Bài đăng nổi bật

Việc Cuba thả tù nhân không bao gồm những người chỉ trích

  Việc Cuba thả tù nhân không bao gồm những người chỉ trích. Chính phủ nên trả tự do vô điều kiện cho những người bị giam giữ vì bất đồng ch...

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2015

Gs Lê Xuân Khoa: "Hán hóa" có nghĩa là diệt Việt tộc, muốn biến Việt tộc thành Hán tộc

Gs Lê Xuân Khoa: "Hán hóa" có nghĩa là diệt Việt tộc, muốn biến Việt tộc thành Hán tộc.

bauxitevnWed 5:35 AM


LTS: Trong bài Văn Hóa phỏng vấn Gs Lê Xuân Khoa "post" lên mục TIN NÓNG trang nhất báo Văn Hóa mấy ngày vừa qua, tòa soạn nhận được nhiều phản hồi của quý bạn đọc. Chúng tôi có trao đổi với Gs Lê Xuân Khoa và cả hai đều nhận thấy các phản hồi đó rất đúng vì đã có nhiều sai sót lỗi đánh máy, lỗi chính tả và văn phong câu đoạn; do đó, sau khi ra soát, tòa soạn và Gs Khoa cần phải bổ túc bài phỏng vấn cho mạch lạc,hoàn chỉnh. Chúng tôi hy vọng sẽ đáp ứng yêu cầu của quý bạn đọc và trân trọng cáo lỗi vì những sai sót trong bài trước. (VH)
* Gs Lê Xuân Khoa: "Hán hóa" có nghĩa là muốn diệt Việt tộc, muốn biến Việt tộc thành Hán tộc. Đồng thời, TQ sẽ chiếm toàn bộ đất đai cũng như biển Đông, biến Việt Nam thành một bộ phận của Trung Quốc"
clip_image001

Nhà báo Lý Kiến trúc phỏng vấn Giáo sư Lê Xuân Khoa tại Câu Lạc bộ Văn Hóa Báo Chí Quận Cam 5/5/2015. Ảnh trích từ video.
Kính chào Giáo sư, hôm nay báo Văn Hóa hân hạnh được tiếp xúc với Giáo sư qua một số vấn đề, xin được vào đề ngay:
Văn Hóa: Là một trong 36 trí thức VN hải ngoại ký tên trong THƯ NGỎ (trong đó có Gs Vũ Quốc Thúc), cho đến đã hơn 4 năm, ông nhận thấy THƯ NGỎ đã có tác động nào hay rơi vào quên lãng đối với chính phủ VN?
Gs Lê Xuân Khoa: Khi chúng tôi chủ trương viết Thư Ngỏ, không phải là tự nhiên, mà do ở trong nước có hai Kiến nghị của 72 trí thức và một cái nữa của các đảng viên. Chủ trương của họ đưa ra có hai điểm chúng tôi rất tán thành: Thứ nhất là trong nước đang đối phó với sự xâm lược của Trung Quốc, tìm cách làm sao VN thoát ra khỏi sự khống chế của TQ. Thứ hai là tiến đến lộ trình hội nhập với thế giới dân chủ nghĩa là phải bắt đầu cải tổ chế độ chính trị chứ không chỉ cái tổ kinh tế. Hai điểm đó là điểm chúng tôi trong đợi ở ngoài này. 
Chúng tôi ở ngoài này không có lập đảng lập phe gì hết , chỉ thỉnh thoảng gặp nhau trao đổi qua email, ví dụ như qua Pháp, qua Canada, qua Úc ... thì chúng tôi vẫn có cái chuyện là làm thế nào mà có cơ hội gì thúc đẩy chuyện trong nước phải đi vào cái chỗ "thoát Trung", và con đường thứ nhì là xây dựng dân chủ. Khi Kiến nghị trong nước lên tiếng, chúng tôi tán thành và bên ngoài tìm cách hỗ trợ trong nước cho có uy tín và mạnh hơn, bởi thế chúng tôi chọn hình thức "Thư Ngỏ" mà không chọn "Kiến nghị", vì chúng tôi hiểu người trong nước, trong đảng "Kiến nghị" với chính phủ của họ, còn chúng ta ở ngoài không có kiến nghị mà chỉ là thư ngỏ, thư ngỏ không chỉ viết riêng cho chính  quyền mà công bố cho tất cả mọi người biết. Cho đến bây giờ đề tài đó vẫn còn thời thượng, còn chính quyền họ nghe theo tới đâu thì chúng ta theo dõi thấy họ dường như muốn đi về hướng đó mà vẫn còn có cái sự "thụt tới thụt lui".  
Văn Hóa: Là một nhà Biên niên Sử, ông có theo dõi cuộc diễn binh, duyệt binh tại Sàigon hôm 30 tháng Tư vừa qua, theo ông nó có gì đặc biệt, nhất là qua bài diễn văn của ông Nguyễn Tấn Dũng? 
clip_image002
Từ phải: Trên khán đài trong cuộc diễn binh, duyệt binh hôm 30/4/2015 tại SàiGon, Trương Tấn Sang phất cờ MTDTGPMN, Nguyễn Sinh Hùng phất cờ đảng, Nguyễn Tấn Dũng phất cờ nước, Nông Đức Mạnh phất cờ MTDTGPMN, Nguyễn Phú Trọng phất cờ đảng, một Ủy viên bộ chính trị phất cờ MTDTGPMN. Lá cờ MTDTGPMN cắm trên nóc hai chiếc xe tăng T54 mang số hiệu 843 và 390 đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập vào trưa ngày 30 tháng Tư 1975 đã bị "thủ tiêu" vào năm 1976. Cuộc diễn binh bao gồm các lực lượng chủ lực của quân giải phóng thị uy cùng với các lực lượng hải lục không quân của bộ đội chính quy, nhưng rất ít xuất hiện các đơn vị khí tài vũ khí. 
Gs Lê Xuân Khoa: Sự thực tôi không chú ý lắm về cái duyệt binh vì tôi cho đấy là cái "diễn tuồng" của chính quyền trong nước. Tôi hoàn toàn không tán thành, bởi vì đã đến cái ngày kỷ niệm 30 tháng Tư đừng có nên biểu dương cái thái độ để cho ngoài có thể nhìn nhận như là để biểu dương sức mạnh hay khoe khoang quá khứ; đã đến lúc phải quên cái quá khứ đó đi, hướng về tương lại nhiều hơn; chính ông Dũng cũng nói là đóng lại qua khứ hướng về tương lai, đằng này lại ôn lại hình ảnh quá khứ, sống lại quá khứ ... Bài diễn văn của ông Nguyễn Tấn Dũng có thể nói tôi hoàn toàn thất vọng, rất ngạc nhiên và thất vọng. 
Văn Hóa: Giáo sư đã bỏ ra nhiều năm ở đại học Johns Hopkins nghiên cứu về Biển Đông, tình hình và diễn biến Biển Đông hiện nay ông nhận xét như thế nào?
Gs Lê Xuân Khoa: Tôi cũng xin nhắc lại là sau khi chúng tôi viết Thư Ngỏ, chúng tôi có lập ra một "Diễn đàn Trí thức", "Việt Nam Issues Forum", ở hải ngoại chúng tôi có một nhóm anh em trao đổi, theo dõi tình hình trong nước, chú ý đến vấn đề nào mà mình có thể thấy rằng mình đưa ý kiến để trong nước những anh em trí thức có thể dùng được, làm áp lực để vận động chính quyền trong nước, cũng như đối với quốc tế chúng tôi thấy có điểm gì cần làm được. 
Có hai vấn đề chính mà chúng tôi thường xuyên theo dõi cho đến bây giờ, thứ nhất là Biển Đông thứ hai là Sông Mê Kông. Vấn đề Biển Đông có hai khía cạnh, chúng tôi có hai nhóm làm việc, nhóm thứ nhất chuyên về "Tư liệu Lịch sử", dựa vào tài liệu trong nước có, dựa vào tài liệu ngoài này có và dễ kiếm hơn ví dụ như ở Pháp thì vào thư viện Quốc gia Pháp, bên nay thì đi khai thác ở các thư viện bên này hoặc của tư nhân, chúng tôi có những đối chiếu, bổ túc cho nhau, nhưng cũng nhân dịp đó mà tạo ra mối quan hệ với các nhà nghiên cứu trong nước họ cũng đang đi tìm tài liệu lịch sử để chứng minh rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của VN. 
Cho đến bay giờ chúng tôi vẫn làm việc rất sát với các nhà nghiên cứu trong nước kể cả các tài liệu tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Ý, cũng như các tài liệu viết bằng chữ Hán. Đấy là khía cạnh thứ nhất về tài liệu, khía cạnh thứ hai là Luật pháp, chúng tôi thấy ngoài này mình có ưu thế là có nhiều luật gia cũ cũng như mới theo học Luật quốc tế. họ nắm vững được các yếu tố về luật quốc tế, quốc gia, do đó nếu trong trường hợp "kiện" Trung Quốc về Biển Đông thì có thể kiện được không và có hy vọng gì không, chắc chắn trong nước họ cũng đưa lên chính quyền, còn chính quyền họ dùng được tới đâu hay không dùng thì mình chưa biết. 
Văn Hóa: Thưa Gs, các tài liệu lịch sử chứng minh chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa thì phía bên Trung Quốc cũng đưa ra cả ngàn trang tài liệu chứng minh  chủ quyền các hòn đảo đó thuộc về họ, ngay cả Philippines cũng đưa ra tài liệu, như vậy thì qua các tài liệu đó (VN,TQ,PHI), có những điểm xung đột nào, điểm khác biệt nào, điểm trùng hợp nào trong lúc ba bên hiện đang tranh chấp? 
Gs Lê Xuân Khoa: Cho đến bây giờ, chủ yếu là có sự so sánh tài liệu của TQ và của VN. Tất nhiên chúng tôi có sự phản biện, có sự so sánh chúng tôi mới chứng minh là TQ không có tài liệu đầy đủ hoặc sai sót, chứng minh là phía VN thật sự có tài liệu chính xác. Từ đó, cung cấp cho nhóm Pháp lý, nhóm Pháp lý từ đó có thể đưa luận cứ đứng về mặt Công pháp quốc tế, dựa vào cả Hiến chương Liên hiệp quốc để có thể tranh cãi với TQ trước Tòa án Quốc tế. 
Văn Hóa: Tài liệu của VN và tài liệu của Philippines có sự khác biệt như thế nào trong lúc hai nước đang có tranh chấp?
Gs Lê Xuân Khoa: Thú thật là về phía Philippines tôi chắc là có nhưng tôi không theo dõi sát, tôi cũng không nằm trong nhóm nghiên cứu đó, tôi chỉ là người điều phối và sau này tôi cũng đã rút lui. Tất nhiên về phía VN và Phi cũng có tranh chấp, nhưng chủ trương của chúng tôi là tất cả những tranh chấp giữa các nước Đông Nam Á (5 nước), nên nói với nhau là chúng ta nên giải quyết riêng với nhau, bây giờ chúng ta cần đoàn kết lại để nói chuyện với TQ cái đã. Vấn đề với Phi nếu có thì là nghiên cứu thêm, vấn đề chính là chyện của VN với TQ. Chuyện Phi bài bác TQ như thế nào thì chúng tôi xem như lập trường chung đối với TQ, còn chuyện tranh chấp đối với Phi thì giải quyết riêng. Đấy là chủ trương của chúng tôi.   
Văn Hóa: Trong vụ kiện của Philippines lên tòa Trọng tài Quốc tế La Haye, thái độ của Việt Nam có vẻ như không được rõ ràng lắm , theo Gs thấy nó như thế nào?
Gs Lê Xuân Khoa: Theo chủ trương của chúng tôi thì nhất định mình phải đi với Philippines, mình phải ủng hộ tuyệt đối, nhất là khi mình chưa tiện, khi chính phủ VN thấy là chưa  tiện đứng ra để đối đầu hẳn với TQ thì ít nhất cũng phải hỗ trợ Phi, phải vận động quốc tế để làm áp lực với TQ, còn làm lấy chưa được thì phải dựa người khác, trong khi đó phải tiến tới cái chỗ mình phải chủ động làm tới nơi đi chứ không phải ngồi chờ .  
Văn Hóa: Trong chuyến đi của ông Nguyễn Phú Trọng hội đàm với ông Tập Cận Bình, nhận định của Giáo sư về bản Thông cáo chung giữa VN và TQ đối với vấn đề Biển Đông như thế nào? 
Gs Lê Xuân Khoa: Có lẽ tôi nên lui lại một chút về việc ông Nguyễn Phú Trọng đi Bắc Kinh. Ông Trọng đi Bắc Kinh trước khi đi Washington, tuy chưa biết đi Washington như thế nào nhưng chỉ biết khi Washington mời Nguyễn Phú Trọng đi Mỹ thì Tập Cận Bình lúc đó mới mời Nguyễn Phú Trọng đi Bắc Kinh. Chuyện mời đó so với thái độ của Bắc Kinh đối với VN trước đây thì đó là một sự xoay chuyển 180 độ. Khi hiện tượng giàn khoan HD-981 xẩy ra vào tháng Năm năm ngoái, thì Trọng phải vội vàng xin liên lạc ngay với Bắc Kinh để cầu cứu làm sao để giải quyết vấn đề này và xin được gặp Tập Cận Bình. Chúng tôi được biết là mấy lần Trọng xin mà bị từ chối, trong nước họ đếm tất cả là đến 30 lần, kể cả chính thức và không chính thức qua các kênh, cán ngả khác nhau mà bị Cận bình từ chối không cho gặp, như thế thái độ TQ dứt khoát với VN, nó cho rằng VN là tay sai rồi, nó cho quốc tế biết đừng có đặt vấn đề VN ra nữa, xong rồi, khi VN đặt vấn đề thảo luận với nó thì nó từ chối, đó là chuyện nó muốn làm mất mặt đảng CSVN, nhất là TBT đảng CSVN. 
Tôi thấy khi mà Mỹ có thể đã điều đình với VN, và VN vì chuyện đó mà thấy nguy, thứ nhất là thấy TQ bỏ rơi mình, đối xử tàn nhẫn như vậy, phi ngoại giao, có thể nói rất là vô lễ.Nhưng, cái này tôi mới cho là yêu tố quan trọng, nguy hiểm như thế này mới thấy sự bất mãn của nhân dân trong nước, nhân dân trong nước lại càng khinh bỉ chính quyền này, nhân dân trong nước càng thấy rằng TQ quyết liệt lấy VN và như thế là chết rồi cho nên sự bất mãn của dân chúng bùng lên rất mạnh, và cái sự vùng dậy rất mạnh đó khiến cho Nguyễn Phú Trọng  và cái phe thân Tầu phải suy tính lại. Trong lúc suy tính thì ta thấy có hiện tượng Nguyễn Tấn Dũng làm cái chương trình "Chân dung Quyền lực", tôi không dám nói là của Nguyễn Tấn Dũng nhưng ai cũng biết là cái trang "Chân dung Quyền lực" đó hoàn toàn đứng trên quan điểm Nguyễn Tấn Dũng, hoàn toàn chống lại cái đám thân Tầu, khi tất cả cái tội ác, tội  tham những đàn em của Phú Trọng bị đánh thì ta thấy cái khuynh hướng chống TQ, thân tây phương, thân Mỹ nó lên vào lúc đó nó rất nguy hiểm vì toàn dân nổi lên, toàn dân được tự do  hiểu biết thì đến lúc nào đó phe TQ sẽ bị lật đổ. Bởi sự hoảng hốt đó cho nên cái đám Bộ chính trị phải họp để chận cái chuyện đó, thì chúng ta mới thấy rằng bỗng nhiên trang "Chân dung Quyền lực" phải khựng lại trong vòng khoảng mấy tháng nay. 
Cái ngừng đó đây phải hiểu rằng có sự can thiệp của nội bộ để ngồi lại với nhau để điều đình rồi. Cái điều đình nó đưa đến cái gì, đưa đến cái dung hòa, nếu phe Nguyễn Tấn Dũng không thắng hoàn toàn thì nó cũng phải được như thế nào thì nó mới chịu ngưng trang CDQL, cho nên khi Bộ chính trị nhìn thấy TQ phản bội lại mình, bắt mình phải lệ thuộc nó quá trắng trợn thì thế nào nhân dân nó cũng lật mình thôi, cho nên họ phải nhân nhượng điều đình lẫn nhau.Tôi nghĩ rằng phe TQ bắt đầu chấp nhân chuyện xa TQ đi, bắt đầu xích lại gần Mỹ hơn, khi có dấu hiệu có thể đi lại gần với Mỹ thì Mỹ có lời mời Phú Trọng. 
Ta có thể hỏi tại sao Mỹ lại mời Trọng mà không mời Dũng, ta có thể hiểu rằng đối với Mỹ Nguyễn Tấn Dũng coi như thân Mỹ rồi. Dũng chống TQ nó khá rõ rồi, cho nên đối với Hoa Kỳ nếu mình lấy được cái anh mà nó đang theo Tầu bây giờ nó muốn theo mình thì kéo được thêm anh đó thì nó càng mạnh. Đấy là lý do Mỹ mời Nguyễn Phú Trọng.
Văn Hóa: Trở lại vấn đề giàn khoan HD-981, có hai điểm, ý đồ chính khi TQ "âm thầm" kéo giàn khoan vào thềm lục địa VN, thứ hai là trong trận "đối đầu" đó, tạm gọi đó là trận đánh mới ở trên Biển Đông giữa VN và TQ,vấn đề "thắng" hay "bại" thuộc về phe nào?
Gs Lê Xuân Khoa: Nếu mà nói "thắng" hay "bại" do cái giàn khoan HD-981 đó thì tôi thấy TQ bại. TQ làm một cái sai lầm lớn vô cùng, đối với VN hay đối với quốc tế cả hai phương diện đều sai lầm hết. Bởi vì đối với quốc tế thì tất cả không có quốc gia nào hỗ trợ chuyện đó. Tất cả dư luận từ các nước ASEAN dù có không lên tiếng chống đối chăng nữa thì rõ ràng ASEAN cũng không chấp nhận được, chưa kể các cường quốc Mỹ, Tây họ đều lên tiếng chống lại. Đối với VN thì rõ ràng TQ cho các anh thấy rằng các anh là tay sai của tôi rồi.
Một sai lầm rất lớn là TQ đã gây nên sự bất mãn của đám tay sai đàn em, bất mãn kinh khủng đối với nhân dân, bằng chứng là các vụ đập phá, biểu tình, đập phá các cơ quan của TQ dính tới các cơ quan khác nữa. Điều đó là phản ứng của nhân dân chống TQ nó mạnh đến độ TQ bất ngờ.
Văn Hóa: Gs có nghĩ thế nào khi giàn khoan đó "âm thầm" kéo đến VN và rút ra cũng "âm thầm"?
Gs Lê Xuân Khoa: Tôi nghĩ rằng cái "âm thầm" đó nó có tính cách lặng lẽ thôi, chứ việc nó kéo vào đó là hiển nhiên rồi. Công khai chứ đâu phải bí mật. Kéo cái giàn khoan vào đó là cả một cái biến cố ghê gớm, nhưng khi mà rút đi lặng lẽ thì đó cũng là cái hoạt động công khai rồi, điều đó chứng tỏ cho TQ thấy họ sai lầm,và vì thế cho nên là khi Tập Cận Bình mời Nguyễn Phú Trọng sang Bắc Kinh chưa bao giờ có một nhân vật nào của VN kể cả Hồ Chí Minh được TQ đón tiếp bằng 21 phát súng thần công, tất cả nghi lễ lớn nhất để mà chuộc lại cái lỗi đối với VN, để mà kéo hết sức VN về phía mình đừng để nó ngả về phía Mỹ. Đây là cái cố gắng nỗ lực của TQ để mà lấy lại cảm tình đối với VN. 
Văn Hóa: Theo như GS nói thì như vậy VN chưa hoàn toàn lệ thuộc vào TQ? 
clip_image003
Gs Lê Xuân Khoa: Cho đến lúc đó, nhưng mà khi mà đã nhận lời đi thăm TQ sang gặp Cận Bình rồi thì tôi nghĩ chuyện đó nó không còn như vậy nữa. Nó không phải là chuyện bất mãn hoàn toàn với TQ nữa, nó có cái sự thỏa hiệp với TQ mà chúng ta không được biết rõ lắm. Nhưng mà trở lại với câu hỏi là đi với TQ có phải là ngả với TQ hay không thì cái lời mời Phú Trọng sang TQ rất là nhanh, rất gấp, bởi vì sau khi biết cái thái độ bất mãn của VN thì Cận Bình mới bằng lòng mời Trọng đi, đi gấp rút trước khi Phú Trọng đi Mỹ trong vòng mấy tuần nữa. Khi mời như vậy, thường thường nếu có các văn kiện gì ký kết thì phải nói chuyện với nhau ít nhất cả năm trước hay ít nhất cũng phải dăm bẩy tháng trước, đây ngày đầu tiên mới tới đã có 7 văn bản sẵn đó để cho hai bên ký kết rồi, tức là 7 văn bản đó do TQ nó đã soạn sẵn rồi, ngày đầu tiên tới nơi, hai ông chủ tịch ngồi đó chứng kiến ký kết văn bản. Chỉ có bản Thông cáo chung mà chúng ta được biết chứ còn cái nội dung 7 văn bản thì không biết nó làm sao cả, nhưng chúng tôi rất nghi rằng các văn bản đó bất lợi cho VN, bằng chứng là trong Thông cáo chung nhắc đi nhắc lại 16 chữ vàng, bốn tốt, điều dó có thể hiểu cái cam kết của VN không ra khỏi ảnh hưởng của TQ, không dám "thoát Trung". 
Văn Hóa: Cái giàn khoan kéo đến VN vào tháng 5 năm ngoái, gần một năm sau, Tập Cận Bình mới mời Nguyễn Phú Trọng, điều đó có gì gấp rút? 
Gs Lê Xuân Khoa: Tôi nghĩ khi Tập Cận Bình cho giàn khoan rút ra thì họ biết là có sai lầm, nhưng cái chuyện họ mời ngay đi thì chắc là chưa có đâu, nhưng khi có cơ hội thì cũng nên tiếp anh này, đàn em của mình để cho nó đỡ bị "bất mãn" quá. 
Văn Hóa: Trong quá khứ trước đây ông có dịp nhiều lần tiếp cận với các ông Nguyễn Cơ Thạch, Võ Văn Kiệt, nhân cách, quan điểm và khuynh hướng của hai ông đó có ảnh hưởng đến các chóp bu hiện nay đang lãnh đạo đảng CSVN trong mối quan hệ tay ba Việt- Mỹ - Trung?
clip_image004
Giáo sư Lê Xuân Khoa (trái) và cựu Phụ tá Ngoại trưởng Hoa Kỳ Robert Funseth, người đã ký với Hà Nội thỏa hiệp H.O năm 1989.
Gs Lê Xuân Khoa: Lần tiếp xúc với Nguyễn Cơ Thạch thì nói cho rất đúng là vào năm 1990, khi ông Nguyễn Cơ Thạch vào khoảng tháng Chín tháng Mười có buổi họp Đại hội đồng Liên hiêp quốc, các nước thành viên, các thủ lãnh các quốc gia, ít nhất phải là bộ trưởng ngoại giao. Năm 1990 người đi họp hội nghị đó là Nguyễn Cơ Thạch với tư cách Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao; khi ông đến Nữu Ước thì tôi đang tranh đấu đòi thả tù nhân chính trị cho đi sang định cư ở Hoa Kỳ , nói đúng ra thì VN đã ký hiệp ước thả tù nhân rồi nhưng vấn đề cho đi định cư tại Hoa Kỳ thì chưa có, cái thỏa ước đó ký với ông Robert Funseth vào tháng 8, 1989; khi ông Thạch sang đến Nữu Ước thì chúng tôi vận động Quốc hội và Bộ ngoại giao Mỹ nhân dịp này phải làm áp lực vì biết Nguyễn Cơ Thạch sang Mỹ để bàn đến vấn đề bang giao. 
Cái triển vọng bang giao đó có lẽ đã nói chuyện từ lâu, nhưng ít nhất tôi biết rất rõ từ năm 1989 hai bên đã nói chuyện với nhau, bởi vì khi tôi đi họp hội nghị Geneve về Quốc tế tỵ nạn, đáng lẽ tôi ngồi trong phái đoàn Mỹ thì tôi chỉ cử người trong tổ chức ngồi trong phái đoàn Mỹ còn tôi đi với tư cách của một NGO riêng để tôi có thể nói tiếng nói riêng của tôi chứ không nói tiếng nói của phái đoàn Mỹ. Khi chúng tôi về Mỹ có đặt vấn đề với chính phủ Mỹ và Quốc hội rằng, một trong những điều kiện bang giao là vấn đề Tù nhân Chính trị phải được giải quyết, đồng thời phải chú ý đến tiếng nói của người Mỹ gốc Việt. Lúc đó bên bộ ngoại giao là ông Funseth, bên quốc hội là ông Thượng nghị sĩ Mark O. Hatfield ông nói với chúng tôi: "Cho đến lúc này chúng tôi vẫn đại diện cho người tỵ nạn để đặt vấn đề với VN, bằng cớ là chúng tôi đã ký hiệp ước bắt họ phải thả tù chính trị, chuyện thứ hai là đến lúc này các ông là công dân Mỹ các ông phải lấy tư cách là công dân Mỹ yêu cầu thẳng với VN thay vì chúng tôi nói, chúng tôi sẽ hỗ trợ, nhưng không làm chủ tình thế"; bởi thế cho nên mới có sự sắp đặt bên Quốc hội và bên Bộ ngoại giao Mỹ để cho chúng tôi có phái đoàn gặp ông Nguyễn Cơ Thạch. 
Khi tôi gặp Thạch ngoài sự trao đổi về vấn đề tù nhân chính trị thì ông ta có hứa với tôi rằng: ông ta không có quyền một mình, nhưng ông ta hoàn toàn nhìn nhận chuyện dó là sai lầm. Chính Nguyễn Cơ Thạch nói trong cuộc gặp gỡ này là cái quyết định tập trung tù cải tạo là quyết định hết sức sai lầm, làm chảy máu chất xám, bao nhiêu nhân tài bỏ nước ra đi để đến nỗi đất nước ... ông ta nói một câu nguyên văn là: "Chúng tôi đánh nhau thì giỏi nhưng khi chúng tôi quản lý đất nước thì chúng tôi làm hỏng hết rồi, thành ra đất nước nó tụt hậu... thứ hai là điều đáng để ý là ông Thạch là người tiên liệu, nói ngay rằng "nếu tình hình đất nước mình cứ suy yếu như thế này thì mắc vào âm mưu của TQ và nó sẽ chiếm đoạt đất nước mình." Cho nên (ông Thạch) mới kêu gọi chúng tôi nên "hòa giải" thì chúng tôi nói là chúng tôi chỉ có thể giúp được đất nước khi nào chính phủ  giải quyết các vấn đề đối với đồng bào, nếu bà con anh em chúng tôi còn nằm trong tù thì không thể nói chuyện (hòa giải) này được, thế cho nên mới đặt vấn đề thứ nhất là phải thả tù cải tạo. Ông ta (Thạch) có nói rằng ông ta sẽ giải quyết rất sớm vấn đề này. 
Sau đó không bao lâu thì có chương trình H.O. Cái khuynh hướng tôi nhìn thấy ở Nguyễn Cơ Thạch là thứ nhất: Hoàn toàn đi với Mỹ để mà thoát ra khỏi TQ, dùng phía Mỹ để cân bằng với TQ, và đối với TQ ông Thạch có một cái tội rất lớn cho nên TQ không thể nào tha thứ Nguyễn Cơ Thạch. Chúng ta thấy khi ông Thạch trở về nước chỉ mấy tháng sau là mất chức (về hưu). Thế còn ông Kiệt thì mãi đến sau này tôi mới gặp. Từ năm 1990 tôi vẫn có liên hệ với một số anh em trí thức nhà báo nhà văn trong nước đi qua ngoài này ... trong cuộc gặp gỡ chúng tôi trao đổi về đổi mới và chúng tôi vẫn khuyến khích anh em trong cái hướng đó và anh em hoàn toàn tán thành. Trong vấn đề đó thì về sau chúng tôi nhận thấy phải có một nhân vật làm đầu đàn cho cái chuyện này và đó là ông Kiệt. Khi ông Kiệt rút lui về miền Nam , ông Kiệt xây dựng cả một cơ sở của mình ở miền Nam để đi vào con đường đổi mới chính trị, điểm thứ hai là con đường chống TQ. Lập trường của Võ Văn Kiệt sau này rất rõ là phải ra khỏi TQ, đồng thời tiến đến con đường "Dân chủ hóa", con đường đó hoàn toàn phù hợp với con đường của Nguyễn Cơ Thạch. Khi chúng tôi nghe cái chuyện đó thì cũng biết như thế thôi, họ có cái nhóm sinh hoạt với Võ Văn Kiệt, gọi là nhóm thứ sáu, nhóm này đưa ra các chương trình thế nào để cải tổ kinh tế, cải tổ về lộ trình chính trị ... Cho đến năm 2007, do một sự tình cờ có một anh em trong nước ra ngoài này nói rằng hiện ông Kiệt ông ấy rất là trông chờ có sự hợp tác với anh em bên ngoài, bây giờ các anh em trí thức miền Nam đã có nhiều người bằng lòng ở lại để làm cố vấn cho ông ấy rồi (Kiệt), còn các anh em ngoài này thì ông ấy muốn mời một số anh em ngoài này về giúp cho thêm kiến thức mới cập nhật hơn ... 
Thế thì tôi có nói là anh em chúng tôi sẽ đưa ra một dự án: Nếu mà làm được như vậy thì tôi có một số anh em ngoài này ... để nói rất nhanh là tôi đề nghị làm một cái "think tank" vì bên ngoài có thói quen là phải có cái tổ, cái nhóm tư vấn, nhóm nghiên cứu chuyên môn để vận động, hay để giúp cho chính phủ về chính sách đối ngoại đối nội như thế nào ..., tôi có đưa đề nghị các anh em ngoài này hợp tác với một số anh em tiến bộ trong nước để làm một cái "think tank", để rồi họ sẽ đưa lên chính quyền để thay đổi hai cái hướng, thứ nhất là độc lập với TQ bảo vệ chủ quyền như thế nào, thứ hai là vấn đề đi vào con đường hội nhập với thế giới bằng lộ trình dân chủ hóa, chúng tôi có nói rằng chúng tôi không kêu gọi một sớm một chiều thay đổi ngay, nhưng nó phải có một cái hướng đã (tức là cái lộ trình phải đi như vậy), thì khi ông Kiệt nghe chúng tôi trình bày cái "concept", cái quan niệm như vậy thì ông Kiệt mời chúng tôi về ngay, ông nói đây chính là con đường chúng tôi mong muốn, và nếu quý vị ở ngoải này mà có được những ý kiến mới, kiến thức mới ... chúng tôi hoàn toàn xin được đóng góp. Do đó mà ông ấy (Kiệt) mời chúng tôi về. Để nói cho nó nhanh, chuyện tiến trình thảo luận với nhau rốt cuộc nó đi tới cái "Viện Nghiên cứu và Phát triển IDS" ở trong nước... nhưng tại sao cái IDS trong nước nó không hoàn toàn là cái do chúng tôi đề nghị : một nửa ở ngoài làm việc với một nửa trong nước. 
clip_image005
(T) Gs Lê Xuân Khoa trong lần được cựu TT Võ Văn Kiện mời về năm 2007, tham khảo lộ trình Dân chủ hóa và thực hiện nền kinh tế thị trường. Trong cuộc hội đàm nay, GS Lê Xuân Khoa đã đề xuất VN nên thành lập nhóm "Think Tank" phối hợp các chuyên gia trong và ngoài nước. Ảnh do Gs LXK cung cấp.
Cái IDS thực sự là 100% trong nước, cái tiến trình như thế này: khi ông Kiệt nói với chúng tôi thì (theo tôi hiểu) ông Kiệt có đặt vấn đề đối với trung ương tức là Bộ chính trị thì họ chấp thuận chuyện đó về nguyên tắc, nhưng về sau thì họ bác vì họ cho là đây là một cái âm mưu của thế lực thù địch không thể nào hợp tác với người bên ngoài được. Kêu gọi cá nhân về giúp thì được, còn cả một dự án họ đưa về quy mô như vậy thì không được. Chúng tôi lại chủ trương ngược lại không thể đi về lẻ tẻ, và đã làm việc thì phải có cái "đại quy mô", một quốc gia phải có nhiều mặt, nhiều người đóng góp đồng thời với nhau phải theo một lộ trình, một dự án kế hoạch đồng ý chung. Trên căn bản đó, trong nước họ không chấp thuận. 
Vì họ không chấp thuận cho nên ông Kiệt nhất định tranh đấu đòi thế nào cũng phải làm chuyện đó mới được, cho nên bộ chính trị họ đồng ý cho làm một nửa thôi tức là để cho người trong nước làm dự án đó, cái "think tank" đó, nói với người ngoài hãy chờ đó, nghĩa là chúng tôi bị loại ra, thì tôi có trả lời ông Kiệt rằng ít nhất cũng được một nửa, cứ làm đi, còn chuyện bao giờ cần chúng tôi thì chúng tôi sẽ giúp sau, bởi thế cho nên nó sanh ra cái IDS. Nhưng chúng ta biết bất đắc dĩ nó (CS) cho ra cái IDS ra thôi, tất cả các anh em trong IDS đều là những người thiện chí và chúng tôi đều muốn làm việc chung, nhưng khi họ bắ tay làm việc thì quả nhiên: chết yểu ngay! Khi ông Kiệt mất đi một cái là bị khó khăn không thể làm tiếp tục được, sau đó mấy tháng sau thì chính IDS ra một tuyên bố, tuyên ngôn kết án chính phủ là có ba cái phản ngược lại: phản dân chủ, phản khoa học, phản ... gì đó ... đến nỗi ông Nguyễn Tấn Dũng đòi trừng trị cái đám trí thức này. Sau này chắc cũng nhờ được cái ô dù nào đó họ can thiệp với nhau để chuyện đó bỏ qua đi. Như vậy có một mâu thuẫn rất lớn rõ ràng là có nhu cầu cải tiến, mà lúc đó ông Dũng chưa phải là người có tư tưởng tiến bộ, mãi sau này khi bắt đầu có cái chuyện vụ án vinashine, chuyện này kia ... vì cái chuyện lo ngại đó mà (Dũng) "giác ngộ", mà cũng chắc là có cái quan hệ gì đó với Mỹ nữa mà ông ta (Dũng) chọn cái con đường là phải "thoát" khỏi TQ. 
Văn Hóa: Thưa Gs, trở lại thời sự, mới đây, trong cuộc phỏng vấn của cô Trà My trên đài VOA với nguyên Đại sứ Pete Peterson tại VN, ông Petrson trả lời rằng:"Mỹ không ngầm muốn thay đổi ý thức hệ trong lòng Việt Nam", có nghĩa là không quan tâm đến chủ nghĩa "Xã hội Chủ nghĩa" mà đảng CSVN đang cai trị đối nội cũng như đối ngoại, điều đó có nói lên những vận động của Gs và các quý vị bên ngoài gần như bị "negative?"
Gs Lê Xuân Khoa: Tôi không nghĩ như vậy, bởi vì các sự vận động theo tôi nó có cái sự tiến bộ trong mối quan hệ giữa Mỹ và VN; lúc trước VN hoàn toàn đi với TQ mà không có đi với Mỹ và cảng ngày càng có thái độ là muốn đi với Mỹ, và ngay như tôi phân tích là cái nhóm thân TQ là nó bắt đầu nó thấy "nguy" là nếu cứ bám chặt TQ thì nhân dân người ta vùng dậy người ta lật đổ, cho nên nó mới phải dùng cái chuyện chấp nhận cái đồng thuận, một cái compromise với phe chống TQ bằng cách là "nhích" lại với phía Mỹ, còn nhích ra làm sao thì cái chuyện nội bộ của họ, cho đến bây giờ chúng ta chỉ có thể phỏng đoán thôi, nhưng trả lời câu hỏi "negative", thì chính chúng tôi luôn luôn hiểu như vậy, có nghĩa là khi mà đi với Mỹ thì tất nhiên Mỹ phải có sự nhân nhượng, không đòi 100% nữa, bởi vì muốn kéo họ về với mình thì có thể "dễ dãi" như thế nào để cho nó đứng có "sợ" quá. 
Đấy! ... cho đến khi mà hai cái phe nội bộ nó nhân nhượng với nhau, cái phe thân Tầu nó nhân nhượng để nó đi về phía tây phương, với Mỹ thì Mỹ cũng sẽ bắt đầu nhân nhượng lại mà không có thúc ép nhiều quá, do đó mới nói vấn đề là có thể chấp nhận chính quyền CS, chấp nhận một chính quyền độc tài; Mỹ đã hợp tác với bao nhiêu là nước độc tài CS như TQ, Nga, ... bây giờ thì Mỹ là một đối tác rõ ràng với TQ thì tất nhiên không có nghĩa là một nước CS thì Mỹ không hợp tác, cho nên mới có khuynh hướng chấp nhận vấn đề ý thức hệ không quan trọng; ý của Peterson nói là như thế. Đấy có thể là cái hướng nhượng bộ nào đó, nhân nhượng nào đó của Mỹ, nhất là về "nhân quyền" cũng có thể nhân nhượng một phần nào đó, nhưng VN phải tỏ thiện chí thật sự về vấn đề nhân quyền mới được, tức là hai bên cùng đi tới chứ không thể là một chiều; bởi vì bản chất của vấn đề "nhân quyền" nó khó hơn chuyện nhân hượng về "ý thức hệ". Mỹ có thể nhân nhượng về ý thức hệ nhưng Mỹ không thể nhân nhượng về nhân quyền được. 
Nhân nhượng ở chỗ có thể chậm lại một chút, nhẹ tay hơn một chút thôi nhưng vẫn phải đòi hỏi VN chứng tỏ thiện chí của mình, rất cụ thể thí dụ như thả một số người đã bắt chỉ vì khác quan điểm không phải là để lật đổ chính quyền, bạo động. Thứ hai là phải ngưng chuyện bắt bớ đàn áp các phong trào ái quốc, vấn đề tôn trọng nhân quyền ... ít nhất là hai điều đó mà tôi cho là gai góc nhất cho đến bây giờ chưa giải quyết xong giữa VN và TQ.  
clip_image006
Nguyên Đại sứ Mỹ Pete Peterson đầu tiên tại VN sau khi hai nước Mỹ - Việt chính thức ký kết bang giao. Ảnh Source VOA
clip_image007
Bức hình nhân chứng lịch sử mở ra mối quan hệ Mỹ- Việt chính thức bình thường hóa ngoại giao: Gs Lê Xuân Khoa gặp gỡ TT Bill Clinton (đây là chuyến công du đầu tiên của một Tổng Thống Mỹ tới Hà Nội từ ngày hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao 11 tháng 7, 1995) trong buổi tiếp tân ở tư dinh tân Đại sứ Mỹ Pete Peterson đầu tiên tại VN. Ảnh do Gs LXK cung cấp. 
clip_image008
Gs Lê Xuân Khoa và tân Đại sứ Pete Peterson tại Hà Nội. Ảnh do Gs LXK cung cấp.
Văn Hóa: Gần đây một nhà hoạt động dân chủ trong nước là Gs Tương Lai khi trả lời phỏng vấn của cô Trà My trên đài VOA có nói rằng: " Điểm một: "Hiện nay là chưa có một đảng chính trị nào, chưa có một tổ chức chính trị nào có thể thay thế đảng CSVN, mặc dù đảng này đã mất uy tín trong dân." Điểm hai: "Việt Nam không liên minh với một nước nào để chống lại một nước thứ ba, nhưng Việt Nam không nên từ bỏ quyền liên minh với ai, ví dụ như liên minh với Nga, với Mỹ, với Ấn Độ, Nhật Bản, Châu âu ..., cụ thể là VN đã mua sắm nhiều chủng loại vũ khí của nhiều nước, ... đứng về lãnh vực quốc phòng và chính trị, điều đó "lợi" hay "hại"? 
clip_image009

Giáo sư Tương Lai. Photo courtesy of giadinh.net
Gs Lê Xuân Khoa: Ông Tương Lai là người mà tôi có đối thoại nhiều khi tôi gặp ông Võ Văn Kiệt có ông Tương Lai ở đó, từ đó có sự trao đổi rất thường xuyên ... Tôi hiểu ông Tương Lai là người của đảng, ông nhìn nhận là chuyện phải thay đổi như là con đường mà chúng ta nói là "thoát Trung", thứ hai là thay đổi thể chế từ độc tài sang dân chủ, thì ông ấy "chọn" con đường đó thật, nhưng mà chọn đứng về phương diện chính trị thì ông Tương Lai là người của đảng, vẫn còn là người trong đảng cũng như một số anh em khác của đảng có tư tưởng tiến bộ. Cái chủ trương của ông Tương Lai là lúc này chưa có thể lập ngay một "đảng đối lập" được để có thể đi đến chỗ đa đảng được, là chỗ hãy thay đổi cái chế độ này từ độc tài sang dân chủ cái đã rồi từ đó nó sẽ đi đến những hình thức kia sau, nó là cái bước đường đầu tiên thôi, chứ còn bây giờ mà để cho ra ngay một chế độ dân chủ đa nguyên ngay thì điều đó là cái điều nó chống, thành ra, đứng về mặt ông ấy là người trong đảng, đứng về mặt một người nghiên cứu như tôi ở ngoài thì tôi thấy ... quan điểm đó nó cũng hợp lý thôi, nghĩa là ... lúc này chưa có thể cho rằng lập cái đảng khác để có thể nó đi đến xung đột ngay, bây giờ hãy chấn chỉnh cái đảng đó để dân chủ hóa chế độ, tôi cho đó là cái bước đầu tiên để có cái bước kế tiếp, chúng ta chấp nhận bước đầu trong cái lộ trình từng bước. 
Thứ hai là vấn để quốc phòng; nếu VN nhìn thấy nguy cơ TQ nó sẽ chiếm mình tới nơi rồi thì dù là các ông lãnh đạo, các người có phục tòng TQ đi nữa thì cũng phải "sợ" nhân dân, trắng trợn với nhân dân đến nỗi đồng ý rằng quốc phòng mình chẳng nên làm gì cả cứ theo TQ thôi chẳng cần phòng bị gì hết ... Cứ thế thì càng thách thức nhân dân quá, vấn đề như vậy là chứng tỏ cứ nô lệ quá, chọc tức nhân dân để người ta nổi dậy, cho nên điều đó (quốc phòng - trang bị vũ khí) chưa chắc là ý muốn thật sự của các ông lãnh đạo đảng là thành thực cho cái đảng của mình nó mạnh hơn để chống TQ để bảo vệ đất nước. Thật sự đây, cũng là điều (mua vũ khí) là để mặc cả với TQ là để xin ông anh đừng có mạnh tay quá để cho em được sống, đấy là tôi nghĩ đơn giản thế thôi! Thật sự ra tôi không có tin hoàn toàn cái chuyện họ tiến tới cái đó (mua vũ khí) để chống TQ. Lẽ dĩ nhiên mình cũng phải lợi dụng cái chuyện đó để mà mạnh ra, đồng thời cũng mong trong nước cái đám, cái giới chống TQ người ta dựa vào thế mạnh đó (có vũ khí) để mà đẩy được quân đội nhen nhúm lên có sẵn cơ sở mạnh để đối phó với TQ.  
Văn Hóa:  Trong chính sách đối ngoại của CSVN xưa nay người ta hay ví von đến từ ngữ "đu dây"; giả sử nếu VN có "đu dây" với các liệt cường hiện nay thì theo Gs nên "đu" như thế nào? 
Gs Lê Xuân Khoa: Hổi nẫy tôi có nói về cái đám thân Tầu, thân Mỹ như thế nào thì nó là cái chuyên "đu dây" rồi đấy. VN nói rằng không đi với ai để chống ai cả có nghĩa là chơi với tất cả các nước thì đó là chính sách chung như vậy, thì tôi lại hoàn toàn tán thành chính sách đó là VN không nên đi vào hẳn với nước nào cả mà phải "độc lập" với tất cả các nước. Nhưng độc lập đây không có nghĩa rằng là để cho nước nào đó nó khống chế mình mà mình phải chịu, cho nên trong cái thế độc lập này, tôi nói cụ thể là một bên là TQ và một bên là Mỹ, thì Mỹ làm gì với VN? Mỹ chỉ muốn VN ra khỏi TQ, tại sao? Tại vì TQ bây giờ chỉ muốn khống chế cái biển Đông, ngăn chận Mỹ ở biển Đông. Từ cả mấy trăm năm nay Mỹ làm chủ biển Đông, bây giờ (TQ) lại loại Mỹ ra khỏi biển Đông để TQ làm chủ tình hình biển Đông, để có thề chiếm hữu toàn thể Đông Nam Á, và từ đó làm cái bàn đạp để đẩy Mỹ ra khỏi vai trò của thế giới, do đó Mỹ không thể chấp nhận chuyện đó, thế cho nên Mỹ muốn VN phải tìm cách "thoát Trung" để mà dùng cái đó mặc cả với TQ là anh dừng có lấn tới chiếm hoàn toàn biển Đông. Phía Mỹ không có can thiệp vào nội bộ VN, chỉ muốn VN độc lập với TQ mà thôi. 
Cái này phải nói thêm là Mỹ đối với VN có thể vì quyền lợi kinh tế nào đó, nhưng sự thực quyền lợi kinh tế đối với VN cũng chỉ một phần thôi, rất nhỏ, chuyện chính là Mỹ không có tham vọng về đất đai, không bao giờ muốn xâm lược VN để chiếm đất, hay biến VN thành thuộc địa của mình; thứ hai là về Văn hóa, Mỹ cũng không nuôi ý đồ là "đồng hóa" VN, chẳng qua là chuyện giao lưu với nhau chứ không chủ trương như TQ là chính sách "Hán hóa". 
Mỹ không bao giờ muốn "Mỹ hóa" chủng tộc VN, Mỹ là nước đa chủng tôn trọng tất cả các chủng tộc, còn anh "Hán hóa" là anh muốn diệt Việt tộc, muốn biến Việt tộc thành Hán tộc. Đấy là cái thâm độc của TQ khác hẳn hoàn toàn với Mỹ, bởi thế nếu mà "đu dây" mà "đu" đúng như các ông (CS) chủ trương là độc lập thật sự không theo ai. Nếu mà làm "lợi" là lợi cho tất cả đôi bên, nói theo cái nghĩa "win - win situation", hai bên cùng có lợi. Tôi nghĩ trong cái việc "đu dây" với Mỹ và TQ rõ ràng nếu mà "đu dây" với Mỹ thì chúng ta giữ được độc lập chứ còn "đu dây" với TQ thì hoàn toàn bị TQ khống chế.  
Văn Hóa:  Theo nghĩa ấy thì "Hán hóa" có nghĩa là TQ sẽ chiếm toàn bộ đất đai cũng như biển Đông?
Gs Lê Xuân Khoa: Vâng! Cái đó chắc chắn là như vậy rồi! Ý đồ của TQ là phải lấy toàn bộ biển Đông và Đông Nam Á ... VN nằm ở vị trí chiến lược, một cái bàn đạp quan trọng vô cùng, lấy được VN rồi thì đi tới các nước (ASEAN) dễ dàng thôi. Cái trở ngại ghê gớm nhất là anh VN, nếu mà nó đứng lên đương đầu với TQ, thì cái khối này (chỉ vào bản đồ VN+Biển Đông)  anh TQ khó lòng mà lũng đoạn được. Quan trọng đối với TQ là nhất định phải lấy cho được VN. Đấy là chuyện nguy hiểm nhất cho mình là mình mất nước (đến nơi) hay không là ở chỗ này (chỉ vào bản đồ). Đây là cơ hội cho mình bảo vệ đất nước. Mất cái này (Biển Đông) là mình hoàn toàn mất luôn./
clip_image010
Gs Lê Xuân Khoa: "Đây là chỗ chứng tỏ lòng yêu nước, mất Biển Đông là mất tất cả". Ảnh VH trích từ video.

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2015

[Tóm lược tiểu sử]-Hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm sinh Nguyễn Đổng Chi (1915-2015)

Hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm sinh Nguyễn Đổng Chi (1915-2015)

bauxitevn8:54 AM


Tóm lược tiểu sử Nguyễn Đổng Chi
Người đắm mình trong văn hoá dân gian Việt
LTS.  Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà văn hoá Nguyễn Đổng Chi, Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học tại TP HCM, Tập đoàn truyền thông Thanh niên và Nhà xuất bản Trẻ cùng đứng ra tổ chức một Hội thảo vinh danh ông vào ngày 7.5.2015 tại TP HCM. Hội thảo quy tụ khoảng 200 người tham dự, phần lớn là giảng viên, sinh viên của các trường đại học và viện nghiên cứu văn hoá, văn học từ nam chí bắc. Ban tổ chức cho biết đã nhận được 60 bài tham luận, và chọn 32 bài đăng trong Kỷ yếu (với sự cộng tác của tạp chí Nghiên cứu & Phát triển), 12 bài được trình bày ngay tại hội thảo. Các tham luận thuộc về 4 khu vực :
1. Nguyễn Đổng Chi - Thân thế và sự nghiệp;
2. Nguyễn Đổng Chi và văn hóa dân gian Việt Nam, chủ yếu tập trung quanh các tác phẩm Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (1958-1982), Địa chí văn hóa dân gian Nghệ-Tĩnh (1980-1983, in 1995), Mọi Kontum (1933-1936, in 1937), có đề cập đến Lược khảo về thần thoại Việt Nam (1956) và Hát giặm Nghệ-Tĩnh (1944 và 1962-1963);
3. Nguyễn Đổng Chi và văn học cổ điển Việt Nam, với các tác phẩm chính Việt Nam cổ văn học sử (1942) và Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam 5 tập (1957-1960); 
4. Nguyễn Đổng Chi và sáng tác văn học, chung quanh phóng sự Túp lều nát (1937) và truyện vừa Gặp lại một người bạn nhỏ (1949, in 1957).
Diễn Đàn chân thành cảm ơn giáo sư Nguyễn Huệ Chi, "người con gần gũi với nghề nghiệp của thân phụ" đã gửi cho chúng tôi xem một số bài tham luận trong hội thảo để chúng tôi được "tuỳ nghi". Phải nói thực là chúng tôi đã choáng ngợp trước chất lượng của nhiều bài trong đó, và càng choáng ngợp hơn trước tầm vóc của nhà văn hoá mà các bài viết đó góp phần chỉ ra những phẩm chất cao quý:  một nhà dân tộc học "tài tử" nhưng lại "nắm rất vững phương pháp nghiên cứu khoa học, nghiêm túc, chặt chẽ, chủ động và sáng tạo", một "nhà sưu tầm điền dã đạt đến độ mẫu mực", một người suốt đời "miệt mài tìm kiếm các di sản văn hoá dân tộc", một nhà báo với những thiên phóng sự "đậm chất văn học"... 
Trong khuôn khổ một tờ báo, Diễn Đàn xin đăng lại trong hồ sơ đặc biệt Nguyễn Đổng Chi này :
- Một bài "tóm lược tiểu sử" của Nguyễn Đổng Chi (dưới đây), rút từ các bài tiểu sử và danh mục tác phẩm của ông, do GS Nguyễn Huệ Chi cung cấp. Trong bài này, chúng tôi đã in nghiêng và đậm những tên tác phẩm đã hoàn thành, đã hoặc chưa in thành sách, của ông. Ngay trong bài, có những chỉ dẫn đầy đủ về nhà xuất bản, năm xuất bản... Ngoài các sách nói trên, danh mục đầy đủ các nghiên cứu, trước tác của Nguyễn Đổng Chi phải kể đến hàng trăm bài viết cho nhiều tờ báo, tập san nghiên cứu và kỷ yếu của nhiều hội nghị khoa học trong các lĩnh vực dân tộc học, văn học, văn hoá học, lịch sử..., bạn đọc quan tâm có thể tìm đọc trong phần phụ lục của tác phẩm Nguyễn Đổng Chi, Học giả - nhà văn (Kỷ yếu Hội thảo 100 năm năm sinh của NĐC do Nxb Trẻ ấn hành).
-  Bài viết Làng Ba-na trong sách NGƯỜI BA-NA Ở KONTUM của Nguyễn Kinh Chi- Nguyễn Đổng Chicủa nhà văn Nguyên Ngọc, người được coi như hiểu biết nhất về các dân tộc Tây Nguyên hiện nay, nhưng vì lý do chính trị (ông cũng là người chủ trì  Văn đoàn độc lập, và là một trong 61 đảng viên đã ký Thư ngỏ gửi BCH TƯ và toàn thể đảng viên ĐCSVN ngày 28.7.2014) nên ban tổ chức hội thảo đã... không tiện mời ông tham dự.
- Bài Đọc lại Túp lều nát của Nguyễn Đổng Chi, của nhà văn Phạm Xuân Nguyên.
- Các bài viết của Nguyễn Thị HuếHy Tuệ và một số trích đoạn của các tác giả khác bàn về tác phẩm Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam vừa được tái bản (*) nhân Hội thảo này.
Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.
Diễn Đàn
(*) Sách do NXB Trẻ tái bản (2015)  in thành hai tập, bìa cứng, khổ 16x24, tổng cộng khoảng 1800 trang, giấy tốt, giá bìa 1 triệu đồng cả bộ (khoảng 50 USD hay 42 €, tỉ giá đầu tháng 5.2015). 
clip_image002
Nguyễn Đổng Chi sinh ngày 6-1-1915 tại Phan Thiết. Thân phụ ông là nhà nho duy tân Nguyễn Hiệt Chi, người xã Ích Hậu, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, vào đây từ đầu thế kỷ XX, cùng bè bạn tổ chức ra Công ty nước mắm Liên Thành từ năm 1905, đồng thời cũng thành lập Liên Thành Thư quán và mở trường dạy quốc ngữ Dục Thanh để kêu gọi canh tân đất nước theo đường lối của Phan Châu Trinh. Sau khi người em ruột là Nguyễn Hàng Chi, cầm đầu phong trào “khiếu sưu” (xin giảm sưu thuế) của Nghệ Tĩnh bị Pháp bắt và xử chém năm 1908 tại Hà Tĩnh, ông Đầu xứ Thuận (tên gọi khác của Nguyễn Hiệt Chi) cũng bị Pháp tình nghi, bắt giam một thời gian, đành phải thi lấy bằng Tú tài và vào ngạch giáo chức, dạy học ở Phan Thiết đến 1918 thì chuyển ra Trường Quốc học Huế, rồi về Trường quốc học Vinh (1920). Nguyễn Đổng Chi đi theo gia đình. Ông học ở Vinh, kế đó được anh trai đưa vào Đồng Hới.
Sau khi tốt nghiệp tiểu học (primaire) ở Đồng Hới năm 1931, Nguyễn Đổng Chi trở ra Vinh thi vào trung học ở Trường Quốc học Vinh nhưng bị hỏng. Không nản chí, ông tìm cách học tư và xoay sang kinh doanh, học và mở một dược phòng bào chế thuốc nam, đồng thời làm đại lý hàng mây, tre xứ Nghệ. Vốn yêu thích văn chương, ông lập ra Kho sách bạn trẻ, viết và dịch các loại sách cho trẻ em theo kiểu sách hồng, trong năm 1932 in được 5 quyển: Chí quả quyếtTài trẻ nước NamMột nhà tan họpVườn xuân ban trẻTìm ra châu Mỹ, lấy tên thư viện gia đình Mộng Thương Thư trai làm nhà xuất bản.
Trong năm 1933, đang học dở trung học tư thục, nhận lời người anh là Y sĩ Nguyễn Kinh Chi vừa đổi lên Bệnh viện Kon Tum, ông lên Kon Tum cùng với anh khảo sát về dân tộc Ba-na. Hơn một năm đi vào các làng bản người Ba-na, cùng ăn cùng chơi với họ, hai anh em ghi chép được nhiều tư liệu và trong những năm 1933-1936 hoàn thành cuốn sách lấy tên Mọi Kontum, do Mộng Thương Thư trai in ở Nhà in Mirador, Huế năm 1937, nhằm giải thích nghiêm túc nếp sống tinh thần của dân tộc Ba-na để đánh bạt đi những thành kiến hẹp hòi thuở ấy. Công trình này được coi là “mẫu mực đầu tiên của người Việt về dân tộc học” (PGS TS Mạc Đường) “một sản phẩm khoa học có chất lượng cao nhất”, là “cuốn sách dân tộc học thực sự, được nghiên cứu và viết ra với phương pháp khoa học và tinh thần phê phán”, có thể “so sánh nó với lối tiếp cận tổng thể và theo chủ đề của Combes, nhưng ở đây, các tác giả đã đẩy lên một mức độ tinh tế cao hơn hẳn” (TS Andrew Hardy).
Trở lại Vinh vào cuối năm 1934, Nguyễn Đổng Chi tiếp tục theo học trung học, và cũng đeo đuổi việc làm báo, viết sách. Ông làm trợ bút cho báo Thanh Nghệ Tĩnh tuần báo, cộng tác với các báo Tiểu thuyết thứ Hai(Hà Nội), Phụ nữ tân văn (Sài Gòn) , viết tập truyện Yêu đời, Mộng Thương Thư trai xuất bản 1935, được giải nhì của báo Tiểu thuyết thứ Hai. Tập phóng sự Túp lều nát, tập hợp một số bài báo, được xuất bản vào năm 1937 trong thời Mặt trận Bình dân Pháp nhưng tác giả cũng bị Mật thám Hà Tĩnh gọi vào “thăm hỏi” hai lần.
Năm 1939, học xong đệ tam trung học, không thi Thành chung, sau khi tham gia phong trào Dân chủ phản đế ở Vinh, Nguyễn Đổng Chi lánh về quê, củng cố lại Mộng Thương Thư trai, đọc sách và học chữ Hán. Để việc học hành không xao lãng, ông đã cạo trọc đầu, để tóc trái đào trong liền mấy năm; cũng thời gian ấy bắt tay biên soạn các cuốn Việt Nam cổ văn học sử (Hàn Thuyên xuất bản cục, Hà Nội, 1942, gây được tiếng vang rộng rãi sau lúc ra mắt), Đào Duy Từ (được giải thưởng khuyến khích của Học hội Alexandre de Rhodes do Nguyễn Văn Tố đứng đầu, năm 1943, nhưng về sau thất lạc bản thảo), dịch Thoái thực ký văn của Trương Quốc Dụng (Nhà xuất bản Tân Việt, Hà Nội, 1944).
Khoảng giữa năm 1940, ông tham gia các phường hát giặm ở huyện Nghi Xuân và bắt tay viết cuốn Hát dặm Nghệ Tĩnh, quan tâm đến thủ tục, lề lối hát, làn điệu hát, và gương mặt đầy cá tính của các nghệ nhân (Nhà xuất bản Tân Việt, Hà Nội, 1944).
Năm 1942, ông cùng người bạn thân Nguyễn Chung Anh ra Hà Nội, đọc sách ở Viễn Đông bác cổ và tham gia mặt trận Việt Minh. Đầu năm 1943 họ cùng trở về huyện nhà tiếp tục gây dựng phong trào chống Pháp ở Can Lộc cho tới cuối năm thì bị khủng bố, phong trào tan vỡ, người bị bắt, người tạm trốn tránh, Nguyễn Đổng Chi vào Huế một thời gian. Tháng 3-1945, Nhật đánh đổ Pháp ở Đông Dương, các bạn tù được thả, Đoàn thanh niên cứu quốc và Đội vũ trang khởi nghĩa Can Lộc sống lại, Nguyễn Đổng Chi hoạt động mạnh trong phong trào thanh niên, góp phần vào cuộc khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở huyện nhà trong cách mạng tháng 8.1945.
Cuối năm 1945, Nguyễn Đổng Chi được triệu tập ra Vinh làm Trợ bút báo Kháng địch và Chủ nhiệm báo Truyền thanh. Ông được bầu làm Chủ tịch Hội văn hóa cứu quốc Nghệ An. Ông lập Nhà xuất bản Ngàn Hống, viết các cuốn Phạm Hồng Thái (in 1946), Lược sử các phong trào cách mệnh trên thế giới (mới xong 3 cuốn: Cách mệnh Hoa KỳCách mệnh PhápCách mệnh Phi Luật Tân, đều lần lượt in tại nhà xuất bản này trong năm 1946). Cuối năm đó, được điều chuyển sang Nha Tài chính Trung Bộ, ra Hà Nội làm việc. Kháng chiến toàn quốc nổ ra, ông ở lại tham gia Đội Tự vệ, cầm cự với Pháp trong hai tháng ở mạn Nam Hà Nội. Đầu năm 1947, được lệnh của Nha Tài chính, ông rời khỏi tự vệ trở về lại khu IV tiếp tục công tác kinh tài, làm Chánh văn phòng Đồn điền Bà Triệu, rồi Chánh văn phòng Ban kinh tài Liên khu IV. Năm 1949, ông viết truyện dài Gặp lại một người bạn nhỏ, lấy bối cảnh người và việc của cuộc kháng chiến Thủ đô mà mình tham dự. Năm 1951, lại được chuyển sang làm Giám đốc Nhà xuất bản Dân chủ mới, Liên khu IV.
Gặp lúc đường lối mao-ít của cách mạng Trung Quốc lan tới khu IV, ông cùng người anh đang làm Thứ trưởng bộ Y tế và người em đang làm Đốc công Xưởng giấy Đông Nam ở Hà Tĩnh, đồng loạt xin nghỉ về quê dưỡng bệnh (1953). Nguyễn Đổng Chi được mời giảng dạy Trường cấp II Nguyễn Hàng Chi tại quê nhà và tham gia Mặt trận Liên Việt Hà Tĩnh. Ở Việt Bắc, Ban nghiên cứu Văn sử Địa trung ương (lúc đầu lấy tên Ban Sử Địa Văn) do nhà sử học Trần Huy Liệu sáng lập, cũng có thư liên lạc mời ông làm cộng tác viên. Nhưng cuộc phát động Giảm tô ở Hà Tĩnh vào giữa năm 1954 làm đứt đoạn mọi hoạt động, ông bị quy lên thành phần địa chủ. Giữa lúc đang nơm nớp chờ đợi phong trào Cải cách ruộng đất (CCRĐ) đợt 5 sẽ tiến hành ở Nghệ Tĩnh vào cuối năm 1955, thì Nguyễn Đổng Chi nhận được thư mời của Trần Huy Liệu ra Hà Nội công tác ở Ban Văn Sử Địa. Sau nhiều trắc trở, Công an Hà Tĩnh cấp giấy thông hành cho ông ngày 24-5-1955.
Đến Hà Nội được ít lâu, Nguyễn Đổng Chi bắt tay viết Lược khảo về thần thoại Việt Nam, công trình được duyệt in tại Nhà xuất bản Văn Sử Địa trong năm 1956 và tái bản trong cùng năm. Khi cuộc CCRĐ đợt 5 bùng lên ở đồng bằng Bắc Bộ (đầu 1956), Trần Huy Liệu giới thiệu Nguyễn Đổng Chi đến gặp UB CCRĐ trung ương để về UB CCRĐ khu III và Hà Đông sưu tầm Tài liệu Hán Nôm. Cũng những ngày đó lại có giấy của Đội CCRĐ xã Ích Hậu đòi trả Nguyễn Đổng Chi về quê cho nông dân đấu tố. Trần Huy Liệu nhất thiết không chấp nhận. Từ nơi sưu tầm tài liệu Hán Nôm trở về Hà Nội cuối năm 1956, ông được bố trí cùng Trần Văn Giáp và Hoa Bằng tham gia giúp Bộ Giáo dục tiếp quản Trường Viễn Đông bác cổ Pháp. Đến đầu năm 1958, công việc mới hoàn thành.
Song song với việc tiếp nhận sách vở nói trên, trong năm 1957, Nguyễn Đổng Chi còn đảm nhiệm biên soạn Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, 5 quyển, do một tập thể 5 tác giả viết chung. Sách lần lượt ra đời từ 1957 tới 1960 (Nhà xuất bản Văn Sử Địa và Nhà xuất bản Sử học). Cũng năm này, cuốn Gặp lại một người bạn nhỏ viết từ 1949 của ông được Nhà xuất bản Hội nhà văn xuất bản.
Năm 1958, Nguyễn Đổng Chi hoàn thành 2 tập đầu Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam và được duyệt in (Nhà xuất bản Văn Sử Địa). Sách sớm có tiếng vang rộng rãi ra ngoài nước. Ở Pháp, Maurice Durand và Lê Văn Hảo cùng lúc viết hai bài bình luận trên Tập san Trường Viễn Đông bác cổ (BEFEO, 1-1964). Từ đó đến 1982, trong 25 năm, lần lượt các Tập 3, 4, 5 ra đời (các Nhà xuất bản Sử học, Khoa học và Khoa học xã hội) và liên tục tái bản, mỗi lần in 7 đến 10 vạn bản, mỗi lần tái bản tác giả đều kỳ công bổ sung, chỉnh lý, nâng độ dày tác phẩm lên so với lần in trước.
Năm 1959, sách Lược khảo về thần thoại Việt Nam và Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam lọt vào miền Nam, bị một vài học giả sao chép, vay mượn, làm dấy lên những vụ tranh cãi và kiện tụng về việc “đạo văn”. Bài viết trực diện nhất là của Đường Bá Bổn trên nguyệt san Văn hóa, Sài Gòn. Cũng năm này Ban Văn Sử Địa tách thành các Viện Sử học, Viện Văn học để thành lập Uỷ ban Khoa học nhà nước, Nguyễn Đổng Chi được giữ lại ở Viện Sử học, chuyển sang Tổ Cổ sử, tham gia lớp học về khảo cổ học của GS Boriskovsky (Liên Xô). Sau đó, trong cuộc thám sát Núi Đọ ở Thanh Hóa đầu năm 1960, ông có may mắn cùng hai cộng sự tìm ra đầu tiên nhiều “mảnh tước clac-tôn” (éclat clactonien), và các “dụng cụ chặt thô” (choppers)... là dấu tích di chỉ sơ kỳ thời đại đồ đá cũ. Phát hiện này trở thành sự kiện nổi bật được thế giới chú ý. Trong năm 1960, ông được cử đi nghiên cứu các di tích khảo cổ ở Trung Quốc trong 2 tháng.
Và cũng trong vài năm đầu thập niên 60, Nguyễn Đổng Chi trở lại với việc nghiên cứu folklore quen thuộc xung quanh loại hình hát giặm và vè Nghệ Tĩnh. Ông cùng vợ trở về Hà Tĩnh sưu tầm điền dã nhiều đợt, sau đó bắt tay viết lại tập 1 Hát Giặm Nghệ Tĩnh, đi sâu xem xét âm phổ của các làn điệu hát giặm (sách được in ở Nhà xuất bản Khoa học năm 1963 với lời tuyên bố: bỏ bản in lần thứ nhất, 1944); cùng Ninh Viết Giao sưu tập tiếp các bài hát giặm vè cho Tập II và Tập III (Nhà xuất bản Sử học và Nhà xuất bản Khoa học 1962-1963); chủ biên 2 tập Vè Nghệ Tĩnh (Nhà xuất bản Văn học 1965) và cùng người vợ khởi công biên soạn Văn học dân gian sưu tầm ở Ích Hậu (hoàn thành năm 1969, chưa in). Nguyễn Đổng Chi cũng tham gia cùng GS Đào Duy Anh hiệu đính và làm sách dẫn các tập Việt sử thông giám cương mụcLịch triều hiến chương loại chí do Tổ Phiên dịch Ban Văn Sử Địa dịch ra tiếng Việt.
Khi Viện Sử học đề xuất nghiên cứu các vấn đề nông thôn Việt Nam trong lịch sử, Nguyễn Đổng Chi vừa tham gia nghiên cứu về chế độ gia trưởng, sở hữu ruộng đất, quan hệ thân tộc trong làng xã Việt Nam thời Trung đại, vừa chuyên tâm khảo sát phong trào nông dân. Cuốn sách Lịch sử phong trào khởi nghĩa nông dân và chiến tranh nông dân ở Việt Nam Tập I hoàn thành năm 1968, được Ban duyệt Viện sử học thông qua ngày 18-1-1968 (hiện chưa in). Tập II được biên soạn tiếp ngay sau đó nhưng đến tận lúc mất, một vài chương cuối vẫn chưa hoàn thành. Gắn liền với bộ sách trên, tập chuyên khảo lý luận Góp phần tìm hiểu lịch sử đấu tranh của nông dân việt Nam trong xã hội phong kiến cũng được ông biên soạn và trải qua nhiều giai đoạn đọc duyệt. Chỗ mắc míu là quan điểm của người viết về nguyên nhân của mọi cuộc nổi dậy không “bám sát kinh điển”: Theo ông, không phải chính tầng lớp nông dân bần cùng nhất tự thức tỉnh mà vai trò nhận thức của người tiểu trí thức mới có giá trị như những tia lửa làm cháy bùng ngọn lửa đấu tranh. Sách được GS Nguyễn Khánh Toàn viết Lời tựa năm 1978 nhưng tác giả còn sửa thêm và cho đến lúc ông mất (1984) vẫn chưa in.
Năm 1973-1974, Nguyễn Đổng Chi được sung vào một đoàn điều tra bí mật của Phủ Thủ tướng dọc đường biên giới phía Bắc và phía Tây đất nước, đi sâu vào quá vĩ tuyến 17, trong 18 tháng. Trước đó, ông đã được đề nghị làm đặc khảo về hai vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng sau khi chấm dứt việc điều tra biên giới, ông lại được Bộ Ngoại giao gửi công văn mật yêu cầu tìm tiếp tài liệu Hoàng Sa và Trường Sa cho Bộ Ngoại giao.
Vào tháng 7-1975, Nguyễn Đổng Chi được lệnh vào Nam tham gia Uỷ ban đổi tên đường phố ở Sài Gòn và các tỉnh phía Nam. Tiếp đó, ông được giữ lại trong biên chế của Viện Khoa học xã hội tại TP Hồ Chí Minh khi Viện này thành lập (1976). Tuy nhiên, đến năm 1977, ông lại được điều ra làm Trưởng ban Ban Hán Nôm trực thuộc Uỷ ban khoa học Xã hội. Những năm này, ông lo đào tạo một đội ngũ cán bộ Hán Nôm trẻ, tổ chức các đợt sưu tầm tài liệu Hán Nôm trong cả nước, hoàn thành đề cương bộ Từ điển thư tịch Hán Nôm và tiến hành tổ chức biên soạn các “từ điều” cho bộ sách. Trong năm 1979, Ban Hán nôm chuyển lên thành Viện Hán Nôm, ông được bổ nhiệm Quyền Viện trưởng.
Trong năm 1980, chuẩn bị cho lễ kỷ niệm quốc tế 600 năm sinh Nguyễn Trãi, các hội nghị khoa học về thành tựu nhiều mặt của Nguyễn Trãi diễn ra trong gần suốt năm. Nguyễn Đổng Chi chủ trì Hội thảo về văn bản Quốc âm thi tập. Trong Lễ kỷ niệm, ông được mời làm Uỷ viên Chủ tịch đoàn.
Năm 1981, Nguyễn Đổng Chi chủ động xin thôi chức vụ ở Viện Hán Nôm, chuyển sang làm việc ở Ban Văn hóa Dân gian vừa ra đời. Ban đề xuất kế hoạch biên soạn các bộ địa chí văn hóa dân gian ở một số tỉnh. Ông được giao chủ biên Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh, và ròng rã trong 3 năm là những ngày vừa điền dã ở khắp mọi vùng đất xứ Nghệ, xen kẽ với những ngày nung nấu suy nghĩ và viết. Đến cuối năm 1983 bản thảo bộ sách hoàn thành, nhưng mãi đến 1995 mới đủ kinh phí để in (Nhà xuất bản Nghệ An).
Năm 1984, Nguyễn Đổng Chi được cử đi nghiên cứu ở Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô và một số Viện trực thuộc. Ông trình bày thành quả nghiên cứu folklore của Việt Nam ở Viện Văn học Gruzia và Ukraina. Tháng 7 năm đó, ông được phong Giáo sư, nhưng ngày 20-7-1984, ông mất đột ngột do một tai nạn bất ngờ giữa lúc đang bị cảm. Uỷ ban Khoa học Xã hội tổ chức tang lễ, do GS Phạm Huy Thông làm Trưởng ban. Đại tướng Võ Nguyên giáp, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phụ trách khoa học thay mặt Nhà nước đến viếng.
Năm 1993, Viện Văn học in lại trọn vẹn 5 tập Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam dựa theo bản chỉnh sửa cuối cùng của tác giả. Bộ sách dày 2740 trang, khổ 13x19.
Năm 1995, Uỷ ban khoa học Xã hội Việt Nam phối hợp với Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm ngày sinh Nguyễn Đổng Chi cùng Hội thảo khoa học về nhà văn hóa Nguyễn Đổng Chi. Kết quả, cuốn sách Nguyễn Đổng Chi – Người miệt mài tìm kiếm các giá trị văn hóa dân tộc được phát hành năm 1997 (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội). Trước đó một năm, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt I (1996). Và sau đó 2 năm, năm 1999, ông được truy tặng Huân chương Độc lập hạng nhì.
(theo) Nguyễn Huệ Chi

Hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm sinh Nguyễn Đổng Chi (1915-2015)

Hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm sinh Nguyễn Đổng Chi (1915-2015)

bauxitevn8:49 AM


Nguyên Ngọc(*)
Năm 2008 tôi có tham gia việc xuất bản sách Rừng người thượng của Henri Maitre, viết năm 1912, được coi là công trình khảo sát Tây Nguyên công phu và toàn diện nhất cho đến tận ngày nay. Sách do Viện Viễn Đông bác cổ ở Hà Nội phối hợp với Nhà xuất bản Tri thức ấn hành. Người dịch là Lưu Đình Tuân, tôi nhận phần hiệu đính và viết “Phàm lệ”. Có một Ban khoa học được thành lập để xử lý những vấn đề khoa học liên quan đến việc dịch và in sách. Chúng tôi gặp ngay một vấn đề: trong nguyên bản tiếng Pháp, sách có tên là Les jungles moi, có thể dịch là Rú mọi hay Rừng mọi. Ban khoa học cân nhắc, thấy để từ mọi ngay trên bìa sách sẽ dễ gây sốc, nên quyết định bản dịch ra tiếng Việt sẽ có tên trên bìa là Rừng người thượng; tuy nhiên bên trong sách thì giữ nguyên từ mọi đúng như nguyên bản, và sẽ nói rõ lý do trong “Phàm lệ”. Được giao giải thích điều này trong “Phàm lệ”, tôi đã viết rằng theo tôi từ mọi vốn ban đầu không hề có ý nghĩa xấu. Nó bắt nguồn từ từ tơmoitrong tiếng Ba-na (Bahnar), có nghĩa là khách. Tôi đã biết từ này khi sống ở vùng Ba-na. Cẩn thận, tôi tìm tra thêm Từ điển Bahnar - Pháp của Guilleminet; theo Guilleminet tơmoiđược dịch sang tiếng Pháp có các nghĩa sau: hôte (khách), invité d’un autre village (khách được mời từ một làng khác đến), étranger (lạ, người lạ), ennemi (thù, kẻ thù), pays étranger (nước khác, ngoại quốc). Những người phương Tây đầu tiên lên Tây Nguyên là các Linh mục Thiên chúa giáo; khi bị Triều đình nhà Nguyễn truy đuổi họ tìm đường lên vùng cao nguyên miền Tây để tránh khủng bố, và truyền đạo vào người bản địa nhằm xây dựng cơ sở lâu dài. Sau nhiều nỗ lực thất bại, họ đến được vùng người Ba-na ở Kon Tum, lập xứ đạo Kon Tum, là xứ đạo Thiên chúa giáo đầu tiên tại đây, đến nay vẫn là xứ đạo Thiên chúa lớn nhất và quan trọng nhất ở Tây Nguyên. Bấy giờ những người Ba-na Kon Tum đến gặp các nhà truyền giáo thường xưng là tơmoi, là khách. Các nhà truyền giáo lại hiểu rằng đấy là họ tự giới thiệu tên tộc người của họ. Về sau dần dần tiền tố  bị rớt đi, còn lại moi, moi nghiễm nhiên trở thành tên gọi người bản địa.
Người Pháp gọi là moi, người Việt gọi là mọi, hoàn toàn là một danh xưng.Mọi chỉ mang ý nghĩa xấu khi quan hệ giữa người Việt với người bản địa Tây Nguyên nhuốm màu sắc khinh miệt, và ghép với rợ là từ Hán Việt thành mọi rợ… Khi Rừng người thượng ra đời, đọc “Phàm lệ”, một số nhà dân tộc học ở Hà Nội bảo rằng tôi là người duy nhất giải thích nguồn gốc của từ mọi như vậy. Họ có một giả thuyết khác, theo họ mọi bắt nguồn từ từ moltrong tiếng Mường có nghĩa là người. Tôi không phải là nhà dân tộc học hay nhà ngôn ngữ học, tôi chỉ xin nêu câu hỏi: nếu mọi xuất phát từ từ mol của người Mường, một tộc người sống ở phía Bắc, thì tại sao các tộc người thiểu số miền núi như Tày, Nùng, Dao, Thái, Lô Lô, Sán Dìu, v.v. cùng sống ở phía Bắc, gần người Mường hơn nhiều, ít nhất về địa lý, không bao giờ được gọi là mọi, mà chỉ có các tộc người bản địa Tây Nguyên xa tít ở phía Nam mới mang tên mọi?
Tôi đọc Người Ba-na ở Kon Tum từ mấy chục năm trước. Như ta đều biết, khi đó nó có tên nguyên gốc là Mọi Kontum. Khi được Viện Viễn Đông bác cổ ở Hà Nội phối hợp với Nhà xuất bản Tri thức tái bản năm 2011, nó cũng có một Ban khoa học, và cái ban ấy cũng gặp vấn đề đúng như ở Rừng người thượng sáu năm trước. Mọi Kontum được đổi tên thành Người Ba-na ở Kon Tum. Lần này tôi cũng được tham gia Ban khoa học nhưng không phải viết giải thích gì trong “Phàm lệ” nữa, vì đã có hai người đầy đủ uy tín về thực tế và khoa học hơn tôi rất nhiều trả lời, từ năm 1937, nghĩa là trước đấy đến những… 74 năm. Đó là Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi, hai nhà dân tộc học “tài tử” mà cực kỳ tài năng. Ngay trong tác phẩm Mọi Kontum của mình, đặc sắc đến mức ngày nay đọc lại không khỏi khiến chúng ta kinh ngạc, các ông đã bày tỏ ý kiến về chuyện này. Các ông viết như sau ở một chú thích đầu chương Nhân dân: “Chữ ‘Mọi’ ở đâu ra? Xét trong tiếng nói của người Ba-na có tiếng ‘tơmoi’ nghĩa là khách. Người Ba-na dùng tiếng ấy để chỉ những người làng khác hoặc bộ lạc khác đến làng hoặc bộ lạc mình. Ví dụ người Djarai hoặc Xơđang đến xứ Bahnar thì người Bahnar kêu là tơmoi Djarai, tơmoi Xơdang nghĩa là khách Djarai, khách Xơdang. Người Annam đến xứ họ, họ cũng kêu là tơmoi. Vậy theo thiển kiến chúng tôi thời tiếng mọi có lẽ ở trong tiếng tơmoi của người Bahnar mà ra, chứ không phải một tiếng mà người Annam đặt ra để chế nhạo giống người ở trên rừng núi, như nhiều người nói. Có lẽ khi người Annam mới giao thiệp với người Bahnar, thường nghe những thứ tiếng tơmoi Djarai, tơmoi Xơdang, v.v., bèn bắt chước mà nói theo. Lần lần lại bỏ tiếng ‘tơ’ mà chỉ giữ lấy tiếng ‘moi’ (vì tiếng mình là tiếng độc âm). Sau lâu ngày tiếng ‘moi’ hóa ra một tiếng chỉ tên chung cho cả dân thổ trước ở trên rừng về phía Nam, cũng như những tiếng ‘Mán, Mường’ ở ngoài Bắc. Hai tiếng này cũng là tiếng của thổ nhơn mà ta dùng theo. Còn như ngày nay người Annam dùng những tiếng: Mọi, Mán, Mường để chỉ người hoặc việc có tính chất khờ dại thì không khác chi người Pháp dùng tiếng ‘chinoiserie’ để chỉ những việc kỳ quặc khó hiểu”[1].
Mấy mươi năm trước đọc Mọi Kontum, tôi đã không chú ý đến chú thích này, chỉ rất thích thú với những khảo sát chính xác, tỉ mỉ và mô tả hết sức sống động của các tác giả về người Ba-na, xã hội và đời sống của họ. Ngày nay đọc lại Người Ba-na ở Kon Tum, gặp chú thích này, tôi mừng thấy hai tác giả từng trải có ý kiến gần gũi mình về gốc tích từ mọi. Đúng ra sau khi đã tìm thấy gốc của mọi từ tơmoi, cách giải thích tiếp của hai ông có khác tôi: tôi cho rằng các Giáo sĩ phương Tây là những người đầu tiên nhầm từ tơmoi ra moi, rồi mọi. Hai ông thì cho rằng chính những người Việt (bấy giờ là những thương lái đi buôn bán ở miền núi) nghe người Ba-na gọi người Gia-rai (Djarai) , Xơ-đăng (Sedang) … là tơmoi, từ đó mà dẫn đến từ mọi… Nay nghĩ lại tôi thấy có lẽ cách giải thích của hai ông đúng hơn. Ở bản đồ Đàng Trong của Alexandre de Rhodes đã thấy ghi Ke Moi, Kẻ mọi, trên vùng đất nay là Tây Nguyên. Ta biết A. de Rhodes đến Đàng Trong sớm hơn thời gian các nhà truyền giáo bị Triều đình Huế khủng bố phải chạy lên vùng Ba-na ở Kon Tum. Rất có thể Rhodes bấy giờ ngồi ở Hội An, nơi ông làm chữ quốc ngữ, đã nghe những người thương lái Quảng Nam chuyên đi buôn ở miền thượng nói về vùng mọi trên các dãy núi phía Tây… Nhận xét của Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi, chỉ riêng về một chi tiết rất nhỏ là cách gọi tên người Tây Nguyên thôi, cho thấy các ông đã quan sát, suy nghĩ rất kỹ và có nhận xét rất tinh tế.
Tuy nhiên đối với từ tơmoi, vấn đề không chỉ có thế. Hãy trở lại với cách giải thích từ này của Guilleminet. Guilleminet dịch nó sang tiếng Pháp là hôte (khách), invité d’un autre village (khách được mời từ một làng khác đến), tức rất thân thiện. Đồng thời ông cũng chỉ ra một nghĩa khác, hoàn toàn ngược lại: tơmoi cũng có nghĩa là ennemi, thù, kẻ thù. Có điều gì chung giữa hai nghĩa trông chừng rất đối nghịch này? Có. Ấy là, và Guilleminet đã cũng chỉ ra: tơmoi còn có nghĩa, và hẳn đây là nghĩa gốc, căn bản của nó: étranger, lạ, kẻ lạ, (nước) lạ, (nước) ngoài. Trong tất cả các nghĩa khác nhau của tơmoi, khách, thù, đều có chung yếu tố này: lạ, ngoài, không phải mình. Đây chính là một khái niệm nhân sinh rất quan trọng trong quan hệ giữa những con người hay những tập đoàn người với nhau: khái niệm lạ, khác. Người lạ, người ngoài, người khác. Không phải ta, khác ta, ở ngoài ta. Khác ta có thể là bạn, cũng có thể là thù. Không thể không chợt nghĩ đến câu nói nổi tiếng của Jean Paul Sartre trong vở kịch Huis clos (Xử kín): L’enfer, c’est les autres, Địa ngục, ấy là kẻ khác. Đối với ta, kẻ khác là địa ngục. Trong một môi trường xã hội đạo đức nào đó, kẻ khác là hoàn toàn xa lạ, đối kháng, tăm tối, bất khả tri. Tất nhiên ta hiểu, đây là cái “ta”, cái “tôi” được định hình đến cao độ, đến tuyệt đối của phương Tây hiện đại… Người Ba-na, người Tây Nguyên cũng có một từ nhiều nghĩa để biểu hiện quan niệm này. Vậy quan niệm đó của người Tây Nguyên, người Ba-na là như thế nào? Có lẽ một trong những chương quan trọng nhất, hay và cũng thú vị nhất của sách Mọi Kontum là chương Hương thôn giao tế, trong đó hai tác giả nói về Làng Ba-na. Các ông viết, bỗng bằng một giọng khẳng định dứt khoát và hồ hởi: “Dầu to hay nhỏ, mỗi làng Ba-na là một tiểu quốc gia hoàn toàn độc lập, không phục tùng dưới quyền thống trị nào khác”[2]. Chương này, ý tưởng này, khám phá này sẽ là trung tâm của toàn bộ công trình, những chương sau, cách này cách khác đều gắn với nó, tiếp tục triển khai, cụ thể hóa ý tưởng trung tâm đó. Các ông khẳng định: trong xã hội Ba-na, không có gì ở trên làng, làng không phục tùng quyền uy nào cao hơn chính nó. Đối với người Ba-na, làng là đơn vị xã hội cao nhất. Nhân đây cũng xin nói thêm, trong tất cả các ngôn ngữ của các tộc người Tây Nguyên, không tìm thấy từ chỉ đơn vị cao hơn làng (Trong tiếng Gia-rai có từ t’ring chỉ liên minh một số làng, nhưng đây chỉ là liên minh nhất thời khi có nhu cầu cùng đối phó với một thách thức nào đó; khi thách thức đó qua rồi thì t’ring cũng tan. T’ringkhông phải là một đơn vị xã hội, không có lãnh thổ và tổ chức hành chính tương ứng).
Nếu làng là đơn vị xã hội cao nhất, bên trên nó không còn có gì khác, vậy bên dưới nó thì sao? La cà trong các làng Kon Tum và sống cùng họ (sau đây ta sẽ nói về sự la cà độc đáo này), Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi kể cho chúng ta biết về cuộc sống thực của người Ba-na. Lời kể nhẹ nhàng, một cái nhìn vui vẻ và thân mật, một quan sát cứ như thoáng qua, nhưng lại chạm tới một tính chất sâu sắc, đến mức cơ bản của xã hội này. Các ông viết: “Bất luận là bà con hay người dưng, người Bahnar đã ở chung một làng thì họ đối đải (đãi) với nhau thân mật lắm. Lúc vui mừng, khi hoạn nạn đều cùng nhau san sẻ. Lại có một lối tình cảm liên lạc dân làng với nhau một cách huyền bí. Ngày nay còn thấy một đôi dấu vết. Ví dụ như trong làng có một đôi trai gái chưa thành vợ thành chồng mà ăn nằm với nhau thời cả làng đều bị lây jơlâm jơlu(ô uế về tinh thần). Tại sao vậy? Là vì người Bahnar coi xã hội mình như thân thể người ta. Mỗi cá nhân là một phần tử của đoàn thể cũng như ngũ quan tứ chi, v.v... là phần tử của thân người. Nếu một phần tử phạm đều (điều) không tốt thời không khác gì đoàn thể phạm vào đều ấy và các phần tử khác phải chịu lây ảnh hưởng xấu.
Cũng bởi một lẽ đó mà một người ở đoàn thể này làm hại một người ở đoàn thể kia thời họ coi như cả đoàn thể trước làm hại đoàn thể sau. Cái thù riêng của mỗi người trở thành cái thù chung cả bọn và họ có thể rửa thù vào một phần tử nào bên nghịch cũng được không cần đợi người có lỗi…”[3].
Vậy đó, bên dưới làng cũng không có gì nữa, không còn có gì thấp hơn làng. Không có đơn vị xã hội nào nữa. Cá nhân không phải là một đơn vị xã hội, nó hòa tan trong làng, tự đồng nhất với làng, đồng nhất số phận của mình với số phận của làng. Một sự đồng nhất đến tuyệt đối, đến mức hễ một người đau, một người gây ô uế, thì cũng như một phần tử nào đó của “ngũ quan tứ chi” đau hay nhiễm độc, cả cơ thể tức cả làng đều đau, đều nhiễm độc. Đồng nhất đến mức khi một người, tức một phần tử của ngũ quan tứ chi bị xâm phạm thì tức cả làng bị xâm phạm, và trả thù vào bất cứ phần tử nào của ngũ quan tứ chi bên kia cũng được rồi! Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi dùng tính từ “huyền bí”[4], nghĩa là nó, tức làng, yếu tố làng, tinh thần và cảm quan về làng, ăn rất sâu đậm, tận trong căn cốt của xã hội, trong máu thịt của từng con người, đến thành bản năng, bản chất, vượt qua cả ý thức. Cũng chính nó tạo nên sự gắn kết không gì lay chuyển được, sức mạnh bền vững và trường tồn của xã hội Ba-na.
Nhận ra một cách sâu sắc và sinh động tính chất này của xã hội Ba-na, từ đó hai tác giả mô tả và giải thích rất thuyết phục một loạt hiện tượng xã hội lớn nhỏ ở đây. Chẳng hạn quan niệm của người Ba-na về luật pháp, về tội phạm và hình phạt. Như đã thấy, Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi nhắc đến khái niệm jơlâm jơlu, ô uế về mặt tinh thần[5]. Người Ba-na hết sức coi trọng jơlâm jơlu. Đối với người Ba-na, tội phạm là gì? Một hành vi bị coi là phạm tội khi nó gây ra jơlâm jơlu cho cộng đồng làng[6]. Cụ thể hơn nữa người ta nói rằng nó làm ô uế đất làng, ô uế môi trường sống của con người, ô uế tự nhiên nơi con người sống, tức là làng, bao gồm nơi cộng đồng làng cư trú và các loại rừng núi họp thành không gian làng (cái mà UNESCO đã rất tinh tế nhận ra khi công nhận di sản văn hóa thế giới của Tây Nguyên, không phải là cồng chiêng, cũng không phải là âm nhạc cồng chiêng, mà là không gian văn hóacồng chiêng, tức không gian làng, với rừng của làng). Khi tự nhiên, tức không gian văn hóa, không gian sinh tồn ấy của con người bị ô uế thì dòng chảy vốn hài hòa của nó bị rối loạn, sẽ gây ra tai họa và đau khổ cho “ngũ quan tứ chi” của làng, của mọi con người, mỗi con người trong làng. Quan niệm về tội như vậy, nên quan niệm về hình phạt cũng khác thường. Khi tòa án của làng xử tội thì không phải nhằm trừng trị một cá nhân nào, mà mục đích quan trọng nhất và duy nhất là tẩy đi sự ô uế đã nhiễm lên làng, nhằm khôi phục sự trong sạch và dòng chảy hài hòa của tự nhiên. Cho nên, đúng như các tác giả Mọi Kontumnhận xét, tòa án làng bao giờ cũng đi đến hòa giải, cả làng cùng làm lễ xin lỗi các yang, tức xin lỗi tự nhiên. Đương nhiên người đã gây ra ô uế phải đóng góp nhiều hơn trong lễ hiến sinh tạ lỗi này. Và còn có điều quy định: sau đó, không ai được nhắc lại chuyện cũ nữa. Hài hòa được khôi phục hoàn toàn...[7] Một nền tư pháp như vậy nhân bản, tốt đẹp biết bao. Chăm chú quan sát, trân trọng và không một chút định kiến, ngày ấy Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi đã phát hiện ra và ngạc nhiên vì tính chất nhân bản thâm thúy ấy, chân thành cảm phục một nền đạo đức xã hội, một nền văn minh cao đẹp đến vậy ở những con người vẫn bị coi là mọi rợ. Và đấy là động cơ chính của công trình đáng kinh ngạc hai ông để lại cho chúng ta ngày nay.
Ở đây còn có điểm nên chú ý: ở trên ta thấy có một chỗ Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi nhắc đến bộ lạc, nhưng rồi chỉ một lần ấy, hai ông không trở lại với chuyện bộ lạc nữa[8]. Các ông đã cảm nhận ra một điều quan trọng: Bộ lạc có tồn tại, đương nhiên, nhưng không thành một đơn vị xã hội. Không có thiết chế của bộ lạc và bộ máy để duy trì, vận hành thiết chế đó (Ở tộc người Gia-rai – có thể cả Ê-đê (Rhadé) – thì có, với hệ thống thị tộc chặt chẽ và phức tạp, mà phản ánh vào thiết chế xã hội là hệ thống Pötao...). Trong ý thức, và trong thực tế, làng đậm hơn, quan trọng hơn bộ lạc. Nó là trung tâm của đời sống Ba-na. Ngoài làng là tơmoi, là moi, mọi. Đến đây có thể có một nhận xét hơi buồn cười: như vậy trong cách nghĩ và đúng theo cách nói của mình, người Ba-na coi (và gọi) người Việt – và người thuộc các tộc người khác – là tơmoi, mọi, trong khi ta nhầm lẫn coi và gọi ngược lại!
Theo tôi, về vấn đề trung tâm này, hai tác giả Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi, qua tác phẩm Mọi Kontum, đã đi trước hơn nửa thế kỷ. Các tác giả Pháp cùng thời với các ông chưa ai tỏ ra thật quan tâm và nói rõ về điều này. Henri Maitre có nhận thấy Tây Nguyên gồm các làng độc lập rời rạc. Nhưng thấy rõ tính chất của quan hệ bên trên và nhất là bên dưới của nó thì chưa, nên cũng chưa nhận ra tính chất và vai trò tế bào của làng trong cơ cấu xã hội Tây Nguyên, chưa nhìn rõ được tính chất của quan hệ làng với cá nhân. Còn các nhà dân tộc học ta nói chung, theo chỗ tôi được biết, hơn nửa thể kỷ sau mới đi đến khẳng định làng là đơn vị xã hội cơ bản và duy nhất, là tế bào cơ bản của toàn bộ cấu trúc xã hội Tây Nguyên cổ truyền. Cũng xin nói rõ: cái được gọi là “cổ truyền” đó thực tế còn kéo dài đến tận năm 1975. Chính nó là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sức mạnh bền vững kỳ lạ của Tây Nguyên, cả trong chiến tranh chống Mỹ, đặc biệt ác liệt ở chiến trường trọng điểm Tây Nguyên. Trong chiến tranh, làng ở đây bị đánh phá dữ dội, nhiều khi đến tan nát, có làng bị bứng đi xa hàng nhiều trăm cây số, nhưng rất kỳ lạ, làng không chết, cơ cấu làng vẫn còn, làng vẫn phát huy trọn vẹn tác động của nó. Xã hội vẫn đứng vững. Xin nói rõ điều này: cho đến năm 1975 cơ cấu xã hội Tây Nguyên về cơ bản còn nguyên vẹn. Đổ vỡ là về sau...
Nhân đây cũng xin nói đến một quan sát và khẳng định chính xác của hai tác giả Mọi Kontum, mà tận cho đến ngày nay những người xây dựng và thực thi chính sách ở Tây Nguyên vẫn còn nhầm lẫn: theo các ông, người Ba-na không hề du cư (và cũng không du canh). Các ông viết nhất quyết: “Họ ăn ở nhất định, chứ không rày đây mai đó!”[9]. Buồn thay, suốt 40 năm qua chính nhận định hời hợt và giáo điều coi người Ba-na (và Tây Nguyên nói chung) du cư du canh đã là cơ sở cho một chính sách hàng đầu và lớn nhất được thực hiện ráo riết khắp Tây Nguyên: ép buộc định canh định cư, thực tế là dồn dân dồn làng, không ít khi đến tàn bạo! Thêm một tác động sai trái làm xáo trộn và đổ vỡ cấu trúc làng. Không ai chịu đọc lại Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi cẩn thận một chút trước khi bước chân lên Tây Nguyên và ra tay “cải tạo” cuộc sống cho những “người mọi lạc hậu” trên ấy để quyết dẫn dắt họ đến “văn minh” cho bằng ta!…
Trong thực tế, từ sau năm 1975, việc nhận thức chậm trễ, sai lạc, không hiểu và không coi trọng vai trò, vị trí và cơ cấu làng, không thận trọng xử lý đối với vấn đề này trong phát triển, đã dẫn đến phá vỡ tế bào làng ở Tây Nguyên, làm đổ vỡ cả cấu trúc chung của xã hội, lại chính trong lúc Tây Nguyên đang phải đối mặt với thách thức chưa từng có của hiện đại hóa và thị trường, đưa nó vào thế bị tấn công cả hai phía, có thể nói khiến xã hội này lâm vào jơlâm jơlu, rối loạn đến độ khó quay trở lại.
Quả là trong Mọi Kontum, các tác giả chưa nói nhiều và kỹ đến nền tảng vật chất và kinh tế của làng, vấn đề sẽ được các nhà dân tộc học trong nước về sau nghiên cứu và xác định rõ hơn. Nền tảng đó là quyền sở hữu tập thể của cộng đồng làng đối với đất và rừng. Rừng là của làng, từng làng, cụ thể và chặt chẽ. Ở Tây Nguyên vốn không hề có rừng vô chủ, không một tấc rừng nào là vô chủ. Làng tồn tại bền vững trên cái chân đế sở hữu này. Quốc hữu hóa toàn bộ đất, rừng Tây Nguyên, tức là bứng đi mất cái chân đế đó, đưa thực thể làng vào thế treo lơ lửng trên một khoảng trống không nguy hiểm, khiến nó tất sụp đổ. Làng trở thành tơmoi của chính nó, xa lạ với chính nó. Văn hóa tất cũng không thể còn, nếu không phải là một thứ văn hóa cũng không có chân, văn hóa giả, suy tàn và khô cằn.
Có lúc tôi đã nghĩ, có thể vớ vẩn chăng: giả như hôm nay Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi trở lại với các làng Ba-na thân thiết của các ông, la cà cùng bà con như hơn 70 năm trước, các ông sẽ cảm thấy thế nào? Chắc tất cả những ai từng sống ở Tây Nguyên đều có thể hình dung: một cảm giác buồn nặng nề. Làng đìu hiu, lúng túng và ngơ ngác. Bản in NgườiBa-na ở Kon Tum đã giới thiệu một sưu tập ảnh người Ba-na thời Kinh Chi và Đổng Chi. Nhìn lại mà xem, họ thật đẹp. Vạm vỡ, rắn chắc, tươi tắn, và nhất là bình tĩnh, tự tin. Ấy là khi họ còn hoàn toàn làm chủ cuộc sống của họ, trong làng của họ, giữa rừng của họ, trước thiên nhiên của họ. Hồi ấy – khi hai nhà dân tộc học nghiệp dư và tài tử của chúng ta đến với họ –, họ còn nghèo, chưa giàu, cũng chưa “văn minh” như hôm nay, làng của họ chưa có điện, thậm chí có thể chưa biết điện là gì, nói chi đến truyền thanh truyền hình và các thứ tân thời hôm nay..., nhưng rõ ràng họ hoàn toàn chủ động, rất đàng hoàng trong cuộc sống tự chủ và tự do của họ. Và hạnh phúc. Đến Ba-na, đến Tây Nguyên hôm nay, không thể tự giấu đi cảm giác và suy nghĩ: ta đã làm như thế nào đó, với tất cả sự giúp đỡ chăm chỉ, cặm cụi, tận tụy của chúng ta, thậm chí như chính ta nói: “cầm tay chỉ việc” cho họ... vì họ “mọi rợ” lạc hậu lắm, ... để rồi sau bao nhiêu năm, sau 40 năm kể từ 1975, họ trở thành thụ động, ngơ ngác trông chờ, mất hết tự tin... giữa một tự nhiên đã bị tàn phá đến thảm hại, trong ngôi làng mà họ không còn làm chủ được đất và rừng của mình cho nên các thiết chế đã đảm bảo sức mạnh, sự bền vững trường tồn của nó, nếu còn thì cũng chỉ là hình thức, giả, đánh lừa, vô hiệu quả...
Khác biết bao nhiêu thời Mọi Kontumcủa Nguyễn Kinh Chi - Nguyễn Đổng Chi! Đọc Mọi Kontum, không thể không bị lôi kéo vì niềm hào hứng tươi rói của người viết. Hẳn vì sức trẻ, niềm vui tìm tòi, khám phá hăm hở và đầy thương yêu của họ. Cũng hẳn vì niềm hạnh phúc tỏa ra từ chính đối tượng mà họ quan sát và khám phá. Họ được chính đối tượng ấy, sức sống rạng rỡ tỏa ra từ đối tượng ấy chinh phục. Thoạt tiên là Nguyễn Kinh Chi (1899 - 1986), vị Bác sĩ trẻ được gửi lên làm việc ở miền thượng du xa xôi. Không ít lần nghề y đã dẫn đến dân tộc học, như là hai ngành họ hàng. Vì chúng đều chăm chú vào con người. Riêng ở Tây Nguyên đã từng có Bác sĩ Jouin, người phụ trách y tế ở Đắc Lắc, là nhà Tây Nguyên học say mê và uyên thâm, người đã gợi ý cho Georges Condominas đi vào tộc người Mnông Gar (M’non Gar) để rồi chúng ta có được tác phẩm Chúng tôi ăn rừng tuyệt vời; cũng là người hướng dẫn cho nhà nữ toán học Anne de Hautecloque-Howe đi vào nghiên cứu hệ thống thị tộc và bào tộc phức tạp, tinh tế của Ê-đê để cho ra đời cuốn sách độc đáo Người Ê-đê, một xã hội mẫu quyền. Có thể chắc chắn việc tiếp xúc với các bệnh nhân Ba-na và làm việc với các y tá Ba-na, song song với việc đọc các sách viết về người Ba-na, đặc biệt của Giáo sĩ Dourisboure, cùng những lần đi vào tận các làng xa rải rác trong núi chữa bệnh cho dân, đã kích thích trí tò mò của Bác sĩ Kinh Chi. Từ tò mò, đến ngạc nhiên, rồi cảm phục, ông thấy cần được thông truyền đến mọi người, trước hết đến đồng bào người Việt của ông niềm tâm đắc và tình yêu mới của ông. Ông quyết định khởi xướng một công trình nghiên cứu thật sự nghiêm túc về một nền văn minh anh em hết sức đáng trân trọng, mà ông thấy cần có sự cộng tác của người em Đổng Chi năm ấy mới 18 tuổi, còn ở dưới quê. Ông gọi Đổng Chi lên, và hai anh em cùng bắt tay vào công việc.
Họ thành một cặp đôi thật tuyệt. Có thể hình dung mà không sợ quá sai: Bác sĩ Kinh Chi chia sẻ với em những suy nghĩ về người Ba-na và dự tính của mình. Anh thanh niên Đổng Chi tiếp nhận và nhập cuộc rất nhanh. Cứ như anh được sinh ra để làm chính công việc này. Anh sẽ là người chủ yếu làm việc trên thực địa, miệt mài say mê thu gom tư liệu, để hai anh em cùng căm cụi phân tích, đánh giá, chiêm nghiệm, nhận định, tổng hợp... Ta biết trong quan sát và điều tra dân tộc học có một điều rất tế nhị: phải làm thế nào để sự hiện diện của nhà dân tộc học, là người ngoài, người lạ đến quan sát, điều tra, không làm biến dạng, làm méo mó một cách tất yếu hiện thực được quan sát, điều tra. Nói một cách nôm na, người đến quan sát, điều tra phải có cách, có tài tự triệt tiêu đến tối đa tư cách tơmoi của mình trong mắt, trong cảm nhận của đối tượng bị quan sát, điều tra. Tự xóa mình đi đến tối đa. Tự quên mình đến tối đa. “Bất vụ lợi” đến tối đa. Để có thể nhìn, hiểu và cảm nhận đối tượng không còn từ bên ngoài vào, từ bên trên xuống, mà là sâu từ bên trong, “theo chiều ngang”, đồng đẳng. Để cho cái quan sát và nhìn thấy không còn chỉ là nhìn thấy, mà thành trải nghiệm và cảm nhận sống... Đồng thời lại vẫn phải là nhà dân tộc học, người quan sát, điều tra chăm chú, tỉnh táo, sắc sảo, khách quan, thậm chí lạnh lùng khi cần thiết, “vụ lợi” đến tối đa vì mục đích quan sát, điều tra của mình. Những nhà dân tộc học từng trải và tài năng đã nói về điều này, mỗi người một cách, dường như để cố diễn đạt đặc điểm thiết yếu này của “nghề”, hay “nghiệp” dân tộc học. Georges Condominas chiêm nghiệm: L’ethnologie, c’est un genre de vie, mà tôi muốn dịch thành: Dân tộc học, ấy là một loại hình sống (chứ không phải một cách, một kiểu sống). Jacques Dournes thì thống thiết: “Nếu phải hiểu để mà có thể yêu, thì lại phải yêu để mà có thể hiểu”. Hơn ở đâu hết, trong nghiệp dân tộc học, không thể hiểu nếu không thiết tha yêu, và là yêu với một sự kính trọng sâu xa, chân thành nhất.
Ở trên tôi đã dùng đến hai từ “nghiệp dư” và “tài tử” khi nói về hai tác giả của Mọi Kontum. Rõ ràng hai ông không hề được đào tạo về dân tộc học, thậm chí cả về nghiên cứu khoa học nói chung. Nhưng đọc kỹ Mọi Kontum, cũng rõ ràng họ nắm rất vững phương pháp nghiên cứu khoa học, nghiêm túc, chặt chẽ, chủ động và sáng tạo; và họ theo dõi rất kịp thời, rất chắc những tri thức dân tộc học mới nhất đương thời. Những người nghiệp dư làm việc rất chuyên nghiệp.
Còn “tài tử” ư? Cho phép tôi nói điều này: theo tôi, trong chiều sâu của mỗi nhà dân tộc học chân chính, đều có một người nghệ sĩ. Có lẽ Georges Condominas cũng có ý nói về khía cạnh này của nghề dân tộc học khi ông gọi dân tộc học là “một loại hình sống” (un genre de vie). Quả vậy, ở đấy, hẳn là khác với ở mọi ngành khoa học khác, và rất gần với nghệ thuật, nhà chuyên môn “chơi” toàn bộ cuộc đời mình, đắm mình đến cùng, không chừa lại chút nào hết. Trong cặp đôi tác giả Mọi Kontum, cũng có lẽ điều này biểu hiện rõ hơn ở Nguyễn Đổng Chi (1915 - 1984), người trực tiếp làm việc hàng ngày trên thực địa. Trong lời giới thiệu bản in Người Ba-na ở Kontum, Andrew Hardy có nói rằng anh thanh niên Nguyễn Đổng Chi đi vào các làng Ba-na, la cà cùng bà con, và “vừa làm vừa chơi, vừa chơi vừa làm”, làm bằng cách chơi, chơi để làm. Sau này ta sẽ gọi đó là “quan sát tham dự”. Xin nói thật, tôi không thích cách nói này lắm, không thích bằng. “Tham dự” thì vẫn còn là khách, như là đi dự tiệc vậy! “Chơi” cho đến hoàn toàn tự nhiên mới là nhập cuộc đến cùng. Chỉ có chơi, làm bằng cách chơi, chơi hết mình, đến quên mình đi, rất khoa học lại rất nghệ sĩ, thì mới không còn là tơmoi, là khách, là người lạ, người ngoài. Nguyễn Đổng Chi rất giàu đức tính tự nhiên đó. Cũng chính Georges Condominas nói: “Để biết một món ăn Mnông Gar có ngon không, thì phải là một người Mnông Gar”. Phải bằng lưỡi của người Mnông Gar để nếm và đánh giá một món ăn Mnông Gar. Phải bằng chính hệ giá trị Mnông Gar mà đánh giá các giá trị Mnông Gar trong thực tế cuộc sống của họ. Nhìn và hiểu thực tế Mnông Gar, thực tế Ba-na bằng chính hệ giá trị Mnông Gar, hệ giá trị Ba-na. Làm như một cuộc chơi tạo nên sự vô tư thật sự, thật sự đưa được mình vào bên trong cùng đối tượng quan sát, nghiên cứu của mình – công việc và tư thế nhất thiết của một nghệ sĩ. Đồng thời lại biết cùng lúc tỉnh táo đứng ra bên ngoài, tránh về một bên đôi chút, để có được một so sánh sáng suốt với các giá trị phổ quát. Cũng là một đặc điểm tinh tế của hành vi nhận thức nghệ thuật. Thật tuyệt vời là nhà dân tộc học “nghiệp dư” và “tài tử” Nguyễn Đổng Chi cũng có được điều đó, một cách nhẹ nhàng mà đồng thời lại rất chuyên nghiệp trong những cuộc la cà say mê – tỉnh táo ở các làng Ba-na của anh. Thật tuyệt vời là Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi đã làm được điều đó, gần như hoàn chỉnh trong Mọi Kontum, tác phẩm dân tộc học đầu tiên của tác giả Việt Nam. Có thể nói như Corneille nói về Don Rodrigue: Coup d’essai, coup de maître, Đường kiếm thử đầu tiên đã là đường kiếm bậc thầy!
Đã gần trọn ba phần tư thế kỷ kể từ ngày Mọi Kontum ra đời. Đọc lại, giật mình không chỉ vì nó sớm một cách khác thường. Mà còn vì nó vẫn mới mẻ, thậm chí rất thời sự. Không chỉ ở những tri thức đặc sắc và căn bản về Ba-na, về Tây Nguyên, còn vô cùng cần thiết cho một sự phát triển bình ổn trên vùng đất này ngày hôm nay. Có lẽ còn quan trọng hơn nữa, là cách nhìn Ba-na, nhìn Tây Nguyên của các tác giả. Hai ông viết, thấm thía: “Tục lệ của họ chẳng những không mọi rợ chút nào mà trái lại có nhiều điều còn thuần túy hơn ta nữa kia”[10]. Đến Ba-na, đến Tây Nguyên, Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi thấy mình gặp một nền văn minh, mà các ông muốn được học, cho chính mình, và cho cả đất nước. Viết Mọi Kontum, hai ông mong đem về cho văn minh Việt những giá trị ấy, “còn thuần túy hơn ta nữa kia”.
Đọc Người Ba-na ở Kontum hôm nay, không thể không nghĩ: Giá như 40 năm qua, từ sau 1975, ta cũng đến được với Tây Nguyên bằng một tâm niệm như thế, khiêm nhường, chân thành và tha thiết như thế. Thì chắc mọi sự ở đây hôm nay đã khác rất nhiều.
Tháng Giêng Ất Mùi
N.N.
(*) Nhà văn - Đại học Phan Châu Trinh.
[1] Nguyễn Kinh Chi - Nguyễn Đổng Chi, Người Ba-na ở Kon Tum, in lần đầu do Mộng Thương Thư trai, Huế, 1937, dưới nhan đề Mọi Kontum. Viện Viễn Đông bác cổ Pháp Hà Nội dịch sang tiếng Pháp và phối hợp cùng NXB Tri thức in song ngữ, H, 2011; tr.137. Các trích dẫn sau đều dựa vào bản in lần này. Do trong bản gốc các tác giả diễn đạt bằng ngôn từ miền Trung, bản in 2011 tôn trọng cách viết đó, nên khi trích dẫn, chúng tôi giữ nguyên các dấu hỏi ngã khác biệt với cách viết phổ thông hiện nay.
[2] Nguyễn Kinh Chi - Nguyễn Đổng Chi, Người Ba-na ở Kontum, Sđd; tr.193.
[3] Nguyễn Kinh Chi - Nguyễn Đổng Chi, Người Ba-na ở Kontum, Sđd; tr.192.
[4] Nguyễn Kinh Chi - Nguyễn Đổng Chi, Người Ba-na ở Kontum, Sđd; tr.192.
[5] Nguyễn Kinh Chi - Nguyễn Đổng Chi, Người Ba-na ở Kontum, Sđd; tr.176, 182.
[6] Nguyễn Kinh Chi - Nguyễn Đổng Chi, Người Ba-na ở Kontum, Sđd; tr.192.
[7] Nguyễn Kinh Chi - Nguyễn Đổng Chi, Người Ba-na ở Kontum, Sđd; tr.192-201.
[8] Nguyễn Kinh Chi - Nguyễn Đổng Chi, Người Ba-na ở Kontum, Sđd; tr.137.
[9] Nguyễn Kinh Chi - Nguyễn Đổng Chi, Người Ba-na ở Kontum, Sđd; tr.191.
[10] Nguyễn Kinh Chi - Nguyễn Đổng Chi, Người Ba-na ở Kontum, Sđd; tr.129.
N.N

Hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm sinh Nguyễn Đổng Chi (1915-2015)

Hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm sinh Nguyễn Đổng Chi (1915-2015)

bauxitevn8:43 AM


Kho tàng Truyện cổ tích Việt Nam
Từ bình diện một công trình nghiên cứu
Hy Tuệ(*)
clip_image001
Kho tàng, một ấn bản cũ
Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam gồm 5 tập, được công bố lần lượt trong vòng 25 năm, từ năm 1958 đến 1982(1). Ngay khi hai tập đầu vừa ra mắt, bộ sách đã được bạn đọc ngoài Bắc trong Nam chú ý, và lập tức có tiếng vang ở nước ngoài(2). Tập 3 tiếp tục ra mắt vào năm 1960, đã khẳng định vị trí hiển nhiên của tác giả trong ngành cổ tích học. Từ đấy cho đến khi Tập 4 xuất hiện (1975), theo yêu cầu của bạn đọc, các Tập 1, 2, 3 đều kế tiếp ba bốn lần được in lại. Và lần in nào cũng có bổ sung, sửa chữa. Có thể nói, chỉ với ba phương diện sưu tầm, khảo dị và kể chuyện cổ tích, Nguyễn Đổng Chi đã sớm nổi bật lên như một chuyên gia đầu đàn. Lê Văn Hảo và Tạ Phong Châu từ hai phương trời cách biệt (Paris - Hà Nội), từng có những lời đánh giá nhất quán về ông(3). Tuy vậy, phải đến ngày bộ sách xuất bản trọn vẹn (1982), tư cách nhà cổ tích học Nguyễn Đổng Chi mới hiện diện đầy đủ nhất, ở chức năng người tổng kết loại hình truyện cổ dân gian của Việt Nam.
Với Phần thứ Nhất của Tập 1, Nguyễn Đổng Chi đã trình cho bạn đọc ý kiến của mình về “Bản chất truyện cổ tích”, “Lai lịch truyện cổ tích” và “Truyện cổ tích Việt Nam qua các thời đại”. Với Phần thứ Ba của Tập 5, ông lại có dịp bàn trở lại các vấn đề “Đặc điểm truyện cổ tích Việt Nam” và “Nguồn gốc truyện cổ tích Việt Nam”. Việc tái bản cùng lúc cả 5 tập vào năm 1993(4) càng giúp ta có điều kiện xem xét cả hai phần trong một cái nhìn chỉnh thể. Nếu gộp hơn 80 trang phần đầu và gần 250 trang phần cuối, quả thực người đọc đã được tiếp xúc với một chuyên đề lý luận về truyện cổ tích Việt Nam khá nghiêm túc và hoàn chỉnh. Dưới đây, sẽ chỉ xin điểm qua một số vấn đề mà chúng tôi thấy có thể làm rõ hơn quan điểm và phương pháp nghiên cứu của tác giả, những vấn đề rút ra có phần ngẫu nhiên và chưa hẳn đã là trọng điểm trong hệ thống các vấn đề cổ tích học được Nguyễn Đổng Chi lựa chọn và trình bày.
*
*      *
1. Có vấn đề đã từng là nội dung trao đổi của một số người. Chẳng hạn, để nhận dạng thế nào là một truyện cổ tích, Nguyễn Đổng Chi nêu lên 3 tiêu chí sau đây: 1. Phải có phong cách cổ; 2. Phải gần gũi với bản sắc dân tộc; 3. Phải có tính tư tưởng và tính nghệ thuật cao (Tập 1; tr. 65-72). Trên tập san B.E.F.E.O năm 1964, M. Durand đã không thỏa mãn với cách lý giải quá vắn tắt của tác giả về tiêu chí thứ nhất, và tỏ ý nghi ngờ: “Đâu là ranh giới giữa cái “kim” và cái “cổ”? Những truyện có liên quan đến thời Tự Đức (1848-1883) phải được xem là “cổ” hay “kim”? (Bản dịch của Nguyễn Từ Chi, Tập 1; tr. 495)(5).
Thật ra Durand đã không hiểu đúng thực chất luận điểm của Nguyễn Đổng Chi. Phải nói đây là một vấn đề lý thú, được ông nghiền ngẫm rất sâu, nhằm tiếp cận thật xác đáng đặc trưng của một thể loại. Chúng ta ai mà chẳng từng gặp tình trạng bối rối khi muốn phân biệt truyện cổ tích với một vài thể loại tự sự dân gian khác rất gần với nó, như truyền thuyết, ngụ ngôn, truyện thời sự chẳng hạn? Căn cứ thuyết phục nhất làm chỗ dựa trong những trường hợp này là ở đâu? Kinh nghiệm thực tế cho thấy không thể phân biệt chúng ở nội dung hay hình thức câu chuyện, vì chúng khá giống nhau; cũng không thể phân biệt ở chức năng, vì không nhất thiết cứ truyền thuyết, ngụ ngôn, hay truyện thời sự thì chức năng phải khác với cổ tích. Cuối cùng, Nguyễn Đổng Chi đã tìm ra sự khác nhau giữa chúng là ở cấp độ nghệ thuật. Cả 3 tiêu chí mà tác giả đề xuất đều thống nhất với nhau ở chỗ: muốn biện minh rõ cổ tích là thể loại “đã đạt đến cấp độ cao trong nghệ thuật tự sự truyền miệng” (tr. 72), “là một loại hình tự sự hoàn chỉnh nhất trong các loại hình tự sự dân gian” (tr. 70-71). Đó là mấu chốt để ông triển khai lập luận liên hoàn của mình. Vận dụng vào tiêu chí thứ nhất: đặc trưng “cổ” của cổ tích, ông không hiểu đơn giản như Durand là phải định cho được một vạch mốc lịch sử để qua đó phân chia đâu là “kim” đâu là “cổ”. Gán ghép cho những truyện cổ tích nào đấy một vạch mốc thời điểm hẳn không phải khó nếu căn cứ trên một vài tình tiết mang tính hình thức như câu chuyện có nhắc đến một sự kiện lịch sử hay nói về một nhân vật có tên trong lịch sử chẳng hạn; nhưng dựa vào nội dung thông báo kiểu này của từng truyện cổ tích để xếp chúng đích thực vào vạch mốc mà mình tưởng đã là chính xác thì lại là điều cả tin không gì lầm lẫn hơn. Bao nhiêu nhà nghiên cứu từ 1945 trở về trước chẳng đã từng nếm mùi thất bại khi muốn “suy nguyên” niên đại đối với thơ và truyện dân gian? Vì thế, chỉ có một cách duy nhất định vị cái “cổ” của cổ tích là ở phong cách nghệ thuật. Nguyễn Đổng Chi giải thích rất cặn kẽ điều này. “Vấn đề xác định tính “cổ” của truyện cổ tích là căn cứ chủ yếu vào phương thức cấu tạo hình tượng, sự sắp xếp, xâu chuỗi cốt truyện và motif, mà không nhất thiết căn cứ vào thời điểm lịch sử của câu chuyện” (tr. 67). Hoặc: “Dù cho phạm vi hai khái niệm “cổ” và “kim” trong cổ tích không khỏi có lúc lẫn lộn nhưng mỗi nhân vật, mỗi tình tiết, mỗi hình ảnh của cổ tích đều nhất thiết phải là một nhân vật, một tình tiết, một hình ảnh vốn có trong truyền thống nghệ thuật xa xưa của văn học dân gian, được nhân dân coi là quen thuộc, đã thấm sâu vào tiềm thức mọi người” (tr. 66). Chính vì thế mới có hiện tượng “cổ tích tân biên” – tức là truyện cổ tích mới sáng tác hôm nay – và không thể không thừa nhận nếu “tân biên” đúng theo những quy tắc nào đấy thì nó cũng sẽ hội nhập trọn vẹn vào kho tàng cổ tích: “Sở dĩ có những câu chuyện mới sáng tác gần đây có thể liệt vào truyện cổ tích là vì bối cảnh, khí hậu xã hội và tâm lý nhân vật mà chúng được xây dựng, so với bối cảnh, khí hậu, phong cách sinh hoạt và tâm lý của người đời xưa tuyệt không có gì là trái ngược” (tr. 68). Trái lại, cũng có “những truyện như Vợ ba Đề Thám tuy cách ta trên nửa thế kỷ và mang thể tài cổ tích khá rõ nhưng trong đó có những tên giặc râu xồm mũi lõ, có súng trường, súng lục [thuộc loại “những chất liệu dĩ vãng... chưa kịp lắng xuống và chưa được đại đa số nhân dân công nhận là ở bên kia bên giới của cái “mới””]... nên vẫn chưa thể thừa nhận là truyện cổ tích được” (tr. 67). Rõ ràng hướng giải quyết vấn đề của Nguyễn Đổng Chi là đúng đắn, phù hợp với các quy tắc mỹ học folklore, và không gò bó giản đơn vào thời điểm lịch sử như yêu cầu của Durand.
2. Sau vấn đề xác định đặc trưng đến vấn đề phân loại truyện cổ tích. Điểm lại rất tỉ mỉ các ý kiến phân loại trước mình, Nguyễn Đổng Chi đã không thỏa mãn với những cách chia quá vụn vặt và phần nào tâm đắc với Trương Tửu khi ông chia truyện truyền miệng thành hai loại: loại thần kỳ và loại thế sự. Áp dụng cho cổ tích, ông đưa ra một bảng phân loại mới gồm 3 loại như sau: 1. Cổ tích thần kỳ (trong lần in thứ nhất, 1958, ông gọi là cổ tích hoang đường, lần in thứ 5, 1972, mới đổi là cổ tích thần kỳ); 2. Cổ tích thế sự; 3. Cổ tích lịch sử. Từ bấy đến nay, ý kiến của ông cũng được bàn bạc khá nhiều. Trong khi M. Durand cho rằng cách phân loại này “cũng hình thức không kém gì những người trước ông” (bản dịch đã dẫn, tr. 496), thì Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên lại coi “Nguyễn Đổng Chi... đã đưa ra cách phân loại tương đối hợp lý”(6), mặc dầu hai ông vẫn đề nghị không nên tách riêng cổ tích thần kỳ thành một loại, vì “truyện cổ tích lịch sử và truyện cổ tích thế sự nào cũng có yếu tố hoang đường (chính Nguyễn Đổng Chi cũng nhận như vậy). Vả lại không có truyện cổ tích hoang đường nào mà lại không phản ánh lịch sử hoặc phản ánh đời sống thế tục”(7).
Về ý kiến của Durand muốn quay trở lại cách phân loại dựa vào tư tưởng chủ đề (thème) của cổ tích mà không tính đến các phương thức biểu hiện nghệ thuật của nó, đến nay có lẽ không cần bàn giải cũng đã ngã ngũ. Phương pháp xã hội học thuần túy kiểu này không còn được mấy ai trong giới nghiên cứu folklore chấp nhận. Còn ý kiến của Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên muốn gạt bỏ truyện cổ tích thần kỳ ra khỏi bảng phân loại thì với thời gian cũng đã tỏ ra không hợp lý, nếu ta biết rằng cổ tích thần kỳ đã thành tên gọi một loại hình có ý nghĩa thế giới, là loại hình cổ tích chiếm tỷ lệ áp đảo về số lượng ở Ấn Độ, Ai Cập, Hy Lạp và nhiều nước Âu Tây. Có thể nói, do lăn lộn từ lâu giữa một “kho tàng” cổ tích dân tộc giàu có, lại có điều kiện tham khảo, đối sánh với các “kho” cổ tích của nước ngoài, Nguyễn Đổng Chi đã nắm rất vững đặc điểm loại hình của từng kiểu truyện cổ tích, và chỉ ra rất trúng ba loại truyện vốn thực sự tồn tại trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Đặc biệt, ông đưa vào bảng phân loại một loại hình chưa được mấy ai nói đến là cổ tích lịch sử, hình như cũng là một loại hình hiếm thấy trong truyện cổ tích nhiều nước Á Âu. Giải thích điều đó như thế nào? Nguyễn Đổng Chi nói: “Truyện cổ tích lịch sử có thể là một thể loại mang đậm nét đặc thù của truyện dân gian Việt Nam, bởi lẽ con người Việt Nam xưa nay do điều kiện lịch sử luôn luôn phải chống ách đô hộ xâm lược để bảo vệ nền độc lập, nên trong tâm thức vẫn gắn bó với “xã tắc”, và do đó thường xuyên có cái nhìn “lịch sử hóa” đối với mọi hiện tượng, sự vật” (tr. 76-77). Xuất phát từ những điều kiện lịch sử đặc thù tạo nên cảm quan riêng của người Việt để đi tới cân nhắc sự tồn tại của một kiểu tư duy nghệ thuật nào đấy mà những cộng đồng khác không có hay không thường xuyên sử dụng, thiết tưởng đó là cách suy xét hợp lý, đáng được ghi nhận. Thật ra gọi “cổ tích lịch sử” là cách gọi cụ thể hóa hơn nữa đối với một loại hình mà ở Tây Âu vẫn xếp vào một “kho” chung với cái tên truyền thuyết (légende). Chứng tỏ trong nghiên cứu, Nguyễn Đổng Chi luôn luôn có cách suy nghĩ độc lập.
3. Trong các phần sau, Nguyễn Đổng Chi còn tiếp tục đào sâu vào đặc điểm tư duy của người Việt, lấy đó làm chỗ dựa chính để khái quát các đặc điểm của truyện cổ tích Việt Nam. Cách khái quát của ông thoạt nhìn không có gì đao to búa lớn, nhưng lại được đặt trên một nền tảng tri thức rộng và sâu, nên chứa đựng trong đó nhiều điều mới mẻ. Ông cho rằng truyện cổ tích thần kỳ của người Việt chiếm một số lượng có phần ít ỏi, quy mô phóng đại của hình tượng thần kỳ không lớn và tần số phóng đại cũng không nhiều. Để có được kết luận này, ông đã phải làm nhiều bảng thống kê tỉ mỉ, về số lượng truyện thần kỳ và về các kiểu loại motif thần kỳ. Không những thế, ông còn đặt truyện cổ tích thần kỳ dân tộc – với sắc thái riêng của nó như đã tìm thấy – trong tương quan so sánh với các biểu hiện tư duy của con người Việt Nam: “ít khi xa rời lý trí thế tục” (Tập V, tr. 2426), “chịu sự ràng buộc của tâm lý thực tiễn” (tr. 2428), “ít chứa đựng cảm quan tôn giáo” (tr. 2428)... và vạch ra biểu đồ về sự chi phối của các dấu ấn tư duy nói trên đối với quá trình hình thành “tâm lý sáng tạo nghệ thuật dân tộc” (tr. 2428), nhất là “con đường vận hành của truyện cổ tích..., trong đó sự thanh lọc các yếu tố siêu nhiên đã diễn ra thường xuyên và gần như vô thức để đồ thị phát triển của cổ tích ngày càng đi gần tới trục biểu hiện nhân tính” (tr. 2428). Đó là một kiến giải sâu sắc và thỏa đáng.
Tất nhiên nghệ thuật không bao giờ lại là sự phản ánh thụ động, một chiều của tư tưởng. Nguyễn Đổng Chi đã không quên nói thêm rằng, để bù lại những gì vốn là nhược điểm của tư duy người Việt – nó hạn chế sự tưởng tượng bay bổng – “tác giả truyện cổ tích Việt Nam lại thường biết vận dụng yếu tố huyền ảo một cách uyển chuyển, tạo nên những đột biến trong chất lượng truyện kể” (tr. 2432), mà hai thủ pháp được sử dụng phổ biến là sự đối sánh – lấy cái mờ soi vào cái rõ, lấy ảo ảnh chiếu vào thực tế – và sự lạ hóa – sự hóa thân kỳ ảo của nhân vật hay cốt truyện – (đều là chữ dùng của Nguyễn Đổng Chi) nhờ đó truyện cổ tích Việt Nam vẫn có một sức hấp dẫn riêng. Thử hỏi mấy ai đã thật sự đi sâu vào các lớp lang của cổ tích để thấm được cái hồn của nó đến như Nguyễn Đổng Chi: “Tóm lại, sức hấp dẫn của hầu hết các truyện cổ tích Việt Nam không phải là ở cấp độ phi lý của bản thân câu chuyện, mà ở khả năng phối hợp và hoán chuyển tài tình cái huyền ảo và cái hiện thực. Cái hiện thực bị nhầm ra cái phi lý, cái phi lý nằm ngay trong cái hợp lý” (tr. 2439-2440). Chính đó là điều kiện quan trọng để rồi đây khi thống kê, so sánh và phân loại kiểu cốt truyện của cổ tích, mặc dù nhận thấy 2/3 số truyện mà mình tìm được đều có nguồn gốc nước ngoài, và mặc dù rất hiểu sự tác động qua lại lẫn nhau là một thực tế hiển nhiên của truyện cổ tích thế giới xưa nay, nhà cổ tích học Nguyễn Đổng Chi vẫn tách bạch ra được “các kiểu cốt truyện mang tính bản địa nguyên sinh” (tr. 2452), tức là “cái phần bất biến” bảo lưu trong truyện cổ tích Việt Nam, nó mở lối cho ông đi sâu vào folklore dân tộc.
4. Một nhận định khác cũng bắt nguồn từ đặc điểm tư duy của người Việt mà rút ra là ý kiến của Nguyễn Đổng Chi về các dạng vận động chính – tà trong truyện cổ tích. Thông thường, nói đến truyện cổ tích là nói đến loại truyện phát triển theo một tuyến: chính thắng tà, thiện thắng ác. Đó là cái mạch chung của truyện cổ tích nhân loại, do tưởng tượng chất phác của con người Trung đại quy định. Nhưng nhìn cho kỹ, mỗi dân tộc, bằng nét riêng trong cách tư duy của mình vẫn chủ động cải hoán lại mạch truyện phổ biến ấy để cấp cho truyện cổ tích một dạng kết cấu có đổi mới ít hay nhiều. Nguyễn Đổng Chi đã khảo sát kỹ cả một “kho tàng” để tìm ra 4 dạng kết cấu khác thường của truyện cổ tích nước nhà:
1. Chính thắng tà không phải bằng tiêu diệt mà bằng sức mạnh cảm hóa, làm cho tà giác ngộ;
2. Chính thắng tà bằng cuộc đấu tranh giữa thiện và ác ở ngay trong nội bộ cái chính;
3. Chính thắng tà bằng cách thúc đẩy cuộc đấu tranh thiện ác ở ngay trong nội bộ cái tà;
4. Chính thắng tà nhưng kết cục lại bị trả giá vì sự vượt “độ” của mình.
Có thể có người còn bổ sung, thêm bớt được điểm này điểm kia vào 4 dạng kết cấu đặc thù của truyện cổ tích Việt Nam mà tác giả nói trên đây, nhưng chắc chắn không ai bác bỏ sự tồn tại đích thực của chúng. Sự đa dạng của những kết cấu này vốn là kết quả của nhiều quá trình điều chỉnh nhuần nhị và không tự ý thức, nhằm làm cho tư duy nghệ thuật dân gian xích lại gần với cách ứng xử nhân bản của tâm lý người Việt cổ truyền. Đây là một quy luật của văn học dân gian, phản ánh mối quan hệ qua lại hữu cơ giữa nội dung và hình thức. Khái niệm “độ” được Nguyễn Đổng Chi dùng như một khái niệm công cụ chỉ bản chất quy luật. Tóm được cái “chìa khóa” đó, Nguyễn Đổng Chi không những đã nhận thức quy luật một cách rành rẽ, mà còn nắm bắt đầy đủ các hình thức biểu hiện phong phú của quy luật.
5. Còn có thể nói đến nhiều nhận định tinh tế của Nguyễn Đổng Chi ở chỗ này chỗ khác. Ví như, một hiện tượng không mấy người để ý là việc tặng phong danh hiệu của dân gian cho những nhân vật anh hùng truyền thuyết trong kho truyện của mình. Nguyễn Đổng Chi là người đầu tiên lưu tâm đến hiện tượng này ở góc độ nghệ thuật dân gian. Ông xâu chuỗi chúng lại và giúp người đọc hiểu rõ các tầng bậc ý nghĩa khác nhau của chúng: vua, thánh, cha, trạng... (tr. 2486-2488). Nhưng đáng nói là tuy dùng lại các khái niệm giá trị bề ngoài có vẻ không khác gì tư duy chính thống, thực chất các khái niệm ấy lại có ý nghĩa bình dân hóa tức là “giải chính thống” trong cách đánh giá con người một cách khá mạnh mẽ. Đó mới chính là tài năng, sức mạnh đích thực của nghệ thuật dân gian: vừa vay mượn lại nguyên xi các danh hiệu phổ dụng lại vừa có giá trị “giễu nhại” thậm chí lật ngược một cách khéo léo những thứ danh hiệu đã bị thực tế làm cho sáo mòn.
Hoặc giả, đối với những truyện cổ tích cá biệt như Mỵ Châu - Trọng Thủy, Trương Chi... nhà cổ tích học đã chú ý tìm tòi những hướng tiếp cận mềm dẻo, thấu đáo để tìm ra trong mỗi truyện nhiều lớp nghĩa khác nhau. “Có lớp nghĩa quả hướng về bài học cảnh giác, đúng hơn là một kinh nghiệm xử thế đòi hỏi không bao giờ được sống hời hợt: đắp thành kiên cố để ngăn chặn giặc, có ngờ đâu giặc lại lọt vào tận lòng ruộl của mình; tìm đường chạy trốn giặc có ngờ đâu giặc ở ngay sát sau lưng, đời cha dốc bao nhiêu xương máu xây dựng cơ đồ thế mà chỉ một sớm một chiều vì nhẹ dạ, đời con lại làm cho tan nát... Nhưng cũng không thể bỏ qua một lớp nghĩa thứ hai, không kém quan trọng hướng về mối tình Mỵ Châu - Trọng Thủy: tình yêu chân thành, ngây thơ và trong trắng nhiều khi lại là nạn nhân của mọi tranh đoạt tàn khốc, nhưng chỉ kẻ nào mưu đồ tranh đoạt mới là tội lỗi, còn tình yêu không vụ lợi thì bao giờ cũng được đền bù. Đó là cách nhìn độ lượng của dân gian đối với tấn bi kịch Mỵ Châu. Nước giếng Trọng Thủy làm sáng ngọc trai cũng là một biểu tượng nghệ thuật hoàn hảo mà chỉ riêng quan điểm “xã tắc” của nhà nho không thôi không thể sáng tạo nên được” (tr. 2461-2462). Với truyện Trương Chi cũng vậy, “Tác giả kết thúc bản tình ca tự sự bằng một motif đã trở thành tượng trưng mỗi khi muốn tô đậm sự u uất tuyệt vọng (trái tim kết thành một khối đỏ như son, trong như thủy tinh). Nhưng ở đây, tính chất khép của motif đã bất ngờ bị phá vỡ, bởi có thêm một tình tiết cuối: những giọt nước mắt của Mỵ Nương nhỏ xuống làm tan vỡ cái khối đỏ được tiện thành chén trà. Đấy phải chăng vẫn là bước tiếp nối của nghệ thuật tượng trưng phương Đông, như một hình ảnh có hậu, ám chỉ sự u uất của mối tình vô vọng đã được “hóa giải”? Hay là một dự cảm còn đi xa hơn: mọi khát vọng yêu đương muốn vượt qua bức thành đẳng cấp chung quy đều khó thành?” (tr. 2515). Người đọc cảm thấy được bên trong cái nhìn tinh tường, thấu suốt, còn có cả tình cảm nhân ái, công bằng.
6. Về mặt phương pháp, Nguyễn Đổng Chi dường như muốn lưu ý bạn đọc rằng chớ nên vì yêu cầu thời thượng mà gán cho truyện dân gian những cách nghĩ máy móc, vì truyện dân gian là sự kết tinh của những cảm xúc nghệ thuật hồn nhiên, “sự giãi bày tâm trạng và sự ngụ ý”, là “cái chân thực có tính dân gian” (tr. 2463), chứ không “đóng khuôn” vào chủ đề tư tưởng này hay chủ đề tư tưởng kia như trong văn học viết: “không thể qua truyện cổ tích để để dựng lại một cách chi tiết và chính xác bức tranh hiện thực về các mối quan hệ xã hội cụ thể - lịch sử của người nông dân Việt Nam trong quá khứ hay về các chặng đường tiến triển của xã hội nông nghiệp Việt Nam cổ truyền, vì lẽ truyện dân gian không phải là tài liệu lịch sử, và phương thức tư duy nghệ thuật tự sự dân gian cũng khác với văn học thành văn” (tr. 2462, những chỗ in nghiêng do chúng tôi nhấn mạnh). Trong quan niệm về ý nghĩa hiện thực của truyện cổ tích, tác giả Kho tàng truyện cổ tích Việt Namcó xu hướng xa lạ với lý thuyết phản ánh luận được nhận thức một cách giản đơn từng một thời đã làm lệch chuẩn không ít nhà sưu tầm và tái chế văn học dân gian, khiến họ phải uốn nắn rất nhiều truyện cổ dân gian lý thú vào chỉ một mô hình thô thiển là “đấu tranh giữa người bị áp bức với kẻ áp bức”, “đấu tranh giữa nông dân với địa chủ”, “đấu tranh giữa người dân lương thiện với vua chúa quan lại phong kiến lúc nào cũng mang bộ mặt hung ác và hành vi bạo tàn”... Nguyễn Đổng Chi viết: “Nội dung xã hội của truyện cổ tích trước hết không phải là ý nghĩa xác thực của câu chuyện kể. Nếu muốn tìm giá trị phản ánh hiện thực của loại hình này chắc chắn những điều chúng ta rút ra được sẽ rất đơn giản, không đáp ứng các bước trừu tượng cao của nhận thức, và cũng không giúp ta nắm được sức mạnh chủ yếu của loại hình” (tr. 2462, những chỗ in nghiêng do chúng tôi nhấn mạnh). Theo ông, cái đẹp của truyện cổ tích quyết không phải ở chỗ nó là bức tranh xã hội hiện thực được nghệ thuật hóa, hay đúng hơn không phải lúc nào cũng có thể nhìn ra trong truyện cổ tích hình bóng, tiếng vang của những bức tranh xã hội, trái lại những gì ta đọc thấy trong cái thế giới ngỡ là thực thà chất phác ấy lại mang nhiều ý nghĩa, với nhiều chiều kích tượng trưng hơn ta tưởng, vì đó trước hết là tâm lý dân tộc trải bao nhiêu đời được đúc kết lại để trở thành những motif định hình – cái bất biến – có khả năng truyền tải kinh nghiệm sống từ thế hệ trước cho thế hệ sau: “Chỉ có thể rút ra được ở truyện cổ tích những bài học về kinh nghiệm xử thế, về triết lý sống hóm hỉnh, thâm thúy mà cũng rất thực tiễn của nhân dân, và những dạng thức của đời sống đã được mô hình hóa mà sự từng trải giúp cho người ta nhận ra đấy là dạng thức có thể lặp lại ở đâu đó không phải chỉ một đôi lần. Bên cạnh đó, còn có khá nhiều lời răn về tu dưỡng đạo đức, như rèn luyện tính kiên trì nhẫn nại (Sự tích chim tu hú, số 6), cảnh giác trước bản năng mạnh hơn giáo dục (Sự tích đền Cờn, số 161), dự phòng sự hủ hóa của tâm tính (Thử thần và Miêu thần, số 140), ngăn ngừa trước cơn bão của dục vọng (Ngậm ngải tìm trầm, số 187), v.v. Và tất cả, soi chiếu cho nhau, sẽ tạo nên chân lý của cái đẹp trong cổ tích, là cái chân thực có tính chất dân gian của truyện cổ tích Việt Nam” (tr. 2462-2463). Như vậy, tuy không phủ nhận nội dung xã hội của truyện cổ tích nhưng Nguyễn Đổng Chi vẫn nhấn mạnh hiện thực tâm lý dân tộc mới là giá trị chủ yếu, là đích đến cao nhất của truyện cổ tích Việt Nam: “Chính vì thế, cũng có thể nói, trong quá trình nhào nặn nên từ chất liệu của đời sống, của cảnh quan và địa hình địa mạo đất nước, truyện cổ tích, kể cả những truyện vay mượn của nước ngoài, đã kết tinh đậm nét tâm lý dân tộc, nhất là tâm lý người bình dân Việt Nam. Nhận diện đặc điểm truyện cổ tích không thể quên điều ấy, và mấu chốt của quy luật “bản địa hóa” trong truyện cổ tích Việt Nam cũng là ở chỗ ấy” (tr. 2463, những chỗ in nghiêng do tác giả nhấn mạnh). Một vài điểm xuyết sơ lược như trên của Nguyễn Đổng Chi khiến ta có thể nghĩ rằng không phải ông không từng biết đến lý thuyết phân tâm học của phương Tây trong quan niệm về hiện thực của truyện cổ tích: có một phân số truyện cổ tích nào đấy chẳng hề bắt nguồn từ đời sống thực tại mà được hình thành nên từ trong sâu thẳm tâm lý chủ thể sáng tạo là cộng đồng dân tộc, với những thói quen riêng, tín ngưỡng riêng, ngay cả sự sợ hãi hay niềm đam mê, dục vọng từ trong vô thức, nó chi phối từng thành viên cộng đồng ở tuổi còn ấu thơ cho đến lúc già lão... Tuy nhiên ông chỉ chạm đến thoáng qua rồi ngừng lại, vì đó không phải là sở thích, sở trường, hoặc điều kiện lúc bấy giờ chưa cho phép ông đi sâu.
Điều lưu ý là bất kỳ nhận xét nào dù chi tiết của Nguyễn Đổng Chi cũng được đặt trong hệ thống, nên ít khi có tính cách tùy tiện. Nói đến vai trò tích cực của nhân vật nữ trong truyện cổ tích Việt Nam, ông khảo sát hàng loạt motif phụ nữ ở nhiều vị thế và cách ứng xử khác nhau, qua đấy dựng lên một mô hình chung cho hai kiểu người nữ tiêu biểu: người nữ công phá trật tự xã hội và người nữ bảo toàn trật tự ấy. Nhưng trong mỗi kiểu lại có thể phân biệt được ba cấp độ:
¤ Người nữ công phá: nữ thức tỉnh / nữ quái / nữ kiệt
¤ Người nữ bảo toàn: nữ nhẫn nại / nữ trí / nữ liệt
Ông đặt họ trong các tương quan đối sánh cụ thể và kết quả là một hệ thống nhân vật nữ với đủ sắc thái và cung bậc của tính cách nữ giới được thâu tóm khá trọn vẹn. Hầu như không một dạng nhân vật nữ nào của cổ tích đi ra ngoài những mô hình này.
Cũng gần như thế, trong khi đi tìm mối liên quan giữa nhiều nhóm truyện cổ tích với đặc điểm riêng của thiên nhiên đất nước tại những vùng miền sản sinh ra chúng, Nguyễn Đổng Chi đã dần dần phát hiện ra một quy luật chung cho “mối quan hệ kép” giữa cổ tích và cuộc đời: đời sống cung cấp cho truyện cổ tích những cốt truyện sinh động, những câu nói vần vè, những thành ngữ, tục ngữ ngầm chứa “mã” cốt truyện... rồi đến lượt nó, truyện cổ tích lại cung cấp trở lại cho đời sống những địa danh và nhân vật truyền thuyết (núi Vọng Phu, sông Kim Ngưu, hồ Hoàn Kiếm, đầm Mực...), những hình dung từ rất giàu sức biểu cảm (nói cuội, mưa ngâu, bù chì, đứa con trời đánh...), những câu nói vần vè, thành ngữ, tục ngữ (Nợ như chúa Chổm, Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho...) đã được bổ sung và “giải mã”... Nguyễn Đổng Chi kết luận: “Cuộc sống trở lại bắt chước cổ tích hay là sức mạnh của nghệ thuật dân gian đã kích thích sự sáng tạo trong tâm lý quần chúng một lần thứ hai, để tiếp nhận và cải biên nghệ thuật cổ tích, làm giàu thêm cho các hình thức của đời sống” (tr. 2449-2450).
Nguyễn Đổng Chi còn dành cả một chương cuối để đối chiếu tỉ mỉ cấu trúc nghệ thuật tức là quan hệ tiếp biến liên hoàn về “típ” và môtip giữa truyện cổ tích Việt Nam và các “kho truyện” mà nó từng chịu ảnh hưởng sâu nặng: truyện cổ tích Trung Quốc, truyện cổ tích Ấn Độ, truyện cổ tích các dân tộc anh em. Từ những sơ đồ mà truyện cổ tích Việt Nam tiếp thu, ông đi đến xác định những sơ đồ đồng dạng đã thông qua hoán cải và tiến đến chỗ khu biệt được những dạng sơ đồ hoàn toàn bản địa. Đây quả là một thao tác vất vả, công phu nhưng cũng hết sức lý thú, mặc dầu ở Nguyễn Đổng Chi đấy vẫn chỉ là những bước đi đầu. Nó hứa hẹn một triển vọng tốt đẹp là vạch ra được một cách tương đối hợp lý con đường vận động tự thân của cổ tích dân tộc, trên thực tế lâu nay vẫn bị chìm khuất giữa bức tranh lịch sử phức hợp với những quan hệ giao thoa, chồng chéo khó lòng bóc tách của loại hình cổ tích ở khu vực Đông Dương và Đông Nam Á mà lực đẩy cũng như lực hút quan trọng vẫn là hai dòng truyện Trung Hoa và nhất là Ấn Độ.
*
*      *
Vấn đề cổ tích Việt Nam là vấn đề lớn. Tiếp thu những gì mà Nguyễn Đổng Chi gợi ra hay gửi gắm trong bộ sách còn là câu chuyện lâu dài cho các thế hệ cổ tích học sau này. Điều có thể nhấn mạnh ở đây, như một bài học kinh nghiệm của Nguyễn Đổng Chi, là ông rất trường vốn, cái vốn thật sự về phương Đông và phương Tây, vốn Hán học và sử học, và cả vốn tri thức thực tiễn, trong khi lý giải, trình bày văn hóa dân tộc. Từ cái vốn ấy mới có thể nói đến một sự thấm nhuần tính cách dân tộc, đặc trưng dân gian trong cảm hứng của ngòi bút nghiên cứu. Điều đó khiến ta đọc truyện cổ tích của Nguyễn Đổng Chi mà càng thấy tâm hồn mình gần gũi với nhân dân, đất nước, với cuộc sống cập nhật hơn, tuy ông không dùng bất kỳ một từ nào nói về “đấu tranh”, “lật đổ”, “chống áp bức giai cấp”, “địa chủ với nông dân”... như nhiều tập truyện cổ dân gian khác. Và đọc phần nghiên cứu của ông, thấy ông thật sự tắm mình trong cổ tích; “ông đã nắm bắt đúng và sâu nghệ thuật của một loại hình, tuy ông không dựa hẳn vào một lý thuyết ngoại lai nào. Tất nhiên, khi nghe những người khác kể, phân tích truyện cổ, được hiểu thêm các phương pháp đó đây thì cũng là điều hay, không ai chối cãi”(8).
H.T.
Nguồn : Nguyễn Đổng Chi - Người miệt mài tìm kiếm các giá trị văn hóa dân tộc. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996; tr. 192-205. Tác giả có bổ sung (2015).
Chú thích:
(*) Nhà nghiên cứu văn hóa, Hà Nội.
1. Tập I và II, NXB Văn sử địa, H, 1958. Tập III, NXB Sử học, H, 1960. Tập IV, NXB Khoa học xã hội, H, 1975. Tập V, NXB Khoa học xã hội, H, 1982.
2. Trên Tập san trường Viễn đông bác cổ (B.E.F.E.O), Paris, số 1-1964, có hai bài: của Maurice Durand phê bình Tập I Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, và của Lê Văn Hảo, phê bình Tập I và II.
3. Lê Văn Hảo, Đọc “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam”; B.E.F.E.O, Paris, 1964, đã dẫn. Tạ Phong Châu, Đọc “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam”Tạp chí Văn học, số 2-1975 (ký tên Anh Phong).
4. Viện Văn học xuất bản trọn bộ 5 tập in theo bản bổ sung chỉnh lý của tác giả do gia đình lưu giữ. Các số trang trong bài của chúng tôi đều ghi theo lần in này.
5. Nguyễn Từ Chi dịch, in ở cuối Tập I, bản in 1993.
6. Đinh Gia Khánh - Chu Xuân Diên, Văn học dân gian, Tập II, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H, 1973; tr. 93.
7. Đinh Gia Khánh - Chu Xuân Diên, Văn học dân gian, Tập II, Sđd; tr. 93.
8. Vũ Ngọc Khánh, Đọc lại “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” (nhân bộ sách toàn tập được công bố sau mười năm tác giả Nguyễn Đổng Chi đi vào cổ tích). Văn nghệ, Hà Nội, số 22 (28-5-1994); tr. 3.
H.T