để các mầm cải cách, mầm tiến bộ càng ngày càng được nuôi dưỡng.
Chúng tôi có làm một nghiên cứu và thấy rằng trong lịch sử, các mầm cải cách của VN hay bị thui chột. Thời phong kiến, Phố Hiến, Hội An là những mầm phát triển kinh tế cực kỳ tốt nhưng cuối cùng bị coi là ngoại lai, bị bóp nghẹt.
Những mầm cải cách gần đây như hiện tượng Bình Dương, hiện tượng khu Nam Sài Gòn đã từng tạo ra hiệu ứng phát triển tốt cũng đang dần yếu đi.
Bởi vậy, câu chuyện hiện nay là làm sao Đảng có chính sách huy động sự tham gia của mọi tầng lớp trong xã hội, đặc biệt là tầng lớp tinh hoa vào công cuộc cải cách. Như anh Phạm Duy Nghĩa vừa nói, trước tiên phải để mọi người cãi nhau toé lửa ra đã. Khi cãi nhau toé lửa ra thì các ý tưởng hay ho mới hình thành, mới va chạm, từ đó may ra chúng ta tìm được đường lối phát triển phù hợp. Cần có một cơ chế để tất cả 90 triệu người Việt Nam cùng nghĩ, cùng tìm hướng phát triển cho Việt Nam chứ không phải câu chuyện của 3-4 triệu hay một số ít người nào đó.
(còn nữa)
V.L. – P.D.N. – H.T.D. – N.X.T.

CÁCH MẠNG 1989 (Kỳ 8)

CÁCH MẠNG 1989 (Kỳ 8)

bauxitevnWed 6:22 AM


Victor Sebestyen

 Dịch giả:  Phan Trinh
CHƯƠNG 6
VẾT THƯƠNG RỈ MÁU – AFGHANISTAN
SẬP BẪY Ý THỨC HỆ – TÂY SỢ CÔNG, ĐÔNG SỢ HỒI – ĐẢO CHÍNH 1978 – CÁCH MẠNG LÂM NGUY – LIÊN XÔ ĐỔI Ý – CHỈ ĐÁNH NHANH RÚT GỌN – TƯỚNG LĨNH CAN NGĂN – “CHỈ BA HAY BỐN TUẦN” – DIỆT AMIN, DỰNG KARMAL – SA LẦY, MẤT MÁU
***
Kabul. Chủ nhật, ngày 13 tháng 12, năm 1981
SẬP BẪY Ý THỨC HỆ

1.
CÓ MỘT LÝ DO TỐI QUAN TRỌNG vì sao xe tăng của Hồng quân Liên Xô không được gửi đến Warsaw để đè bẹp Công đoàn Đoàn Kết. Lý do này được Mikhail Suslov đưa ra, ông có lẽ là người biện hộ cứng rắn nhất cho chủ nghĩa đế quốc đỏ trong hàng ngũ lãnh đạo Moscow. Khi các đầu lĩnh Xô-viết đang động não xem cần làm gì ở Ba Lan, ông nói: “Đơn giản, chúng ta không thể gánh thêm một Afghanistan nào nữa”.
Tính đến tháng 12/1981, quân Liên Xô đã chiến đấu nhân danh xã hội chủ nghĩa tại vùng biên giới Trung Á được hai năm, và rõ là họ đang sa lầy vào thảm họa. Khoảng 2.000 lính Nga đã bị giết chết – nhiều hơn con số chết vì công vụ trong suốt 35 năm kể từ khi Thế chiến II kết thúc. Các lãnh tụ già ở Kremlin loay hoay tìm đường ra, nhưng không tìm được lối thoát nào mà lại không làm nhục mặt Liên Xô trên trường quốc tế. Và mất mặt trên trường quốc tế chính là điều họ không thể cho phép xảy ra.
Họ bị mắc kẹt trong chủ nghĩa dân tộc Nga và sập bẫy ý thức hệ của chính mình. Họ tin rằng lịch sử đang đứng về phía họ, rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ tất yếu thắng, và rằng không một đất nước nào, nếu đã trải qua cách mạng xã hội chủ nghĩa, lại được phép quay đầu trở về đường cũ – kể cả đó là một đất nước chẳng phù hợp với chủ nghĩa cộng sản chút nào như Afghanistan. Nói cách khác, nếu thừa nhận thất bại ở một nơi, đó sẽ là suy yếu và điều này sẽ khuyến khích kẻ thù nổi dậy khắp nơi.
Cũng vì vậy, họ như buông xuôi, để mình bị cuốn sâu vào một cuộc chiến không thể thắng, tại một vùng núi non hiểm trở, bị kẻ địch bao vây, kẻ địch mà họ chưa thực sự hiểu rõ.
*
TÂY SỢ CÔNG, ĐÔNG SỢ HỒI
2.
Lãnh đạo Liên Xô thực ra ban đầu không chủ trương tham chiến tại Afghanistan. Ý định của họ không phải là đưa quân chiếm đóng nước này.
Sau năm 1945, những lần quân đội Liên Xô được gửi đến tham chiến ở nước ngoài là đến các nước láng giềng trong Khối Warsaw, tức các nước chư hầu, để tái khẳng định quyền thống trị. Những lần can thiệp như tại Hungary năm 1956 là can thiệp để vãn hồi trật tự ở nước mà Liên Xô gần như sở hữu.
Afghanistan lại khác. Đất nước này không nằm trong khu vực thường được xem là vùng ảnh hưởng của Liên Xô, nhưng giờ đây nó trở thành một phần của Chiến tranh Lạnh, một trái đệm được Đông và Tây tranh giành. Một cuộc chiến tranh nóng ở Châu Âu – giữa thời đại của khái niệm “Bảo đảm Hủy diệt Cả hai” (Mutually Assured Destruction) bằng vũ khí hạt nhân – là điều không thể để cho xảy ra. Vì vậy, cuộc cạnh tranh của các siêu cường đã lan rộng đến Thế giới Thứ ba, đặc biệt là vùng Trung Đông, nơi cả Đông lẫn Tây đều thấy quyền lợi thiết thân của mình bị đe dọa.
Nếu ở sườn phía Tây, Liên Xô sợ Đức Giáo hoàng Công giáo, thì ở sườn phía Đông, họ lại sợ các giáo sĩ Hồi giáo. Họ lo ngại chủ nghĩa Hồi giáo chính thống lớn mạnh ở Iran, cùng lúc lo ngại “chủ nghĩa đế quốc” phương Tây lan tới Afghanistan, sát nách các nước cộng hòa Trung Á thuộc Liên bang Xô-viết.
*
ĐẢO CHÍNH 1978
3.
Vào cuối tháng 4/1978, một nhóm nhỏ các sĩ quan cánh tả đã cướp chính quyền tại thủ đô Kabul. Lãnh tụ đảo chính đều là những người cộng sản, thành viên của Đảng Dân chủ Nhân dân Afghanistan (PDPA), có quan hệ thân thiết với Moscow.
Đại sứ Liên Xô, Alexander Puzanov, được thông báo về kế hoạch đảo chính, nhưng ông phản đối. Moscow cũng phản đối. Tình báo KGB yêu cầu phe đảo chính không động binh, nhưng lời yêu cầu bị gạt qua một bên.
Tin tức đầu tiên Điện Kremlin có về cuộc đảo chính là một bản tin điện tín của thông tấn xã Reuters. Nhưng ngay lập tức, Moscow thay đổi lập trường, họ gọi những người đảo chính tại Afghanistan là đồng chí và ca tụng cuộc cách mạng như một chiến thắng vẻ vang của chủ nghĩa xã hội.
Moscow sau đó gửi ngay một đội ngũ cố vấn – gồm kỹ sư, bác sĩ, chuyên gia xây dựng cầu đường, nhân viên tình báo – đến Afghanistan, góp phần cổ xúy cho lý tưởng cộng sản quốc tế.
4.
Lãnh tụ mới của Afghanistan lúc đó là Mohammed Taraki, một nhà tư tưởng Mác-xít thuần sách vở, 61 tuổi. Ông bắt đầu áp đặt lý thuyết vào thực tế một cách cứng nhắc, bất kể tính bảo thủ sâu nặng của một xã hội Hồi giáo truyền thống.
Ông cho bắt giam và xử tử hàng trăm người ông cho là kẻ thủ và chà đạp lên các tập quán cổ xưa. Ông ép buộc nông dân trồng hoa màu khác, thay vì trồng thuốc phiện, và đưa ra kế hoạch lớn nhằm quốc hữu hóa nông nghiệp. Phụ nữ được đến trường, được học đọc học viết, và được khuyến cáo bớt dùng mạng che mặt.
Saher Gul, một giáo sĩ tại tỉnh Laghman hẻo lánh, giải thích rằng: “Người cộng sản tìm cách thay đổi luật của Thượng Đế. Họ muốn hủy bỏ truyền thống Hồi giáo, làm mọi người thoát nghèo và bình đẳng với nhau. Điều này chống lại luật Hồi giáo. Thượng Đế đã quyết định ai giàu ai nghèo. Điều đó người cộng sản không thể thay đổi được”.[i]
*
CÁCH MẠNG LÂM NGUY
5.
Hầu hết người dân tại đây đồng tình với Gul. Trong 18 tháng sau đó, cuộc cách mạng đi đến chỗ đổ bể. Sự kháng cự ngày càng tăng và giới giáo sĩ kêu gọi quần chúng tham gia jihad (thánh chiến) chống lại bọn cộng sản vô thần. Nhiều ngàn người Afghanistan đã đứng vào hàng ngũ quân kháng chiến Hồi giáo Mujahideen, tức Quân đội của Thượng đế, đi vào khu kháng chiến trên núi, hoặc vượt thoát qua các vùng trống dọc biên giới Pakistan.
Kabul và một ít đô thị lớn được quân Taraki kiểm soát, nhưng hầu hết phần còn lại của Afghanistan nằm trong tay quân du kích. Taraki gấp rút yêu cầu Liên Xô gửi quân chi viện để chống lại “bọn phá hoại và quân khủng bố” đang khiến cách mạng lâm nguy. Nhưng ông chỉ nhận được một ít chiến đấu cơ, một số vũ khí và sự hỗ trợ tinh thần. Ngay cả khi một nhóm kháng chiến quân Mujahideen giết chết bảy cố vấn Liên Xô vào tháng 3/1979, Moscow vẫn bác bỏ yêu cầu can thiệp quân sự trực tiếp để cứu vãn tình hình.
Andropov đưa ra nhận định thông thái sau đây: “Một vấn đề cần xem xét, đó là ai sẽ có lợi nếu ta đưa quân vào Afghanistan? Một điều rất rõ … đó là Afghanistan hiện chưa sẵn sàng để giải quyết các vấn đề của mình bằng con đường xã hội chủ nghĩa. Kinh tế tại đây lạc hậu, Hồi giáo thống trị xã hội, và gần như toàn bộ nông dân đều thất học. Đây không phải là một tình thế chín muồi cho cách mạng. Ta chỉ có thể giữ gìn chế độ Taraki bằng lưỡi lê Xô-viết, nhưng đó là điều không thể chấp nhận được. Chúng ta không thể chịu rủi ro như thế”.
Gromyko đồng ý với Andropov, nhìn từ góc cạnh ngoại giao và chiến lược. Ông cho rằng nếu gửi quân qua Afghanistan, Liên Xô sẽ bị xem như kẻ xâm lược, và như thế “Tất cả những gì chúng ta đã làm trong những năm qua, những nỗ lực để hòa hoãn, để giải trừ vũ khí hạt nhân, và nhiều cố gắng khác sẽ bị đảo ngược. Dĩ nhiên, Trung Quốc sẽ hưởng lợi, như nhận được một món quà đáng giá. Tất cả các nước phi liên kết sẽ đồng loạt chống ta … những hậu quả nghiệm trọng sẽ diễn ra nếu ta hành động như vậy”.[ii]
*
LIÊN XÔ ĐỔI Ý
6.
Thế nhưng, có hai tính toán địa chính trị – cộng một vụ ầm ĩ trong nội bộ Afghanistan với hậu quả đẫm máu – đã làm Liên Xô thay đổi đường lối.
Tính toán địa chính trị chiến lược thứ nhất đó là: Chế độ Shah sụp đổ tại Iran vào tháng 2/1979 là một đại họa với cả Liên Xô lẫn Mỹ. Ban đầu, Điện Kremlin dự đoán Mỹ sẽ can thiệp để vực dậy chế độ Shah, hoặc can thiệp khi hàng chục con tin Mỹ bị bắt giữ ngay tại Tòa Đại sứ Mỹ.
Khi không thấy Mỹ can thiệp, và khi thấy lực lượng Bảo an Cách mạng Iran bắt đầu tuần tiễu ở thủ đô Teheran, giới lãnh đạo Liên Xô thấy ngay rằng Cộng hòa Hồi giáo Iran dưới quyền Giáo chủ Khomeini là một mối nguy hiểm cho an ninh Liên Xô. Theo lời Vasily Safranchuk, viên chức Bộ Ngoại giao Liên Xô phụ trách vùng Trung Đông: “Quan tâm chính của chúng tôi là an ninh cho các vùng biên giới phía nam Liên bang Xô-viết, … là sự lan rộng của chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan”.
Một tính toán chiến lược khác của Kremlin là nỗ lực đạt đến hòa hoãn (détente) và công cuộc đàm phán giải trừ vũ khí hạt nhân với phương Tây gần như đang sa lầy. Cả Đông lẫn Tây đều tỏ ra không thể hoặc không muốn ngưng cuộc chạy đua vũ trang mới. Đầu thập niên 1970, Brezhnev thỏa thuận với các tổng thống Mỹ Nixon và Ford sẽ hạn chế số hỏa tiễn liên lục địa của cả Liên Xô lẫn NATO. Nhưng trên thực tế, Nga đã phát triển một loại hỏa tiễn tầm trung khác, hỏa tiễn SS-20, bắt đầu cài đặt ở Đông Âu từ năm 1978, và NATO muốn đối trọng lại bằng thế hệ hỏa tiễn mới, Cruise và Pershing, dù không xác định khi nào sẽ triển khai.[iii]
7.
Một vụ xung đột ầm ĩ khác, diễn ra tại Kabul, đã thúc đẩy Liên Xô can thiệp ngay vào Afghanistan. Đó là cuộc tranh giành quyền lực giữa những người cộng sản Afghanistan, vốn đã diễn ra âm ỉ từ trước khi cách mạng xảy ra.
Phó tướng của Tổng Bí thư Taraki, ông Hafizullah Amin, nhân vật cứng rắn nắm giữ lực lượng an ninh, muốn lên nắm quyền. Amin tin rằng mình, một người hành động, sẽ phù hợp hơn để lãnh đạo cuộc chiến chống quân du kích. Ngày 14/9/1979, Amin lật đổ Taraki.
Không có tin tức gì về vụ đảo chính lọt được ra ngoài, mãi cho tới hai tuần sau, khi tờ Kabul Thời báo loan tin Taraki “chết vì một căn bệnh bí ẩn”. Một thành viên của đội bảo an Dinh Chủ tịch, mấy năm sau sống lưu vong đã kể lại sự thật rằng: Tổng Bí thư Taraki bị trói trên giường bằng khăn vải, rồi bị đè bằng gối cho ngộp thở đến chết. Cơn giẫy chết của ông kéo dài suốt 15 phút.
8.
Nhân vật tàn bạo và hùng hổ Amin, 50 tuổi, sau khi nắm quyền đã điều động cuộc thanh trừng các đối thủ khác trong Đảng Dân chủ Nhân dân Afghanistan, không hề được Moscow tin tưởng.
Mật vụ KGB cho rằng ông chơi trò hai mặt, và đã có những động tác ngoại giao ve vãn Mỹ. Một báo cáo gửi lên Brezhnev còn nói rằng Amin có thể đã được CIA tuyển dụng. Không có chứng cớ nào cho việc này nhưng Andropov ngày càng tin rằng phải loại bỏ Amin.
Những hoài nghi về quyền lợi mà ông trùm KGB Andropov nghĩ tới trước đó vài tháng nay không còn, khi ông cho rằng phải gửi quân đội Liên Xô qua Afghanistan để “bảo vệ cách mạng” và đánh bại “bọn khủng bố”. Nhân vật thứ hai sau Andropov, Vladimir Kryuchkov, nói: “Andropov thấy rằng … nếu chúng tôi không tiến vào Afghanistan thì nước khác sẽ vào”.[iv]
*
CHỈ ĐÁNH NHANH RÚT GỌN
9.
Hai đầu não còn lại của “bộ ba” thủ lĩnh Điện Kremlin, Ustinov và Gromyko, đồng ý với nhận định trên của Andropov. Bộ trưởng Ngoại giao Gromyko lúc này tin rằng “chúng ta không thể để mất Afghanistan”.
Cả ba đều cố thuyết phục Brezhnev ngả theo mình, dù thoạt đầu Brezhnev e ngại vì ông vẫn đủ tỉnh táo để thấy những rủi ro nghiêm trọng có thể mắc phải khi đưa quân vào Afghanistan. Ông nói ông đã rất vất vả mới có được tiếng tăm như một người kiến tạo hòa bình, và những điều đó có thể mất hết nếu cuộc phiêu lưu tại Afghanistan sa lầy.
Kế hoạch là đưa quân vào Afghanistan phô trương lực lượng, loại bỏ Amin, thay thế hắn bằng một nhân vật bù nhìn dễ bảo và đáng tin cậy, hỗ trợ các cuộc hành quân của quân đội Afghanistan trong vài tuần rồi rút lui, ngay sau khi một chế độ mới được thành lập. Cuộc can thiệp này được dự trù diễn ra nhanh và kết thúc gọn, như phẫu thuật cấp cứu.
*
TƯỚNG LĨNH CAN NGĂN
10.
Tuy nhiên, các quan chức cao cấp của quân đội Liên Xô lại chống lại kế hoạch này từ đầu và cố hết sức ngăn chặn nó, dù sự nghiệp của họ có thể gặp trở ngại. Người đứng đầu Ban Tham mưu Quốc phòng, Thống chế Nikolai Ogarkov, và người kế cận, Tướng Sergei Akhromeyev – cả hai đều là những vị tướng đầy thành tích trong Thế Chiến II – là những tiếng nói phản biện cấp cao. Họ bày tỏ sự nghi ngờ với Bộ trưởng Quốc phòng Ustinov, chỉ ra rằng kinh nghiệm của người Anh trong thế kỷ 19 và của nước Nga dưới thời các Sa hoàng cho thấy phải rất thận trọng khi dính líu vào Afghanistan.
Nhưng thay vì được lắng nghe, họ bị khiển trách. Ustinov bảo: “Các tướng lĩnh bây giờ có quyền đưa ra quyết định cho Liên Xô à? Việc của các anh là đưa ra kế hoạch hành quân chi tiết và thi hành mệnh lệnh”. Và, họ đã phải đưa ra kế hoạch chi tiết để thỏa mãn cấp trên, dù lòng không thuận.
Đến sáng ngày 10/12/1979, Thống chế Orgakov lại nói với Brezhnev rằng hầu hết các đồng nghiệp của ông đều “lo ngại sâu sắc” về kế hoạch sắp tới, vì quân Liên Xô có “nguy cơ bị sa lầy trong những điều kiện hoàn toàn xa lạ và khắc nghiệt”. Nhưng Bộ trưởng Quốc phòng Ustinov một lần nữa bảo ông “câm miệng và tuân lệnh”.
Cuối ngày hôm ấy, khi các đầu lĩnh khác tại Kremlin nhóm họp, Thống chế Orgakov lại một lần nữa dũng cảm cảnh báo về những “hậu quả rất nghiêm trọng” của cuộc phiêu lưu quân sự này. Ông nói: “Ta sẽ làm cho cả khối Hồi giáo phương Đông đoàn kết lại chống ta”. Lần này, Andropov nạt nộ ông. Andropov bảo: “Cứ tập trung vào việc quân sự đi. Còn việc ra chính sách, cứ để chúng tôi và Đảng lo liệu”.[v]
*
“CHỈ BA HAY BỐN TUẦN”
11.
Quyết định cuối cùng được đưa ra vào ngày 12/12/1979.
Trước đó bốn ngày, cán cân lực lượng giữa Đông và Tây đã nghiêng về phương Tây khi NATO quyết định cho lắp đặt 464 hỏa tiễn Cruise và 108 hỏa tiễn Pershing ở Tây Âu. Một quan chức cao cấp nhận định rằng: “Sau quyết định đó của NATO, chúng tôi … không còn gì để mất”. Brezhnev đã ký quyết định “với bàn tay run rẩy”, dù vẫn tỏ vẻ lạc quan trước mọi người.
Một lúc sau, khi nói chuyện với Đại sứ Liên Xô tại Mỹ Anatoli Dobrynin – nhân vật dày dạn kinh nghiệm và sắc sảo bậc nhất Liên Xô nhưng cũng hoài nghi kế hoạch đưa quân qua Afghanistan – Brezhnev đã trấn an ông rằng: “Đừng lo Anatoli, chúng ta sẽ rút khỏi chỗ đó chỉ sau ba hay bốn tuần lễ thôi”.[vi]
*
DIỆT AMIN, DỰNG KARMAL
12.
Chiến dịch bắt đầu vào đúng Lễ Giáng sinh, nhưng hỏng ngay từ đầu. Kế hoạch trước hết là đầu độc Amin, nhưng ông đã thoát chết, dù đau đớn.
Amin cho tăng cường lực lượng phòng thủ dinh thự của ông ở ngoại ô Kabul. Lực lượng đặc biệt của Liên Xô, lúc này đã mất yếu tố bất ngờ, cuối cùng tìm được và bắn chết Amin, nhưng cũng thiệt hại nhân sự rất nặng.
Kế hoạch được dự tính sẽ chỉ đơn giản là một cuộc ám sát nhanh gọn, không để lại dấu vết đáng kể, bỗng trở thành một cuộc tắm máu với hai xe tải đầy xác chết.
13.
Người thay thế Amin là Babrak Karmal, sau này hiện nguyên hình là một tay nghiện rượu nặng và háu gái thất thường.
Babrak vốn là một trong những lãnh tụ của cuộc đảo chính năm 1978, nhưng không được trọng dụng bởi cả hai người tiền nhiệm. Ông bị điều đi làm Đại sứ Afghanistan tại Tiệp Khắc, nơi ông sống lặng lẽ, cho đến khi KGB “không vận” ông ra khỏi Praha và bí mật đưa ông về Kabul, hai ngày trước khi Liên Xô xua quân vào Afghanistan.
Thủ đô Kabul lúc đó chưa an toàn vì vẫn còn những nhóm kháng cự trung thành với Amin chiến đấu một mất một còn. Trong tình hình đó, Karmal được chính thức dựng lên như lãnh tụ Đảng Cộng sản vào ngày 26/12/1979 trong một phiên họp Đảng triệu tập vội vã, được Hồng quân Liên Xô bảo vệ tại phi trường Bagram, nơi quân Liên Xô dùng như tổng hành dinh chỉ huy hành quân.
*
SA LẦY, MẤT MÁU
14.
Hai năm sau, có khoảng 100.000 quân Liên Xô đóng quân tại Afghanistan và cuộc chiến vẫn tiếp tục leo thang.
Quân du kích Hồi giáo Mujahideen nhận được những chuyến hàng khổng lồ đầy vũ khí và tiền bạc của Mỹ, với mục tiêu chính là cầm chân quân Liên Xô càng lâu càng tốt trong cuộc chiến tốn kém này, và họ đã đạt mục tiêu.
Quân Liên Xô thay đổi chiến thuật theo thời kỳ. Ban đầu, họ tham gia vào những trận càn quét có vũ trang với quy mô lớn tại những vùng bất ổn nhất, như tỉnh Helmand ở miền nam và vùng biên giới sát Pakistan, tức tuyến đường vận chuyển vũ khí của quân kháng chiến. Nhưng chiến thuật này không hiệu quả. Một quan sát viên của cuộc chiến giải thích rằng: “Trong khoảng 99% các trận đánh chúng tôi tham gia tại Afghanistan, phe Liên Xô đều thắng. Nhưng vấn đề là buổi sáng hôm sau, tình trạng lại y như trước, giống như chưa từng có trận đánh nào xảy ra … Quân kháng chiến Mujahideen lại có mặt ở đúng ngôi làng mà họ bị, hoặc chúng tôi nghĩ là họ bị, tiêu diệt cách đó chỉ một hoặc hai ngày. Thật … chẳng được tích sự gì”.
Hồng quân Liên Xô sau đó áp dụng chiến thuật dữ dội hơn và dùng cả không lực. Họ thả bom và bắn phá các thị trấn, làng mạc, sau đó đổ quân biệt kích càn quét. Nhưng rồi kết quả cũng tương tự. Kháng chiến quân Hồi giáo chỉ việc biến mất một thời gian, rồi sau đó quay lại.
Tuy vậy, tổng cộng cũng có khoảng một triệu người Afghanistan bị giết chết trong cuộc chiến này và khoảng từ hai đến ba triệu người tị nạn phải rời bỏ đất nước.
15.
Quân Liên Xô không tìm được lối ra nào và lực lượng của họ đã quá tải, đến nỗi không thể đặt vấn đề gửi quân đi nước nào khác nữa.
Một nhân vật trẻ trong hàng ngũ lãnh đạo Liên Xô, Mikhail Gorbachev, lúc này đang phụ trách nông nghiệp, trong những cuộc trò chuyện riêng tư, cũng gọi Chiến tranh Afghanistan là “vết thương làm chúng ta mất máu”.
———–
Dịch theo bản gốc tiếng Anh cuốn Revolution 1989 – The Fall of the Soviet Empire (Cách mạng 1989 – Đế quốc Xô-viết sụp đổ) của Victor Sebestyen, Pantheon Books, New York, 2009. Bản tiếng Việt này không phục vụ mục đích thương mại.
P.T.
[i] Trích bản chép cuộc phỏng vấn trong CNN Cold War series, tại LHCMA (Lieddell Hart Centre for Military Archives, King’s College, London), box 14
[ii] TsKhSD, f89, Per 14, doc 30, Moscow
[iii] Phỏng vấn trong CNN Cold War series, LHCMA, box 12
[iv] Như trên
[v] Vladislav Zubok, A Failed Empire(University of North California Press, 2007), tr. 345-53, và TsKhSD, f89, Per 14, doc 31, Biên bản Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô ngày 10/12/1990
[vi] Anatoly Dobrynin, In Confidence(Times Books, New York, 1995), tr. 232
Dịch giả gửi BVN

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015

Nhiều người bảo đọc xong bài này KHÓC, vì thương dân tộc Việt Nam !

Nhiều người bảo đọc xong bài này KHÓC, vì thương dân tộc Việt Nam !


Nguồn:thanhnientudo.com

Tại sao Việt Nam không mở to mắt mà học tập Hàn Quốc nhỉ? Riêng mình nó nói với mọi người cách đây hơn 10 năm trời: Việt Nam nên tìm kiếm và mua bản quyền bộ sách giáo khoa các môn khoa học tự nhiên của các nước tiên tiến về dịch ra dạy cho học sinh vừa hiệu quả vừa đỡ tốn kém? Chắc các quan Bộ Giáo dục đà tạo sẽ không muốn tí nào vì làm như vậy thì họ ăn gì?????Năm 2004 Việt Nam chiếu bộ phim “Thời đại anh hùng” của Hàn Quốc có đoạn Tổng thống Bak Jeong-hi(Park Chung-hee –tại vị từ 17/12/1963 đến 26/10/1979) đã khóc vì thấy dân khổ quá và người đã tuyên bố sau 10 năm nữa nhiều nước trên thế giới phải đến làm thuê cho Hàn Quốc và sự thật đã đến với họ trong đó có dân VN. Đọc bài này, mình bỗng nhớ tới cái câu của những năm xưa: Rằng những gì của chuyên môn xin để cho chuyên môn quyết định. Mặc dù vậy, tất cả những gì của chuyên môn ở xã hội ta luôn có bóng dáng cao quý của những gì không phải chuyên môn quyết định  :D
Kinh nghiệm Hàn Quốc.
Thập niên 60, Hàn Quốc là 1 trong những nước nghèo đói nhất châu Á. Năm 1968, người Hàn quyết định thay đổi giáo dục bằng cách bê nguyên sách giáo khoa của người Nhật về dịch sang tiếng Hàn và giảng dạy, ngoại trừ các môn xã hội như địa lý, lịch sử và văn học. Lúc đó cũng có nhiều người chỉ trích vì tính sĩ diện của người Hàn Quốc rất cao, lẽ nào lại không tự soạn được một bộ sách giáo khoa. Nhưng họ vẫn quyết tâm thực hiện, vì để có chương trình giáo dục đó, người Nhật đã mất cả trăm năm cải biên từ cách đào tạo của giáo dục phương Tây phù hợp với đặc trưng châu Á, bắt đầu từ thời Minh Trị Thiên Hoàng. Để rút ngắn thời gian, chẳng có cách nào ngoài việc lấy kinh nghiệm của người khác, để còn lo việc khác nữa. Vì Hàn Quốc muốn trở thành một bản sao mới của Nhật, nền kinh tế dựa trên lòng tự hào dân tộc, tính kỷ luật và đạo đức của toàn thể xã hội.
Đúng 20 năm, đến 1988, Hàn Quốc đăng cai Olympic Seoul, cả thế giới không ai tin vào mắt mình khi thấy kỳ tích bên bờ sông Hàn lại khủng khiếp như thế. Ô-tô, xe máy, dệt nhuộm, hoá chất, đóng tàu, điện tử, bánh kẹo…bên Nhật có cái gì thì bên này có cái đó, dù dân số chỉ bằng 1/3. Không ai biết trong 20 năm đó, cả dân tộc Hàn Quốc đã nắm chặt tay với quyết tâm thoát nghèo như thế nào. Trên tivi chỉ có 2 chương trình là “dạy làm người” và “dạy làm ăn”, từ cái văn minh nhỏ xíu như nụ cười của một nhân viên bán hàng, đến cách quản lý chi phí của một quán cà phê, đến cách tạo dựng một nhà máy. Từ một dân tộc “xin việc”, tức các doanh nghiệp nước ngoài đến đặt nhà máy tại Hàn và thuê lao động Hàn, Hàn Quốc bắt đầu khan hiếm lao động và trở thành dân tộc đi “cho việc”, tức xây dựng các nhà máy ở nước ngoài và hàng triệu người Trung Quốc, Thái Lan, Philippines đứng xếp hàng xin các ông chủ Hàn Quốc cho họ việc làm. Hàn Quốc đã thành công trong việc tiếp nối Nhật Bản thành dân tộc đi cho việc người khác.
Năm 1988, pháo hoa thắp sáng 2 bờ sông Hàn, người Hàn Quốc ôm nhau và cười trong nước mắt, hơn 100 quốc gia giàu có nhất trên thế giới miễn visa cho họ, Hàn Quốc giờ đây đã bước chân vào nhóm 24 quốc gia thịnh vượng nhất loài người. Nhưng thách thức mới lại xuất hiện, vì bây giờ không phải là Nhật Bản nữa, mà là Hồng Kông và Singapore, 2 cực hút nam châm của cả châu Á về tài chính, thương mại và giải trí. 
Phim Hồng Kông tràn ngập thị trường và không có đối thủ. Người Hàn tuyển chọn ngay 2000 sinh viên ưu tú nhất, cử sang Holywood, điên cuồng học hành, từ đạo diễn, diễn viên, phục trang đạo cụ …4 năm sau tốt nghiệp, năm 1992, những bộ phim Hàn Quốc đầu tiên ra đời như Cảm xúc, mối tình đầu, hoa cúc..với một thế hệ diễn viên đẹp từng milimet và hợp nhãn người châu Á. Ngành làm phim phối hợp với ngành thời trang, mỹ phẩm và hàng tiêu dùng, bắt đầu xâm nhập vào các thị trường. Đại sứ quán Hàn Quốc tại các nước có nhiệm vụ dịch thuật ra tiếng địa phương và tặng không cho các đài truyền hình, tạo ra làn sóng Hanluy nổi tiếng. Người Nhật điên cuồng, người Trung Quốc điên đảo, các nước Đông Nam Á thì chỉ biết ụ pa ơi, ụ pa hỡi. Phim Hồng Kông bị đá văng ra khỏi thị trường cho thuê băng đĩa.
Năm 1988, ngoài 2000 người đi Holywood để xây dựng công nghiệp điện ảnh, ngần ấy người được cử đi Milan và Paris để học về thời trang, mỹ phẩm. Các tập đoàn như xe Kia, Samsung, Hyundai còn thuê cả ê-kip thiết kế của các hãng xe Đức như Mercedes, BMW làm việc cho họ, với tham vọng xuất khẩu xe sang Mỹ và châu Âu. Muốn bán cho Tây thì bao bì nhãn mác phải có óc thẩm mỹ của Tây, chứ kiểu” tròn tròn xinh xinh” của dân châu Á, tụi Tây không thích, không bán được. Có những năm, những mẫu xe của Hyundai bán chạy nhất ở Bắc Mỹ và châu Âu. Người Mỹ bắt đầu nhìn người Hàn với ánh mắt khác, ngưỡng mộ và ngạc nhiên, thích thú.
Ngoài ra, những sinh viên giỏi toán nhất được hướng theo ngành tài chính ở các đại học lớn ở Mỹ, với tham vọng Seoul thành một London, New York. Các quỹ đầu tư ra đời, tự tìm kiếm các nhà máy mới khởi nghiệp be bé để rót tiền vào, tham gia vào quản trị. Không chỉ trích, chỉ góp sức góp trí để xây dựng. Một người Hàn giàu có là cả dân tộc Hàn giàu. Hệ thống bán lẻ Lotte phải có nghĩa vụ mang hàng hoá Hàn đi khắp nơi, ông lớn Samsung bắt đầu tuyển dụng những sinh viên giỏi nhất châu Á về cho học bổng thạc sĩ miễn phí với điều kiện tốt nghiệp xong phải mấy năm phục vụ cho họ. Họ gom trí tuệ của cả châu Á để chinh phục thị trường điện thoại thông minh và máy tính bảng, cạnh tranh đối đầu với Apple, đối đầu với cả một tập thể trí tuệ thung lũng Silicone, cứ như Airbus của châu Âu cạnh tranh với Boeing vậy.
Người Hàn Quốc, dù dân thường hay sếp lớn, tất tần tật mọi thứ họ dùng phải Made in Korea, dù lúc sản phẩm kém cỏi còn xấu xí và đầy lỗi của thập niên bảy mươi hay hiện đại tinh xảo như bây giờ. Nếu người tiêu dùng không ủng hộ sản phẩm nhem nhuốc của thời khởi nghiệp, thì doanh nghiệp còn tồn tại đâu mà có sản phẩm tinh xảo sau này?
Tony nhớ lần đi Hàn đầu tiên, mùa thu năm 2005, bà chị ở VN cẩn thận ghi tên mấy nhãn hiệu mỹ phẩm ưa thích của chị ấy cho mình mua giùm. Ở cửa hàng mỹ phẩm, cô bán hàng mặc bộ váy veston đen, chạy như bay lấy hết sản phẩm này đến sản phẩm khác cho Tony xem, đều là của Hàn cả. Do tiếng Anh không nói tốt nên cô cứ giải thích bằng tiếng Hàn đến lúc giọng khàn đặc. Đến lúc Tony lấy tay chỉ hộp phấn Lancom, thì cô thất vọng oà khóc. Cô khóc vì cô đã không thành công khi tình yêu nước của cô không thuyết phục được khách hàng. Tony nhìn cô ấy sững sờ, lẽ nào chỉ là 1 cô gái bán hàng bình thường mà có lòng yêu đất nước mãnh liệt thế sao? Tony thôi bèn mua mấy hộp mỹ phẩm của Hàn, dù chẳng biết có tốt không, vì kính phục quá. Lúc Tony bước ra khỏi cửa hàng, ngoái lại vẫn thấy cổ gập đầu cung kính.
Ngoài phố, gió bắt đầu lạnh, từng tốp học sinh chạy tập thể dục rầm rập trên vỉa hè, những chiếc áo khoác thêu cờ quốc gia ở sau lưng. Và Tony biết, sau lưng của mỗi công dân luôn là tổ quốc.
<

Hơn một “sư đoàn” lao động Trung Quốc sắp đến Kỳ Anh?

17:56 



Hơn 30 nhà thầu đang thi công các gói thầu dự án Formosa trong khu kinh tế Vũng Áng (Hà Tĩnh) đã xin phép được tuyển gần 11.000 lao động nước ngoài để phục vụ dự án. Trong đó đến 90% mang quốc tịch Trung Quốc

Vietnamnet ngày 25.8 dẫn nguồn tin từ ban quản lý khu kinh tế Hà Tĩnh cho biết, Công ty TNHH Gang thép Hưng nghiệp Formosa và các nhà thầu đã trình hồ sơ, xin tỉnh chấp thuận số lượng hơn 10.000 lao động nước ngoài (khoảng 90% là Trung Quốc) đến làm việc tại Formosa.
Liên tiếp 2 tháng 6 - 7.2014, tại Khu kinh tế Vũng Áng, đã có hơn 30 nhà thầu đang thi công các gói thầu dự án Formosa xin phép được tuyển dụng số lượng gần 11.000 lao động nước ngoài để phục vụ dự án.
Đại đa số các nhà thầu xin tuyển lao động nước ngoài đợt này đến từ Trung Quốc. Một nguồn tin cho biết, trên 90% trong tổng số gần 11.000 lao động tuyển dụng mới mang quốc tịch Trung Quốc.
Sau khi các nhà thầu trình văn bản, hồ sơ lao động, ban quản lý khu kinh tế Hà Tĩnh báo cáo UBND tỉnh về tình hình sử dụng lao động tại các gói thầu, về cơ bản UBND tỉnh đã có văn bản đồng ý các gói thầu được tuyển người nước ngoài.
Đáng chú ý là văn bản số 1407114 ngày 29.7 của Công ty Formosa gửi UBND tỉnh, đề nghị chấp thuận để các nhà thầu của FHS (hoặc nhà thầu phụ) tuyển dụng lao động nước ngoài, thực hiện các hạng mục công trình.
Tổng có 28 nhà thầu (25 Trung Quốc, 3 nhà thầu Việt Nam) tuyển dụng 8.426 lao động nước ngoài để thực hiện các hạng mục lò cao số 1, số 2 và các công trình dự án cảng Sơn Dương.
Sau khi xem xét báo cáo của BQL KKT, UBND tỉnh đã có văn bản số 3400 ngày 8.8, chấp thuận cho 11/28 nhà thầu, sử dụng 2.063 lao động nước ngoài. Đây là những nhà thầu đã đầy đủ hồ sơ, trình phương án sử dụng lao động.
Thông tin mới nhất có được, ban quản lý khu kinh tế cũng mới có văn bản tiếp tục đề nghị UBND tỉnh cho phép 9 gói thầu tiếp theo được tuyển dụng bổ sung 2.976 lao động nước ngoài để phục vụ các dự án. Hiện còn 8 gói thầu chưa bổ sung hồ sơ.
Một lãnh đạo ban quản lý khu kinh tế Hà Tĩnh cho biết, sở dĩ đợt này có số lượng lớn là vì các gói thầu đang trong giai đoạn gấp rút thi công, vả lại sau sự việc ngày 14.5, nhiều lao động về nước và một số gói thầu bị ảnh hưởng.
Trong số hơn 1 vạn lao động nước ngoài sắp tới, có khoảng 6.000-7.000 sẽ ở trong khu vực dự án Formosa, số còn lại sẽ ở tại các điểm tập trung bên ngoài dự án.
Tại cuộc họp giữa Formosa và các nhà chức trách Hà Tĩnh giữa tháng 7, các bên cũng đã nhận định, công tác quản lí lao động tại Dự án Formosa còn bộc lộ nhiều tồn tại, thể hiện rõ nhất là khi xảy ra vụ việc ngày 14.5.
“Lúc đó hầu như cả Cty Formosa cũng như các cơ quan quản lý nhà nước đều không kiểm soát được tình hình lao động. Số liệu về lao động theo báo cáo và thực tế trên công trường hết sức bất cập, các tổ chức đoàn thể trong doanh nghiệp chưa hình thành, nhất là tổ chức công đoàn chưa thành lập để cùng phối hợp quản lí người lao động”, văn bản có đoạn.
Sau nhiều nỗ lực của tỉnh Hà Tĩnh, tình hình an ninh, trật tự đã được ổn định. Tỉnh Hà Tĩnh đã đưa ra nhiều giải pháp, buộc Formosa và các nhà quản lý cần chặt chẽ hơn trong việc quản lý, cấp phép lao động nước ngoài.

Ngu dốt luôn đi đôi với bảo thủ


 Ngu dốt luôn đi đôi với bảo thủ

Nguồn:gocnhinalan.com
Tác giả: Viết từ Saigon – RFA – 23 June 2015
Năm ngoái, chuyện này cũng đã rùm beng, thậm chí được báo chí trong nước đẩy lên thành sự kiện chính trị, nhiều tờ báo loan tin, đại khái: “ngành an ninh đã bắt được một số lượng lớn nón cối, quần áo, giày dép nhà binh Mỹ. Có thể đây là nguồn hàng có liên quan đến những nhân vật ‘anh hùng rừng lá thấp’ đã âm thầm hoạt động chống phá nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Và bản tin kiểu đó xuất hiện khá nhiều. Sau đó bặt đi gần một năm, mãi đến khi chuyện hợp đồng may quân phục Mỹ của một doanh nghiệp Việt Nam bị hủy, doanh nghiệp Việt Nam mất đứt hợp đồng trị giá hai tỉ USD, chuyện mới vỡ xòa.
us uniform
Mà buồn cười nhất là vấn đề cái dốt, sự ngu muội luôn đi đôi với tính bảo thủ thành một chân lý. Cái chân lý buồn cười này không phải quốc gia nào cũng vinh hạnh có được giống như Việt Nam. Cũng xin nói thêm, vụ tịch thu hàng mẫu trong hợp đồng quân phục Mỹ này do an ninh một sân bay quốc tế Việt Nam lập công. Cũng giống như bao cảng hàng không quốc tế tại Việt Nam, đâu đâu cũng có thể bắt gặp hệ thống an ninh sân bay rất gắt gao, soi từng cọng lông nhưng hành lý của khách mất vẫn cứ mất, Việt Kiều thì mất càng bạo tay hơn.
Đó chỉ là chuyện mất vặt, nhưng mất hợp đồng hai tỉ đô la Mỹ thì chuyện chẳng phải đùa nữa. thế nhưng mất hợp đồng thì doanh nghiệp tự chịu lấy, chẳng có ông an ninh nào, bà hải quan nào đứng ra chịu trách nhiệm hay xin lỗi “khổ chủ”. Và trong trường hợp này, cũng khó mà kiện được bởi bị đơn là một hệ thống đang được nhà cầm quyền trung ương ưu ái nhất – hệ thống công an.
Không phải đơn giản muốn cấm thì cấm, muốn thu thì ngang nhiên tịch thu hay muốn khoắn thì tha hồ khoắn mà đây là vấn đề hệ trọng, liên quan đến danh dự nghề nghiệp, danh dự quốc gia. Một khi phạm tội, sai phạm nhiều lần mà hệ thống này vẫn cứ hoạt động nhịp nhàng, vẫn cứ khoắn của hành khách đều đều và gây tổn thất hợp đồng hai tỉ USD cứ như chuyện đùa thì chắc chắn bên trên hệ thống đó phải có cái dù to lớn đến mức che cả mặt trời, che cả công lý và che cả lòng dân rồi.
Thiết nghĩ cũng không cần bàn thêm về cái dù mà thử đặt câu hỏi tại sao có những cái dù hết sức kì cục như vậy, vừa bao che cho cái xấu, đỡ đầu cho tội ác lại vừa gián tiếp bán rẻ danh dự quốc gia, bôi tro trét trấu lên gương mặt dân tộc?
Vì gì? Câu trả lời không thể xoay vào đâu được ngoài cái vì độc tài, độc đoán và bảo thủ. Vì độc tài, người ta tôn vinh tính độc đoán và để đảm bảo độc đoán, người ta hành xử bảo thủ. Bởi vì chỉ có bảo thủ mới đảm bảo được những yêu cầu của độc đoán và độc tài. Và để đảm bảo sự bảo thủ của mình được thông suốt, không bị lực cản, người ta buộc phải dùng đến hệ thống khát máu, gian xảo, bất chấp thủ đoạn. Hiện tại, để có hệ thống theo chiều dọc nhằm đảm bảo tính bảo thủ của chế độ cầm quyền để bảo vệ nền độc tài, người ta đã sử dụng lực lượng mang tính chất vừa nêu.
Và an ninh sân bay là một trong những nhóm tay chân, bộ hạ nhằm bảo vệ nền độc tài. Đặc biệt, an ninh sân bay có công việc tương đối phức tạp, vừa liên quan đến nghiệp vụ an ninh thuần túy lại vừa liên quan đến chức năng bảo vệ đảng, bảo vệ nền độc tài. Chính vì kiểu làm việc kiêm nhiệm, đôi khi phải chịu khổ nhục về thể diện trước con mắt quốc tế như vậy mà an ninh sân bay được ưu ái nhiều thứ. Trong đó có ưu ái để ăn cắp vặt, ưu ái để phá hoại.
Sự việc an ninh sân bay phá hoại hay ăn cắp không còn xa lạ gì trong con mắt hành khách quốc tế cũng như hành khách trong nước. Nó vẫn diễn ra ngày càng mạnh bạo hơn và ngang nhiên không coi ai ra gì. Bởi vì nó được bảo kê bởi một hệ thống quyền lực bên trên. Nhưng vì sao người ta lại chọn phương thức tồn tại nhục nhã như thế? Bởi suy cho cùng, bất kỳ phương tiện nào đi đến mục đích có tính chất gian manh đều cho thấy mục đích chẳng tốt đẹp của nó.
Trong trường hợp này, lực lượng công an cùng với hệ thống hành vi hết sức vô văn hóa, gian manh và giảo hoạt của họ đều là phương tiện nhằm bảo vệ chế độ. Và một khi phương tiện ưu tú cỡ đó thì chắc không mấy khó khăn đoán ra mục đích cũng như bản chất tồn tại của nó. Bởi chỉ có sự ngu dốt mới đảm bảo cho tính bảo thủ đi cạnh nó lâu dài. Và bao giờ còn bảo thủ, còn nhũng nhiễu, còn độc tài thì sự ngu dốt còn hiện hữu, còn hoành hành mảnh đất Việt Nam này.
Rất tiếc là câu chuyện ngu dốt và bảo thủ, độc đoán, độc tài vẫn là câu chuyện chưa bao giờ có hồi kết thúc trong chế độ công an trị tại Việt Nam hiện tại! Và một khi nó còn hiện hữu thì cơ hội để tiến bộ cũng như cơ hội làm giàu, góp tay xây dựng đất nước của mọi doanh nghiệp, cá nhân đều bị con mắt soi mói của nó chiếu cố. Đợi cho nó đồng thuận sau một chu kì soi mói để được tiến bộ, làm giàu, chắc người ta đã già đi hoặc người ta đã phá sản vì nó. Đó là cái giá của một công dân sống dưới bóng mây độc tài, bảo thủ!
Viết Từ Sài Gòn